| Written By Giáo sư Andrew McDonald | |
| Contents : Chính sách và quản lý dịch vụ thư viện | |
| Skip to Navigation | |
| 6.1. | Nguyên tắc chung |
| 6.2. | Pháp chế và chủ trương của nhà nước |
| 6.2.2. | Đạo luật cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật, 1995 |
| 6.2.6. | Quy chế thực hiện |
| 6.2.7. | Đạo luật Khuyết tật và Giáo dục đặc biệt |
| 6.2.8. | Đạo luật Nhân quyền 1998 |
| 6.2.9. | Báo cáo trong ngành giáo dục |
| 6.2.10. | Hội đồng Quỹ Giáo dục đại học Anh quốc |
| 6.2.12. | Tổ chức kiểm soát chất lượng giáo dục |
| 6.2.14. | Đào tạo bồi dưỡng |
| 6.2.15. | Tiêu chuẩn thư viện công cộng |
| 6.2.19. | Hòa nhập xã hội |
| 6.2.20. | Thời đại tri thức |
| 6.2.21. | Mạng giáo dục quốc gia |
| 6.2.22. | Mạng lưới cho mọi người |
| 6.3. | Chính sách và việc lập kế họach |
| 6.3.9. | Đảm bảo chất lượng |
| 6.3.10. | Ngân sách |
| 6.4. | Đánh giá nhu cầu |
| 6.5. | Sử dụng dịch vụ |
| 6.6. | Phát triển dịch vụ |
| 6.7. | Xây dựng vốn tài liệu và cho mượn liên thư viện |
| 6.8. | Quyền tác giả |
| 6.9. | Phát triển đọc |
| 6.10. | Sử dụng hiệu quả nhân sự |
| 6.11. | Tập huấn nhân viên |
| 6.12. | Cộng tác |
| References. | Tài liệu tham khảo |
| 6.1.1. |
Trách nhiệm của nhà quản lý rất quan trọng trong việc đảm bảo cho mọi người đều có thể sử dụng dịch vụ thư viện kể cả những người khiếm thị. Brophy and Craven (1999a) chỉ ra ba nguyên tắc dưới đây: |
Back to Chapter index | |
| 6.1.2. |
Mục đích quản lý chính là hiểu được nhu cầu và khó khăn mà người khiếm thị gặp phải để cung cấp các dịch vụ thích hợp có thể sử dụng được và để tập huấn nhân viên thư viện nhận thức vấn đề một cách có hệ thống. Tất cả người sử dụng thư viện, kể cả người khiếm thị phải được chọn lựa dịch vụ, tính đa dạng về cách thức học hỏi và yêu cầu của họ phải được nhận biết. Nhân sự và thái độ phục vụ chính là tâm điểm của bộ máy phục vụ có hiệu quả và nhà quản lý phải có trách nhiệm đối với người khiếm thị và bất kỳ người khuyết tật nào khác, cho dù họ là nhân viên hay là độc giả thư viện. |
Back to Chapter index | |
| 6.1.3. |
Quản lý dịch vụ thư viện của người khiếm thị không khác gì so với các cách quản lý chung cả: đơn giản là tầm quan trọng của dịch vụ thư viện cho NKT phải được nhận biết trong lúc phục vụ. Nhà quản lý phải xây dựng chính sách rõ ràng hay những quy tắc thực hành phục vụ người khuyết tật có mục đích, mục tiêu, kế họach chiến lược, quy trình, sắp xếp để phân bổ các nguồn lực cần thiết. Chính sách này nên có cả mục tiêu kết quả thực hiện phù hợp, quy trình giám sát và phân công trách nhiệm, và phải kiểm tra đánh giá chất lượng dịch vụ. Khuyến khích và hợp tác cũng là những yếu tố quan trọng. |
Back to Chapter index | |
| 6.1.4. |
Quản lý dịch vụ hòa nhập cho người khiếm thị sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ các nguồn lực, từ nhân sự, tiền bạc, hệ thống tự động hóa, vốn tài liệu, công nghệ thông tin, dịch vụ và trụ sở. Những thách thức trong quản lý gồm có các vấn đề liên quan đến pháp chế, dân số, tác nhân gây khiếm thị, hình thức đọc tùy chọn, cung cấp tài liệu chuyển dạng, mục lục quốc gia, dịch vụ mượn liên thư viện, thiết kế điều chỉnh dịch vụ và công nghệ hỗ trợ, ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông, quảng cáo, dịch vụ thông tin và tư vấn. |
Back to Chapter index | |
| 6.1.5. |
Nên coi kế hoạch xây dựng dịch vụ không rào cản cho người khuyết tật là hoạt động chính, cơ bản và thường xuyên. Không nên coi đó chỉ là một dạng công tác đặc biệt, tùy ý và ở hàng thứ yếu. Khi lập kế hoạch phải lưu ý đến mảng dịch vụ cho người khuyết tật bất cứ lúc nào có thể thì tốt hơn là chỉ điều chỉnh bổ sung dịch vụ đặc biệt sau khi đã hoàn tất việc lập kế hoạch tổng quát. |
Back to Chapter index | |
| 6.1.6. |
Dịch vụ cho người khiếm thị nên thiết thực và có khả năng duy trì. Tuy nhiên, cách thức thực hiện cần thực tế hợp lý và có sự bắt buộc phải cân nhắc giữa nguyện vọng của người sử dụng và tính khả thi. Khi bị vướng mắc thì nên tìm các biện pháp thay thế. Nhà quản lý không thể bất kỳ lúc nào cũng giải quyết được mọi nhu cầu cho tất cả người sử dụng và thực tế là có khi những yêu cầu của họ bị mâu thuẫn lẫn nhau. Ví dụ, nếu trang bị kệ sách thích hợp phục vụ độc giả ngồi xe lăn thì sẽ bị các độc giả khác than phiền vì các kệ sách bị hạ thấp xuống (Parker, 2000). |
Back to Chapter index | |
| 6.1.7. |
Nhà quản lý phải trau dồi ý thức phục vụ người khiếm thị một cách thành công, bao gồm những yếu tố chính sau:
a) Vị trí ưu tiên và trách nhiệm của đơn vị chủ quản; e) Nhân sự phục vụ người khuyết tật |
Back to Chapter index | |
| 6.1.8. |
Để tạo được sự trao dồi tích cực của ý thức phục vụ người khuyết tật, nhà quản lý phải khuyến khích và làm rõ quan điểm của xã hội về người khuyết tật, nhấn mạnh rằng đây là vấn đề xã hội hơn là vấn đề về khuyết tật hình thể. Người khuyết tật bị khiếm khuyết là do môi trường phục vụ của chúng ta. Ví dụ, nếu tất cả cửa ra vào đủ lớn cho xe lăn thì mọi chuyện đều ổn. Nhà quản lý cần phải đối mặt với những quan niệm rập khuôn về người khuyết tật chỉ coi họ là một nhóm người có vấn đề bất bình thường chờ sự giúp đỡ của những người từ thiện hay các nhà chuyên môn khác. Chính sách nên luôn tính đến khuyết tật và những khó khăn đặc biệt trong học tập, như người bị chứng khó đọc, rối loạn thị lực và hội chứng Irlen's. Nhà quản lý cần thận trọng trong khi giao tiếp hay khi nói về người khuyết tật. |
Back to Chapter index | |
| 6.1.9. |
Chương này nói nhiều về vấn đề giáo dục đại học, khái niệm này được đưa vào nhiều loại hình thư viện trong “Thời đại của Học tập mới” (D.f.E.E, 1998). Tương tự, Kinnell (2000) khuyến nghị nên xây dựng và phát triển dịch vụ cho người khiếm thị ở các thư viện công cộng. Khi nói đến việc mở rộng giáo dục đại học là nói về tính đa dạng trong thế giới con người. Hiện nay, giới học sinh sinh viên gồm đủ mọi thành phần: sinh viên học bán thời gian, người cao tuổi, học từ xa, học mở và học suốt đời. Sinh viên dùng đủ loại các dịch vụ thông tin, không chỉ tại thư viện trường, mà còn ở các thư viện của trường khác, thư viện công cộng khác trong mạng lưới thư viện quốc gia. Cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật phải được nhìn dưới góc độ đầy đủ, công bằng, hỗ trợ suốt đời và mở rộng ra bên ngoài. Dịch vụ thích hợp cũng là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và tồn tại của thư viện và của cả đơn vị chủ quản vì ngày càng có thêm nhiều người khuyết tật có cơ hội học tập trong thư viện. |
Back to Chapter index | |
| 6.1.10. |
Giống như tất cả các cuộc thảo luận về công tác quản lý, không thể giải quyết vấn đề một cách trọn vẹn và dự báo được hết các tình huống nhưng phải tìm cách chỉ ra những việc quan trọng và tìm cách khắc phục những khó khăn thách thức nảy sinh trong quá trình hoạt động. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.1. |
Nhà quản lý phải nhận thức đầy đủ về vấn đề pháp chế và chiến lược phát triển ảnh hưởng đến người khuyết tật. Điều này không chỉ làm rõ trách nhiệm pháp lý mà còn đóng góp vào việc xây dựng chính sách và giúp các nhà quản lý điều hành công tác theo đúng tinh thần của luật pháp. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.2. | Đạo luật cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật, 1995 |
| Luật cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật (Great Britain. Acts, 1995) yêu cầu các nhà cung cấp các dịch vụ công như thư viện phải phục vụ công bằng cho mọi đối tượng. Theo luật, người khuyết tật không phải trả thêm một khoản phí nào cả cho các dịch vụ họ sử dụng, ví dụ miễn phí đối với các yêu cầu cung cấp sách chữ lớn hay chữ Braille. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.3. |
Theo hiệu lực thực thi D.D.A, tính đến năm 2004, các nhà phân phối dịch vụ phải đáp ứng nhu cầu của “bất cứ ai có khiếm khuyết về thần kinh, tâm lý hay hình thể phải chịu những ảnh hưởng xấu lâu dài và vĩnh viễn đến khả năng của họ trong hoạt động thường ngày". Vì thế, thư viện phải xây dựng trụ sở không rào cản, các nguồn lực có thể truy cập được (như phương tiện đọc và tài liệu chuyển dạng) và các dịch vụ sẵn sàng cho bất cứ ai không thể tự đi đến thư viện. Nhà quản lý thư viện phải kiểm tra lại chi phí thực hiện hoạt động điều chỉnh dịch vụ thư viện trước năm 2004 và lập kế hoạch tài chính để thực hiện được những hoạt động đó. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.4. |
Nhà quản lý phải tính đến nhu cầu của những người nằm ngoài diện quy định về người khuyết tật của DDA ví dụ đó là người cao tuổi thường có vấn đề về giảm thị lực nhưng vẫn có thể đọc tài liệu in ấn hay tự đi đến thư viện. Có trường hợp, những người có vấn đề về thị lực nhưng không nặng đến độ có thể đăng ký là người khiếm thị hay mù hoặc những người chưa đăng ký vào hội người mù thì tất cả các diện trên vẫn cần đến sự giúp đỡ và hỗ trợ truy cập thông tin của thư viện. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.5. |
Khi DDA mới ban hành, có nhiều trường hợp khiếu kiện nhà quản lý và nổi cộm hơn cả các cuộc đấu tranh sau khi Đạo luật chống phân biệt chủng tộc và giới tính ban hành được một năm. Phân nửa sự vụ đã được sắp xếp để phân xử. Mặc dù vẫn có một số điểm chưa rõ ràng trong vấn đề liên quan giáo dục cho đến khi Đạo luật Người Khuyết tật và Nhu cầu đặc biệt công bố vào năm 2001, nhưng chính thức đã mở rộng ra khối thư viện trường đại học cũng phải thực thi luật, ít nhất là phải chấp nhận tổ chức phục vụ rộng rãi hơn cho công chúng và một số khác thì cam kết mở rộng việc truy cập và học tập suốt đời. Báo cáo về nhân quyền cho người khuyết tật của Ban Điều phối hoạt động vì quyền lợi người khuyết tật DfEE’s (1999) khuyến cáo là giáo dục đại học nên được đưa vào luật pháp về nhân quyền trong tương lai để “đảm bảo quyền lợi của người khuyết tật được đầy đủ và thực thi” và pháp chế như vậy phải đảm bảo được Quy chế Thực hiện theo các luật định mới. Một thông tư hướng dẫn của chính phủ về việc cung cấp dịch vụ giáo dục cho người khuyết tật (DfEE, 2000) khẳng định rằng phân biệt đối xử với người khuyết tật trong hoạt động giáo dục là vi phạm pháp luật. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.6. | Quy chế thực hiện |
| Để đánh giá kết quả thực hiện DDA, chính phủ đã thành lập Ủy ban Bảo vệ Quyền lợi Người khuyết tật. Ủy ban này đã ban hành Quy chế thực hiện làm rõ trách nhiệm của nhà cung ứng dịch vụ, được trình bày như sau “Không có gì là trái với luật pháp khi nỗ lực tìm cách hỗ trợ người khuyết tật bằng việc thông tin cho họ những đơn vị có thể có dịch vụ phù hợp với yêu cầu của họ hơn, nhưng cần thận trọng vì nếu dù với bất cứ động cơ hay lý do nào mà từ chối phục vụ người khuyết tật đều có thể bị coi là phạm luật. Ví dụ, nếu một người khuyết tật muốn có một dịch vụ nào đó, thì nhà cung ứng không thể từ chối anh ta/ cô ta chỉ đơn giản là vì đã có một nhà dịch vụ khác có thể phục vụ người đó tốt hơn họ. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.7. | Đạo luật Khuyết tật và Giáo dục đặc biệt |
| Khi gặp những điều gì chưa rõ trong việc ứng dụng DDA vào công tác giáo dục thì nên tham khảo Đạo luật Khuyết tật và Giáo dục đặc biệt (Great Britain. Đạo luật, 2001). Đạo luật SEND (thỉnh thoảng được gọi là DDA Phần IV) quy định trách nhiệm pháp lý của tất cả 16 loại đơn vị tổ chức giáo dục và đào tạo nếu họ phân biệt đối xử đối với sinh viên khuyết tật. Các đơn vị được yêu cầu phải đánh giá công tác đảm bảo việc sử dụng thư viện cho người khuyết tật và họ sẽ bị khép vào việc phạm pháp nếu người khuyết tật ít được ưu đãi hơn hay gặp khó khăn khi sử dụng dịch vụ. Điều quan trọng là Đạo luật này yêu cầu các tổ chức giáo dục phải chăm lo nhu cầu của người khuyết tật và điều chỉnh các dịch vụ trước cho thích hợp với nhu cầu đa dạng của các cá nhân.
Các nhà tổ chức giáo dục phải mãi đến tháng 9 năm 2002 mới thực hiện theo các điều khoản của Phần III của DDA và tiến hành từng bước để thay đổi các quy tắc thực hành, chính sách, quy trình và thủ tục nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận dịch vụ dễ dàng. Đến tháng 9 năm 2003 họ mới có những điều chỉnh thích hợp có những phương tiện và dịch vụ hỗ trợ. Cho đến tháng 9 năm 2005, họ phải tính đến kế hoạch điều chỉnh về điều kiện trụ sở. Anh, xứ Wales và Scốtlen đã áp dụng, tuy nhiên ở Bắc Ailen thì không hay có thể nói là chưa thực hiện.
|
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.8. | Đạo luật Nhân quyền 1998 |
| Đạo luật Nhân quyền đã đưa luật của Anh quốc vào các khoản nhất định trong Hiệp ước Châu Âu về Nhân quyền. Đạo luật này có hiệu lực ở Anh quốc từ tháng 10 năm 2000 yêu cầu các cơ quan dịch vụ công đảm bảo “Quyền giáo dục” và một số quyền lợi nhất định khác. Đạo luật này có kèm cả “các điều cấm phân biệt đối xử” khi tham gia vào công ước này. Các hàm ý trong Đạo luật Nhân quyền tuy nhiên chưa được làm rõ và đầy đủ. Có sự tranh luận về những ngụ ý về quyền giáo dục trong Đạo luật Nhân quyền. Mức độ chịu trách nhiệm của các tổ chức trong vấn đề phân biệt đối xử cũng không cụ thể hóa rõ ràng. Một điều đáng nói là vấn đề mang tính bất cân xứng, nghĩa là người ta cảm nhận là quyền lợi của một cá nhân là nhỏ khi so sánh với quyền lợi của nhóm hay cộng đồng lớn hơn... Tuy nhiên quy định của Luật Nhân quyền đã triển khai thành công ở các nước khác để làm cơ sở đem đến nhiều quyền lợi hơn cho sinh viên khuyết tật. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.9. | Báo cáo trong ngành giáo dục |
| Báo cáo chuyên đề “Giáo dục đại học trong xã hội” (Hội đồng quốc gia về các điều khoản giáo dục đại học muốn tham gia đầy đủ vào chương trình giáo dục đại học đã không được tính đến. Nó khuyến khích các tổ chức tài trợ nên đầu tư cho các đơn vị phục vụ sinh viên khuyết tật. Viện Nghiên cứu Giáo dục cũng phải đánh giá nhu cầu học tập của sinh viên khuyết tật trong báo cáo kế hoạch. Từ khi thực hiện các đề nghị này chính phủ đã mở rộng phạm vi trợ cấp cho sinh viên khuyết tật. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.10. | Hội đồng Quỹ Giáo dục đại học Anh quốc |
| Theo “Hướng dẫn cung cấp các dịch vụ cơ bản cho sinh viên khuyết tật ở trường đại học” (HEFCE, 1999), Hội đồng Quỹ tài trợ chỉ ra các dịch vụ cơ bản cho người bị khuyết tật, yêu cầu mỗi trường đại học cam kết hỗ trợ hoàn toàn cho người khuyết tật trong chính sách của nhà trường, tổ chức dịch vụ hỗ trợ và kế hoạch phải thực hiện trong vòng 3 năm. Thời gian đầu, người khuyết tật học đại học sẽ theo chuẩn của các trường và họ có thể đánh giá được dịch vụ của nhà trường. Nếu nhà trường không còn hỗ trợ sinh viên khuyết tật nữa thì họ sẽ bị đánh rớt khỏi bảng xếp hạng của HEFCE và sẽ chịu hậu quả là bị cắt giảm kinh phí, không được xếp vào hạng trường chuẩn và sẽ mất tiếng tăm trong thị trường kinh doanh giáo dục cạnh tranh ngày càng một gay gắt hơn. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.11. |
Các nhà quản lý phải xem xét nơi nào và bằng cách nào để tổ chức các dịch vụ thư viện phù hợp với các khía cạnh của vấn đề chính mà HEFCE đã xác định. Cũng như cam kết đảm bảo dịch vụ cho người khuyết tật đầy đủ, còn có một số các vấn đề khác như chính sách và thủ tục, sắp xếp đánh giá nhu cầu, dịch vụ hỗ trợ, giao tiếp và chính sách hướng dẫn, sắp xếp để giám sát; thái độ phục vụ của các nhân viên sau tập huấn, chính sách và quy trình kiểm tra, chương trình xây dựng đội ngũ nhân sự, nhân viên nòng cốt, chiến lược quy hoạch sử dụng quỹ đất và thủ tục kiểm tra. HEFCE (2001) gần đây đã ban hành một số hướng dẫn “cải thiện trụ sở nhà trường không rào cản”. Điều này nhằm để thông tin cho các trường đại học cần lưu ý đến xu thế cải thiện qui hoạch thiết kế để giúp sinh viên và nhân viên có khuyết tật dễ đi lại và sử dụng hơn. Họ phải điều chỉnh kế hoạch quy hoạch trong hiện tại và dự tính cho cả trong tương lai. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.12. | Tổ chức kiểm soát chất lượng giáo dục |
| Tổ chức này đã phát hành “Chuẩn thực hành giáo dục bậc đại học cho sinh viên khuyết tật” (QAA, 1999). Dựa trên các nguyên tắc cơ bản về chính sách, quy trình và hoạt động. Các cơ quan giáo dục phải xem xét việc trang bị các phương tiện hỗ trợ sinh viên khuyết tật tham gia đầy đủ các hoạt động học tập và xã hội trong nhà trường. Cam kết này phải được thể hiện trong mục tiêu chiến lược phát triển và phải có sự điều phối từ nhiều nguồn lực trong cơ quan. Sinh viên khuyết tật phải được tiếp cận các hoạt động thực nghiệm như bạn bè mình và có nguồn hỗ trợ thích hợp thay thế và sự chuẩn bị này là điều kiện quan trọng và rộng rãi chứ không phải chỉ là một phần phụ thêm vào. Chuẩn này không phải được lập ra như bản cam kết hành động vì người khuyết tật hay là một cẩm nang hướng dẫn thực hành tốt nhất, nhưng những tiêu chuẩn này giúp nhà trường hướng đến mục tiêu phải đạt được và là một công cụ hữu ích để dựa vào đó nhà trường biết xác định hoạt động phục vụ công tác giảng dạy của mình còn có những thiếu sót nào. Hiện nay các vấn đề liên quan nến sinh viên khuyết tật đã được Tổ chức đánh giá chất lượng đưa vào bảng khảo sát đánh giá chất lượng giảng dạy và học tập ở các trường đại học. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.13. |
Theo 24 điểm trong bộ chuẩn đó, nhà quản lý phải xem xét các dịch vụ thư viện có liên quan như thế nào. Trong đó gồm có những vấn đề như môi trường vật lý; thông tin cho sinh viên; giao tiếp giữa sinh viên và nhân viên nhà trường, tuyển chọn sinh viên, đăng ký học; thủ tục hướng dẫn sinh viên; hoạt động học tập giảng dạy và nghiên cứu; thi cử; quy trình đánh giá và thực hiện; phát triển nhân sự; trang thiết bị chung và chuyện dụng hỗ trợ; tham khảo ý kiến từ giới chuyên môn và độc giả; tổng kết và đánh giá hoạt động. Chuẩn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của một số vấn đề cốt lõi như thiết lập chính sách và quy trình, chiến lược phát triển, phân bố nguồn lực, đảm bảo môi trường vật lý không rào cản; cung cấp các dịch vụ truy cập được để có thể hướng dẫn và hỗ trợ việc học tập; xây dựng nhận thức và tập huấn tòan thể nhân viên hiểu và biết cách phục vụ người khuyết tật. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.14. | Đào tạo bồi dưỡng |
| Nhiều năm qua, Hội đồng Quỹ giáo dục đào tạo và bồidưỡng đã tài trợ cho sinh viên khuyết tật hay những người gặp khó khăn trong việc học. Họ phải xác định các yêu cầu về nhân sự và các nguồn lực cần thiết khác để giúp sinh viên có thể theo đuổi chương trình học mà không bị những cản trở bất hợp lý. Nguồn tài trợ dựa vào bảng đánh giá nhu cầu và cam kết của nhà trường trong hồ sơ đăng ký nhập học của sinh viên. Chi phí này được thỏa thuận theo cơ chế hỗ trợ bổ sung của FEFC. Vì thế, ngày càng có nhiều trường cần chuyên gia chuyên trách trong việc xác định nhu cầu cần hỗ trợ của sinh viên bị nhiều dạng khuyết tật khác nhau trong đó có cả người khiếm thị. Thư viện/ trung tâm học liệu phải chuẩn bị các điều kiện cung cấp công nghệ hỗ trợ cho sinh viên. Nguồn lực hỗ trợ nhu cầu của sinh viên khiếm thị cần phải kết hợp với các bộ phận dịch vụ khác cho sinh viên như dịch vụ nguồn lực học tập, hỗ trợ sinh viên và hướng dẫn sinh viên học tập. b) chương trình giảng dạy hòa nhập, đảm bảo khả năng và cơ hội tiếp cận; c) dự báo chính xác nhu cầu học tập cá nhân; d) nhân viên phải có kiến thức hiểu biết về khái niệm “học tập hòa nhập”.
|
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.15. | Tiêu chuẩn thư viện công cộng |
| Chính phủ đã xây dựng tiêu chuẩn đánh giá nhằm cải thiện và giám sát chất lượng dịch vụ của thư viện công cộng được yêu cầu phải lập kế hoạch hàng năm hay 3 năm làm rõ chính sách và chương trình phát triển dịch vụ cho Người khuyết tật trong đó có người khiếm thị. Kế hoạch năm phải đề ra các tiêu chí đánh giá, trong đó chú ý đến chính sách hòa nhập xã hội. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.16. |
Tiêu chí đánh giá phải dựa trên các tiêu chuẩn mà chính phủ đã thông qua. Báo cáo khảo sát của LISU về dịch vụ thư viện cho người khiếm thị (Kinnell và những người khác, 2000) trình bày các hoạt động dịch vụ này rất rõ ràng và cụ thể. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.17. |
Chính phủ hiện nay đã xác định được những gì mà độc giả có thể mong đợi được hưởng thụ và những gì mà nhà quản lý địa phương phải phục vụ. Ấn bản tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên của DCMS (2001) buộc thực thi từ tháng 4 năm 2001. Quốc hội xứ Wales cũng đã ban hành hàng loạt các tiêu chuẩn yêu cầu các dịch vụ thư viện cho người khuyết tật được quy định rõ ràng và cụ thể hơn trong tiêu chuẩn của DCMS. Nội dung của các tiêu chuẩn này và báo cáo về hiện trạng áp dụng tiêu chuẩn này tại Scốtlen và Bắc Ailen sẽ được trình bày trong chương 16. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.18. |
Bảng chỉ tiêu “Giá trị tốt nhất” của chính phủ (DETR, Tháng 5 năm 2000) cũng yêu cầu các nhà chức trách phải đánh giá việc thực hiện cơ bản về mọi lĩnh vực trong dịch vụ và chi tiêu của địa phương. Những đánh giá này nhằm để xem lại cách thức phân phối dịch vụ hiện nay, so với những hoạt động cơ bản được chỉ định phát triển, tham khảo ý kiến nhận xét của tất cả các thành viên quản trị và nêu lên được tính đặc trưng trong dịch vụ của địa phương. Việc tham khảo ý kiến là điều quan trọng, phải mời được cả những người chưa sử dụng dịch vụ thư viện cũng như các độc giả thường xuyên nhận xét đóng góp. Bảng đánh giá này cũng nhằm xác lập hệ thống thanh tra giám sát chất lượng cũng như số lượng dịch vụ mà các nhà chức trách địa phương cam kết thực hiện. |
Back to Chapter index | |
| 6.2.19. | Hòa nhập xã hội |
| Ngày càng có nhiều tiêu chuẩn quốc gia để thực hiện được chủ trương hoà nhập xã hội. Các thư viện từ lâu đã tranh cãi là họ phục vụ cho tất cả hay thư viện đóng vai trò chính để phát triển một xã hội hòa nhập. Báo cáo của DCMS đã làm rõ việc này “Thư viện dành cho mọi người: một xã hội hòa nhập trong thư viện công cộng” (DCMS, Tháng 10 năm 1999) và tuyên bố của LIC “Thư viện: bản chất của sự hòa nhập” (LIC, Tháng 3 2000). Học tập suốt đời cũng được xem là mục tiêu chính của chủ trương hòa nhập xã hội, để giúp người dân có khả năng làm việc, cạnh tranh, làm tốt trách nhiệm của một công dân và hưởng thụ di sản văn hóa và tri thức. Nếu không, thật sự sẽ có một hiểm họa đang đe dọa xã hội vì sự hình thành tầng lớp hạ lưu trong xã hội, trong đó chắc chắn sẽ có người khiếm thị vốn là những người bị quên lãng và bị loại khỏi hoạt động tiếp cận thông tin và kiến thức, hình thành một khoảng cách biệt lớn giữa những người giàu và nghèo kiến thức. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.20. | Thời đại tri thức |
| Khái niệm học tập suốt đời vì thế hiện nay đang trở thành mục tiêu hàng đầu của chính sách phát triển quốc gia và ngày càng có vị thế quan trọng trong mục tiêu phục vụ của ngành thư viện. Greenbook về “thời đại tri thức” (D.f.E.E, 1998), đã đưa ra cam kết của chính phủ về vấn đề “tri thức cho cuộc sống”, xác định tầm quan trọng của việc giáo dục thường xuyên và nuôi dưỡng trí tưởng tượng và tâm hồn cho người dân” và xây dựng một nền văn hóa học tập vì sự tiến bộ của xã hội. Hỗ trợ cho việc học tập suốt đời và văn hóa học phải được thực hiện một cách công bằng và bình đẳng và người khuyết tật có nhiều ý kiến khác nhau về cách thức phục vụ để họ có thể tiếp cận sử dụng nguồn lực thư viện và thông tin. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.21. | Mạng giáo dục quốc gia |
| Cụ thể là vào năm 2002, N.G.f.L (D.f.E.E, 1997) có ý định thành lập một mạng học tập dạng web phủ toàn quốc cho học viên, nhà giáo và các cơ quan, liên kết các nguồn lực của toàn hệ thống trường và thư viện Anh quốc. Để thực hiện được việc này phải có biện pháp thực sự của nhà nước, quan tâm đến các vấn đề về khả năng truy cập cho người gặp khó khăn trong việc đọc chữ in phải được kể đến. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.2.22. | Mạng lưới cho mọi người |
| Báo cáo “Thư viện mới: mạng lưới của toàn dân” (L.I.C, 1997) của Ủy ban Thông tin Thư viện khuyến nghị nên thành lập một mạng lưới học tập quốc gia thông qua nguồn lực liên kết các thư viện công cộng mới” (L.I.C, 1998). Những dịch vụ chủ yếu sẽ gồm: giáo dục và học tập suốt đời, cung cấp thông tin cho công dân và tạo điều kiện để họ hội nhập vào xã hội; có điều kiện kinh doanh và phát triển kinh tế; được huấn luyện và có việc làm; có đủ tiện nghi để nghiên cứu lịch sử địa phương; và xây dựng thư viện số cấp quốc gia. Hiện nay chính phủ đã có sự đầu tư đáng kể để hình thành mạng liên kết, tạo lập nội dung số hóa và xây dựng đội ngũ nhân viên công nghệ thông tin đầy đủ năng lực làm việc. Sự đầu tư lớn ở đây để có thể đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị có thể độc lập truy cập vào nhiều nguồn lực thông tin rộng rãi vốn dĩ hiện nay chưa phục vụ thỏa đáng và phải cung cấp thêm tiện nghi sử dụng công nghệ hỗ trợ như nhận dạng giọng nói, phần mềm đọc nhân tạo, phóng đại màn hình, trình bày dạng chữ lớn hay chữ Braille. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.3.1. |
Bất cứ thư viện nào cũng phải có chính sách cung cấp các dịch vụ cho người khuyết tật và những người có khiếm khuyết cụ thể trong việc học tập, trong đó có phần quy định cụ thể hoặc quy chế thực hiện. Qui định này liên quan đến chính sách phục vụ người khuyết tật của cơ quan hoặc cơ quan thẩm quyền và là bộ phận thống nhất trong suốt quá trình lập kế hoạch. Việc thảo luận để xây dựng chính sách trong phạm vi cán bộ thư viện rất có giá trị và sẽ có ảnh hưởng đến thái độ, nhận thức, ưu tiên của các nhà quản lý và việc phân bổ nguồn lực. |
Back to Chapter index | |
| 6.3.2. |
Chính sách này phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng cho tất cả người khuyết tật và yêu cầu gắn với thực tiễn hoạt động, bao gồm cả cam kết mức độ ưu tiên đối với các dịch vụ cho người khiếm thị. Nhà quản lý cần trau dồi nhận thức về người khuyết tật và mối quan tâm đối với việc cung cấp dịch vụ không rào cản trong thư viện. |
Back to Chapter index | |
| 6.3.3. |
Chính sách này đòi hỏi các yếu tố quan trọng sau: b) Đánh giá nhu cầu c) Sự phối hợp các vấn đề người khuyết tật vào kế hoạch phát triển d) Sự quan tâm và hỗ trợ về mặt quản lý và cung cấp tài chính e) Các mối liên kết với đội ngũ và các cơ quan phục vụ người khiếm thị f) Người có trách nhiệm phối hợp hoạt động phục vụ người khuyết tật trong thư viện g) Trách nhiệm của toàn thể cán bộ nhân viên h) Cam kết cung cấp thông tin, trợ giúp và tư vấn i) Tập huấn nhân viên, kể cả vấn đề nhận thức về người khuyết tật j) Giao tiếp với người khuyết tật k) Việc tiếp cận cơ sở vật chất và các dịch vụ thư viện l) Công nghệ hỗ trợ m) Xây dựng vốn tài liệu chuyển dạng n) Mở rộng giờ phục vụ o) Truy cập máy tính và mạng Internet p) Thúc đẩy và quảng cáo dịch vụ q) Tài liệu hướng dẫn, trợ giúp người khiếm thị dưới nhiều hình thức r) Thu thập thông tin về quản lý công tác phục vụ người khuyết tật s) Theo dõi và đánh giá chất lượng dịch vụ t) Xét lại các chính sách và dịch vụ. |
Back to Chapter index | |
| 6.3.4. |
Một cách lý tưởng là nên có chính sách hướng dẫn thực hành, nhưng cũng phải đảm bảo tính thực tiễn và khả thi, xác định những hạn chế, khả năng tài chính và cách thức thay thế để hỗ trợ phục vụ độc giả khiếm thị. Ví dụ, nếu độc giả khuyết tật không thể tiếp cận một thư viện nào đó trong một khoảng thời gian nào đó, thì tài liệu phải được chuyển đến một thư viện khác có điều kiện dễ tiếp cận hơn. Mặc dù người sử dụng được khuyến khích tự phục vụ, nhưng phải yêu cầu nhân viên có chương trình trợ giúp vì một số dịch vụ đòi hỏi phải có sự can thiệp của người trung gian. |
Back to Chapter index | |
| 6.3.5. |
Trong chính sách của thư viện phải thể hiện rõ kế hoạch và mục tiêu phục vụ người khuyết tật hàng năm. |
Back to Chapter index | |
| 6.3.6. |
Phải thường xuyên xem chính sách của thư viện có ảnh hưởng gì đến cộng đồng độc giả, mục tiêu phát triển của quốc gia, điều kiện của địa phương, khả năng nguồn lực, tiến bộ của trang thiết bị và kinh nghiệm phục vụ người khiếm thị. |
Back to Chapter index | |
| 6.3.7. |
Báo cáo của Ủy ban Thư viện Thông tin về “Dịch vụ TVCC dành cho người khiếm thị” (Kinnell và nh.ng.khác, 2000) khuyến nghị là các nhà quản lý phải có chính sách rõ ràng về các dịch vụ cho người khiếm thị và coi đó là một phần trong chính sách hòa nhập xã hội, tuân thủ các điều khoản của Đạo luật chống phân biệt đối xử người khuyết tật. Cũng phải chú trọng vào việc xác định nhu cầu thúc đẩy dịch vụ và xây dựng đội ngũ nhân viên phục vụ người khiếm thị. |
Back to Chapter index | |
| 6.3.8. |
Ở Anh, các dịch vụ thư viện quốc gia không phải do chính phủ cấp kinh phí và các dịch vụ hợp tác trong lĩnh vực này chậm phát triển hơn so với các quốc gia khác. Brophy and Craven (1999b) nói đến chính sách chung của quốc gia với một số tiêu chuẩn đảm bảo độc giả có thể sử dụng bất cứ thư viện nào, dù là TVCC hay thư viện trường đại học và đảm bảo mức độ phục vụ của các dịch vụ đều sẵn sàng và độc giả có thể sử dụng các trang thiết bị hỗ trợ. |
Back to Chapter index | |
| 6.3.9. | Đảm bảo chất lượng |
| Nhà quản lý phải xây dựng mô hình phục vụ người khiếm thị đảm bảo chất lượng và hòa hợp với dịch vụ chung. Khi lập các tiêu chuẩn trong địa phương, cần tham khảo ý kiến của người sử dụng. Giới thiệu hướng dẫn sử dụng thư viện để phục vụ độc giả là rất quan trọng vì nhờ nó mà mọi người trong thư viện biết là họ đang có cái gì và họ có thể tận dụng tối đa nguồn lực hỗ trợ để có thể phục vụ độc giả khiếm thị tốt hơn. Quan trọng là phải có ý kiến của người khuyết tật và quan trọng hơn nữa là phải lắng nghe các ý kiến đó và phản hồi. Dịch vụ không rào cản có thể là yếu tố chính để các thư viện dựa vào đó đánh giá nhận thực và khả năng tổ chức phục vụ. Mô hình chất lượng bao gồm: b) hoạch định cấp độ và tiêu chuẩn dịch vụ c) chỉ tiêu kế hoạch d) giám sát e) giải trình công việc f) đọc và trả lời thư góp ý của người sử dụng g) diễn đàn độc giả h) lập bảng khảo sát i) đánh giá mức độ thực hiện j) trả lời thư góp ý dưới hình thức chuyển dạng thay thế k) bảng điểm chuẩn. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.3.10. | Ngân sách |
| Nhà quản lý phải phân bố kinh phí hợp lý để tổ chức các dịch vụ theo kế hoạch chính sách đề ra. Kinnell (2000) đề nghị các thư viện khi chi tiêu cho dịch vụ của người khiếm thị có số liệu thống kê. Những khoản chi tiêu tương tự cho sinh viên khuyết tật có thể cũng là một điểm biểu hiện trong tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học và sau đại học. Brophy và Craven (1999a) báo cáo hiện nay ngân sách phân bổ từ 500 bảng đến 30,000 bảng để mua sắm trang thiết bị, tập huấn đặc biệt, chi phí hoạt động ban đầu. Một số thư viện phải tìm thêm nguồn tài trợ khác để phát triển các dịch vụ hỗ trợ hay mua sắm thêm trang thiết bị, thường là từ nguồn các tổ chức từ thiện hay các quỹ phát triển là những nguồn ngoại lực có thể tận dụng được. |
|
Back to Chapter index | |
| 6.3.11. |
Một vấn đề nữa cần bàn đến trong chính sách là việc thành lập các bộ phận chuyên biệt trong các trường đại học. Brophy (1999) báo cáo là việc cung cấp dịch vụ hiệu quả cho nhân viên và sinh viên mù và khiếm thị ở chương trình đại học gần như luôn được xây dựng theo hướng lập thành những bộ phận nhỏ nhưng chuyên biệt với đội ngũ nhân viên phục vụ nhiệt tình. Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết cách thức này bộc lộ một số điểm bất lợi. Đầu tư cao khi thành lập một bộ phận riêng thì thường không bắt nhịp kịp với những phát triển mới và không đáp ứng được số lượng người khiếm thị sử dụng thư viện ngày càng tăng, đặc biệt là để xây dựng môi trường văn hóa học tập suốt đời. Những khó khăn phát sinh trong công việc phải được các nhà chức trách TVCC cân nhắc để đưa vào chính sách và chúng không phải là chuyện đơn giản và dễ quyết định. Các chính sách phải đáp ứng cho điều kiện trong hiện tại và cả trong tương lai. Cách tổ chức phục vụ chung hay thành bộ phận chuyên biệt đều có thể đạt được mục tiêu có dịch vụ cho người khiếm thị hiệu quả. |
Back to Chapter index | |
| 6.4.1. |
Nhà quản lý phải nghiên cứu số liệu thống kê người khiếm thị đến thư viện, nhớ là bất cứ số liệu nào cũng phải là những con số thực. Khảo sát phải đánh giá được số lượng độc giả người khiếm thị, nhu cầu của họ, những khó khăn và mức độ thỏa mãn với dịch vụ thư viện. Quan trọng là phải hiểu được nguyên nhân, đặc điểm và nhu cầu của độc giả. Chương 4 trình bày những khó khăn đối với người khiếm thị. Dựa vào bảng đáng giá nhu cầu của họ, nhà quản lý có thể phân định mức độ dịch vụ được yêu cầu và phân bổ nguồn lực cần thiết hợp lý. |
Back to Chapter index | |
| 6.4.2. |
Các đánh giá này phải có cả phần thông tin liên lạc với các cơ quan bên ngoài, như các trung tâm đánh giá chuyên nghiệp hay RNIB và trong cơ quan nên có sự phối hợp với bộ phận phụ trách người khuyết tật, dịch vụ cho sinh viên, trưởng khoa các bộ môn và các phòng ban khác. Trong địa phương, các cơ quan tổ chức sẽ có Phòng công tác xã hội, ban Người khuyết tật/ Cơ hội bình đẳng và các nhóm tình nguyện địa phương. RNIB gần đây đã phát hành ấn phẩm là kết quả phân tích của một cuộc khảo sát “Tiếp cận văn bản thông tin” trên 1000 người khiếm thị (Bruce và Baker, 2001) là một nguồn tư liệu có giá trị đối với các nhà quản lý. |
Back to Chapter index | |
| 6.4.3. |
Gần như không thể có được các số liệu thống kê đáng tin cậy về số người mù và khiếm thị đang theo các chương trình đại học (Brophy và Craven, 1999a). Theo ước tính của R.N.I.B, một trường đại học ở Anh quốc có 15,000 sinh viên thì có khoảng 75 người khiếm thị (tỷ lệ 1/200). Nhiều người khiếm thị không đăng ký là người khuyết tật và không muốn người khác biết mình bị khiếm thị. Khi sử dụng dịch vụ thư viện họ sẽ gặp khó khăn mà thủ thư không nhận ra điều này. Thực tế cho thấy nhu cầu người khiếm thị sử dụng thư viện ngày càng lớn, điều này được suy ra đơn giản chỉ dựa vào lý do là số lượng sinh viên tăng. |
Back to Chapter index | |
| 6.4.4. |
Ở Anh có khoảng 18% là người khuyết tật ở độ tuổi lao động (European Union. Eurostat, 1998) và một số khu vực ở Đông bắc, số lượng người khuyết tật chiếm đến 20%. Trong các trường đại học tại Anh, có khoảng 3.9% sinh viên đăng ký là người khiếm thị trong năm học 1999- 2000 đã lên tiếng nói về những khó khăn mà họ gặp phải. Trường đại học Sunderland có số người khuyết tật chiếm đến 6.7% tổng sinh viên. Cứ 760 sinh viên nhập học thì có 23 sinh viên khiếm thị và hơn 30 sinh viên bị đa khuyết. Có rất nhiều lý do mà chỉ có một nửa sinh viên khuyết tật quyết định khai báo khuyết tật của mình khi đăng ký nhập học. |
Back to Chapter index | |
| 6.4.5. |
Nhà quản lý phải nhận ra những trở ngại về mặt văn hóa hay tâm sinh lý ảnh hưởng đến những cảm xúc của người khuyết tật, làm cho bản thân họ tự cô lập cách biệt với cộng đồng chung. Nhiều người khiếm thị không biết thư viện có các dịch vụ mà họ có thể sử dụng được và sinh viên thì ít hoặc không biết hề biết gì về những quyền lợi, công nghệ hỗ trợ và các dịch vụ đặc biệt dành cho họ. |
Back to Chapter index | |
| 6.4.6. |
Những rào cản về điều kiện vật lý đôi khi làm người khiếm thị không sử dụng được thư viện và thậm chí làm họ không còn muốn quay trở lại. |
Back to Chapter index | |
| 6.4.7. |
Mặc dù các trường đã nỗ lực để có thể đáp ứng nhu cầu người sử dụng, nhưng những ý kiến phản ánh của sinh viên khuyết tật trong các trường luôn nhắc nhở chúng ta cần cố gắng hơn nữa. Một số ý kiến đóng góp của sinh viên như: b) trong lúc giảng bài hay thi cử, họ bị xếp vào loại “khuyết tật”; c) được tư vấn hướng dẫn đề nghị họ bỏ các môn mà có thể vì khuyết tật của mình họ không thể đảm đương nổi; d) nghi ngờ về khuyết tật của họ; e) hỗ trợ không đầy đủ; f) gây khó khăn hay trễ nải khi trợ giúp và hướng dẫn; g) hoạt động phục vụ không đồng bộ trong nhà trường; h) gặp trở ngại trong việc đi lại.
|
Back to Chapter index | |
| 6.4.8. |
TVCC phải xác định nhu cầu của độc giả sử dụng dịch vụ của người khiếm thị trong hiện tại lẫn tương lai và phải điều tra mức độ đòi hỏi của họ. Tổ chức Share the Vision/ Hiệp hội thư viện (Machell, 1996) hướng dẫn phải hình thành các tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá dịch vụ cho người khiếm thị (Kinnell và nh. ng. khác, 2000). Tất cả số liệu thống kê thường đánh giá thấp nhu cầu, nhưng theo ước tính về người khiếm thị, thì cho thấy nhu cầu là rất cao (tham khảo chương 5 và Phụ lục A1). |
Back to Chapter index | |
| 6.5.1. |
Tầm quan trọng của việc trang bị và thúc đẩy sử dụng dịch vụ thư viện được trình bày ở các chương khác trong quyển cẩm nang này. Thực sự mà nói đây là một thách thức lớn đối với các nhà quản lý và giới chuyên môn tham gia vào công tác quy hoạch và thiết kế các loại hình thư viện và các trung tâm học liệu. Các chuyên gia trong lĩnh vực này, kể cả Hội thư viện, tổ chức Share the Vision và Hội thư viện Hoa Kỳ cũng đã hướng dẫn và khuyến nghị một số biện pháp quản lý. |
Back to Chapter index | |
| 6.5.2. | Nhà quản lý phải nhận thức đủ về tầm quan trọng của việc tạo điều kiện tiếp cận tòa nhà và thiết kế đảm bảo an toàn cho người khiếm thị khi đi lại trong thư viện. Những rào cản cho người khiếm thị thường là do vô ý tạo ra đôi khi làm cản trở hoặc thậm chí làm họ từ bỏ cả cơ hội sử dụng dịch vụ. (Xem Chương 12). |
Back to Chapter index | |
| 6.5.3. |
Khi trình bày kế họach triển khai dịch vụ, nhà quản lý phải quyết định cách phân phối sử dụng trang thiết bị hỗ trợ. Có thể tổ chức chung với các dịch vụ khác hoặc bố trí một khu vực riêng biệt. Quan điểm giữa cán bộ phục vụ và độc giả khiếm thị có thể khác nhau, vì thế mà phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi lập kế hoạch cần phải tham khảo ý kiến người sử dụng. |
Back to Chapter index | |
| 6.5.4. |
Những điều chỉnh hợp lý để tăng cường hỗ trợ theo các điều khoản trong Phần III của DDA (Great Britain. Đạo luật, 1995) gồm có: b) cải thiện cửa ra vào c) chú ý các chi tiết bên trong như cửa, tay vịn cầu thang, bậc tam cấp và thang máy d) chú ý màu sắc, ánh sáng và các bảng hiệu e) cải tiến cửa sổ, nhà vệ sinh và các trạm điện thoại f) sàn nhà và thảm g) thiết kế khu vực tiếp tân h) chú ý đến các biện pháp an toàn an ninh. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.1. |
Nhà quản lý phải cung cấp nhiều dịch vụ thích hợp cho độc giả khiếm thị như bao độc giả khác, họ cũng có nhiều cách học và sử dụng thông tin khác nhau và họ phải được tự do chọn lựa dịch vụ nào mà họ cần hay muốn. Nhà quản lý phải biết là người khiếm thị có thể không sử dụng được một số dịch vụ thư viện và phải sắp xếp các biện pháp thay thế. Tạo cơ hội giao tiếp với độc giả cũng như các đồng nghiệp hoạt động ở lĩnh vực này trong và ngoài khu vực để tham khảo ý kiến và phối hợp hiệu quả hơn. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.2. |
Nhà quản lý nên chủ động đưa dịch vụ cho người khiếm thị vào kế hoạch trước hơn là chỉ thực hiện một cách cưỡng ép sau khi đã quy hoạch xong. Như đã nói, dịch vụ cho người khiếm thị cần có kế hoạch và kinh phí. Để thúc đẩy sự nhận thức đầy đủ về người khuyết tật, kế hoạch phát triển dịch vụ phải luôn gắn với việc tập huấn nhân viên, xây dựng vốn tài liệu, cung cấp đủ các hình thức tài liệu, trang thiết bị và lập dự án. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.3. |
Thư viện phải cân nhắc việc sắp xếp cho người khiếm thị đăng ký thẻ đọc cũng như cách tiếp cận đăng ký thẻ. Một số thư viện phát hành thẻ có phần ghi nhận bản chất của khuyết tật, chỉ ra các hình thức dịch vụ được yêu cầu và cấp độ sử dụng dịch vụ đó như thế nào. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.4. |
Dịch vụ cho người khiếm thị bao gồm tra cứu mục lục, tìm kiếm tài liệu; cung cấp các tờ hướng dẫn và chỉ dẫn ở dạng chữ lớn, băng đĩa, dạng web; dịch vụ giới thiệu sách; dịch vụ sao chụp tài liệu; và chỗ ngồi học độc lập. Một số thư viện còn cung cấp dịch vụ chuyển dạng tài liệu; đăng ký đọc cá nhân, sử dụng máy ghi âm ghi chú; máy đọc; và công cụ phóng đại chữ. Những thư viện khác có nhân viên chuyên nghiệp có thể hướng dẫn độc giả mù và khiếm thị và các độc giả làm công tác tình nguyện. Nhiều độc giả sẽ có thêm những tiện ích từ dịch vụ tự phục vụ như gia hạn hay đặt sách trước qua điện thoại, fax, hay thư điện tử, nhưng còn nhiều vấn đề khác liên quan đến việc thiết kế công nghệ tự phục vụ cho người khiếm thị và các độc giả khuyết tật khác. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.5. | Công nghệ hỗ trợ như CCTV để phóng to văn bản hay hình ảnh, máy quét với hệ thống phóng to hình ảnh hay phát âm, tạo chữ nổi, chữ lớn, đồ họa nổi hay hệ thống đọc văn bản, máy cassette, bàn phím với kích thước ký tự lớn, phần mềm đọc màn hình, công cụ chuyển văn bản sang phần đọc hay phần nhận dạng chữ, phóng to màn hình và nhận dạng ký tự. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.6. |
Công nghệ hỗ trợ được cung cấp cho người khuyết tật, đôi khi có thể chỉ cho phép người khuyết tật sử dụng với mật khẩu riêng của họ. Điều này đảm bảo cho người khuyết tật có thể sử dụng thiết bị khi họ cần đến và ngăn bớt tình trạng sử dụng sai mục đích phục vụ. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.7. |
Nhà quản lý phải đảm bảo nhu cầu của người khuyết tật được gắn kết với kế hoạch phát triển dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin. Công nghệ truyền thông thông tin là một công nghệ hỗ trợ quan trọng có thể đáp ứng các dịch vụ giúp người khuyết tật vượt qua nhiều rào cản bất lợi về khoảng cách địa lý cũng như về thời gian. Ví dụ, truyền trực tiếp các bài giảng cho sinh viên khuyết tật mà hôm đó họ bị đau ốm giúp họ mặc dù không đến trường nhưng vẫn có thể học từ nhà hay ở bất cứ một nơi nào khác. Có một số vấn đề quan trọng trong việc thiết kế và xây dựng hệ thống điện tử. Liên hiệp Mạng toàn cầu (W3C) cam kết đẩy mạnh tính tiện dụng sử dụng web cho người khuyết tật. Ban đề xướng khả năng truy cập web (WAI) tìm cách cải thiện khả năng truy cập web qua năm lĩnh vực chính: công nghệ; hướng dẫn; công cụ, giáo dục - đào tạo - tập huấn - mở rộng và nghiên cứu phát triển. Nhà quản lý cũng phải tính đến việc cải thiện mạng phần mềm chuyên dụng vì hiện chỉ có ít hơn ¼ được sử dụng trong mạng lưới phục vụ. Quan trọng hơn cả của việc tăng cường truy cập, một số hệ thống điện tử còn phải giải quyết những khó khăn đối với người khiếm thị. Công nghệ thông tin chắc chắn sẽ hỗ trợ rất nhiều cho nhân viên thư viện trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của sinh viên khuyết tật. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.8. |
TVCC phải cung cấp công nghệ mới để đảm bảo sự bình đẳng trong việc sử dụng cho tất cả mọi người. Công nghệ thông tin và trang thiết bị hỗ trợ đọc ngày càng đóng vai trò quan trọng như là phương tiện chính để truy cập thông tin cho người khiếm thị. Bảng hướng dẫn của Tổ chức Share the Vision/ Hội thư viện (Machell, 1996) đưa ra các mức dịch vụ cơ bản phải đáp ứng. Kế hoạch hàng năm phải có mục tiêu rõ ràng và TVCC phải có số liệu thống kê về tình hình sử dụng công nghệ hỗ trợ(Kinnell và nh. ng. khác, 2000). |
Back to Chapter index | |
| 6.6.9. |
Để đem lại sự công bằng cho nhiều độc giả khuyết tật hay đa khuyết sẽ gây nhiều thử thách trong các khâu công tác từ vấn đề nâng cao nhận thức, tập huấn nhân viên và hoạt động phục vụ. Khổ thay, có khi giải pháp thỏa đáng cho một người lại làm cản trở cho người khác, khó hơn nữa là trường hợp một người mà bị đa khuyết tật. |
Back to Chapter index | |
| 6.6.10. |
Theo Phần III của Đạo luật Chống Phân biệt đối xử khuyết tật ở (Great Britain. Đạo luật, 1995) và Đạo luật Khuyết tật và Nhu cầu học đặc biệt (Great Britain. Đạo luật, 2001), đã có nhiều cuộc tranh cãi việc xác lập các bước cần thiết triển khai công tác phục vụ người khuyết tật. Nhà quản lý phải xem xét quy trình đó để đưa vào kế hoạch cho hợp lý: b) tìm và lấy sách cho độc giả c) gửi tài liệu cho độc giả qua đường bưu điện d) tập huấn nhân viên sử dụng công nghệ hỗ trợ e) cung cấp dịch vụ truy cập điện tử tại chỗ f) cung cấp dịch vụ thư viện truy cập từ xa thuận tiện cho sinh viên. |
Back to Chapter index | |
| 6.7.1. |
Chính sách phát triển vốn tài liệu của thư viện phải bao gồm cả tài liệu chuyển dạng để đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị, (sách báo tạp chí chữ đại, chữ lớn, tài liệu chữ Braille; Moon; tài liệu nói; hình thức đôi; và nguồn thông tin điện tử). Chương 8 và 9 trình bày chi tiết. |
Back to Chapter index | |
| 6.7.2. |
Để tránh tình trạng thiếu hụt tài liệu, thư viện phải cố gắng hoặc mua các tài liệu theo yêu cầu độc giả hoặc đảm bảo điều kiện hỗ trợ họ sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức từ thiện hay nhận từ các dịch vụ đặt hàng khác. Dịch vụ đọc cho cá nhân nghe hay chuyển dạng tài liệu cũng là một số trong những biện pháp thay thế. |
Back to Chapter index | |
| 6.7.3. |
Trong hoạt động chung, nhà quản lý phải nhìn ra tầm quan trọng của việc tạo cho người khiếm thị cơ hội chọn lựa những cách thức để làm thỏa mãn nhu cầu học tập của họ. Tránh việc quá nhấn mạnh vào vai trò của chữ Braille. |
Back to Chapter index | |
| 6.7.4. |
Báo cáo về “phối hợp chọn tài liệu chuyển dạng”, C.P.I khuyến nghị các nhà quản lý TVCC phải đáp ứng một số vấn đề trong hoạt động xây dựng và phát triển vốn tài liệu liên quan đến người khiếm thị: b) kế hoạch ưu tiên các nguồn lực c) đánh giá nhu cầu d) phân bổ ngân sách theo tỷ lệ thích hợp để có thể mua tài liệu chuyển dạng e) lập chính sách và quy trình chọn lựa tài liệu chuyển dạng f ) thúc đẩy việc thu thập bổ sung tài liệu hình thức chuyển dạng, đặc biệt là chữ lớn g) lập các tiêu chí cơ bản như chuẩn, kinh phí, mục tiêu và chất lượng dịch vụ h) đánh giá và phát huy tối đa hiệu quả dịch vụ i) theo hướng dẫn của liên hiệp hay khu vực để thực hiện việc chọn lựa, mua, khuyến khích sử dụng tài liệu j) Làm rõ trách nhiệm liên quan đến mức độ, chất lượng và tiếp cận dịch vụ theo các điều khoản của DDA k) cộng tác với hội người mù tại địa phương để phối hợp phục vụ. |
Back to Chapter index | |
| 6.7.5. |
Trong TVCC, chính sách chọn tài liệu nên đưa vào kế hoạch năm của thư viện và phải cung cấp đủ tài liệu để đáp ứng nhu cầu đọc tài liệu ngoại ngữ, thông tin và các dạng khác. Nhà quản lý phải tăng thêm số lượng báo chữ lớn và báo nói nhiều hơn nữa. (Kinnell và nh. ng. khác, 2000). |
Back to Chapter index | |
| 6.7.6. | Nhà quản lý thư viện và nhân viên phục vụ phải nắm bắt những xu hướng phát triển mới trong việc mượn tài liệu chuyển dạng liên thư viện. Họ phải xây dựng chính sách rõ ràng để tổ chức mượn liên thư viện trên toàn quốc hay trong khu vực đối với nguồn tài liệu chuyển dạng. (Xem 6.2.6). |
Back to Chapter index | |
| 6.8.1. |
Bản quyền hiện là vấn đề gây ra một số hạn chế trong dịch vụ thư viện và người mù cần được cải thiện. Nhà quản lý thư viện và nhân viên dĩ nhiên cần phải nhận ra những vướng mắc vào quy định về quyền tác giả vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất và cung cấp tài liệu chuyển dạng. Để chủ động, họ phải ra sức vận động giới xuất bản đồng ý cấp phép sao chép theo tinh thần phục vụ tình nguyện. Luật bản quyền mới đang được dự thảo, sẽ giới thiệu những quyền mới cho người khiếm thị và cho cả những người đang phục vụ nhu cầu của đối tượng này. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.2. |
Đạo luật bảo hộ phát minh, thiết kế và bản quyền của Anh quốc (Great Britain. Acts, 1998) không tính đến quyền lợi và nhu cầu của người khuyết tật,. Tài liệu chỉ được chấp nhận sau khi chuyển dạng thay thế để tiện truy cập với sự đồng ý cho phép của người giữ bản quyền hay được ủy quyền tái bản. Thư viện phải biết đây là công đoạn rất tốn thời gian và thường là không được chấp thuận. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.3. |
Tình trạng này đã phần nào được giải quyết ổn thỏa theo tài liệu “Hướng dẫn về Quyền tác giả và tình trạng khiếm thị” (Hội Cấp phép xuất bản, 2001) ban hành vào tháng 10 năm 2001, được đúc kết từ hiệp hội tổ chức các tác giả và nhà xuất bản dưới sự chủ trì của Hội cấp phép xuất bản. Những hướng dẫn này cho phép không xét đến việc vi phạm luật bản quyền nếu dịch vụ cung cấp theo yêu cầu nhân sao bản dưới hình thức chuyển dạng cho một cá nhân nào đó. Họ yêu cầu chỉ có người khiếm thị mớiđược quyền sử dụng hợp pháp bản gốc và hoạt động này không được vì mục đích lợi nhuận. Thư viện được đặc biệt chú ý đến vì đây là một trong những nơi thường hay diễn ra hoạt động sao chép chuyển dạng này. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.4. |
Hiện nay thư viện có quyền đáp ứng yêu cầu của một người khiếm thị bằng cách chuyển một phần hay trọn vẹn bất cứ tài liệu nào trong kho tài liệu chung thành dạng mà người sử dụng có thể truy cập được. Nó cũng chấp nhận cho bản thân một người mượn tài liệu có thể sao chép chuyển dạng để dễ dàng sử dụng thông tin hơn. Nhưng có những hạn chế nếu sao chép nhiều bản và chuyền cho người khác, thư viện nên giữ một bản gốc ở dạng truy cập được để cung cấp cho những yêu cầu trong tương lai. Đây là một bước cải thiện đáng kể so với tình hình trước đây. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.5. |
Những hướng dẫn này mở ra cho cả người mù và người bị giảm thị lực hay bất cứ ai không cầm được sách hay mắt không thể tập trung khi đọc. Tuy nhiên chúng không được chấp nhận áp dụng đối với những đối tượng gặp khó khăn trong việc học hay bị chứng khó đọc. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.6. |
Văn bản của hướng dẫn này có thể coi như là mang một chút tính pháp lý và RNIB đã xuất bản một bộ giải đáp “Câu hỏi thường gặp” (RNIB, 2002), có thể tìm đọc trên tờ thông tin tháng 2 năm 2002 trên tạp chí “Visibility” và trên website của RNIB ở phần Dịch vụ Thư viện Thông tin. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.7. |
Trong khi cuộc vận động tranh thủ sự phê duyệt luật pháp vẫn tiếp tục diễn ra thì Luật bản quyền (người khiếm thị), những dự thảo của các thành viên đã được thông qua lần phê chuẩn thứ hai tại Hạ viện Anh vào ngày 15 tháng 3 năm 2002 và chính phủ đã biểu thị sự hỗ trợ của mình cho dự thảo này. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.8. |
Sắc lệnh quyền tác giả của Hội đồng Châu Âu bàn về sự dung hòa giữa bản quyền và quyền hưởng thụ trong xã hội thông tin (Cộng đồng Châu Âu, 1999) cho phép từng thành viên trình bày để đưa ra các trường hợp ngoại lệ của luật bản quyền trong đó nói về lợi ích của người khuyết tật, những hoạt động không vì mục đích thương mại, hay yêu cầu cần mở rộng do nhu cầu của người khuyết tật.” Tuy nhiên Chính phủ đã có văn bản dưới luật hướng dẫn việc mở rộng cung cấp tài liệu theo yêu cầu của “người khiếm thị” nhưng hiện tại thì chưa có một kế hoạch chuẩn bị nào. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.9. |
Công nghệ kỹ thuật đôi khi là tăng thêm những khó khăn trở ngại cho người sử dụng. Vì có sự ràng buộc về mặt pháp lý, ngày càng có nhiều tài liệu trực tuyến thiết kế sử dụng dưới nhiều hình thức để chống sao chép và quản lý quyền số hóa. Những công nghệ quản lý này có thể làm tài liệu không dễ dàng sử dụng được bằng những phần mềm đọc màn hình. Thậm chí chức năng đọc của sách điện tử có thể không sử dụng được do mức bảo mật cao do nhà xuất bản cài đặt. Sắc lệnh quyền tác giả của Châu Âu trình bày nhưng chưa có sự đồng ý của các tổ chức tình nguyện, “các nước thành viên phải có những biện pháp thích hợp để đảm bảo cho người giữ bản quyền được những lợi ích từ những trường hợp ngoại lệ [khác nhau, kể cả tình huống cho thư viện hay cho người khuyết tật sao chép]…” Dễ dàng thấy rằng Chính phủ Anh phải đứng ra nhận trách nhiệm đó. Khuyến nghị đó được đưa vào Luật Anh quốc vào ngày 22 tháng 12 năm 2002. |
Back to Chapter index | |
| 6.8.10. |
Dự án SEDODEL (An ninh phân phối tài liệu cho người mù và khiếm thị) (Engelen và nh. ng. khác, 1998) bàn về các vấn đề liên đới đến bản quyền phân phối tài liệu điện tử và đề nghị biện pháp mới. Liên hiệp DAISY (Hiệp hội quốc tế về tiêu chuẩn sách nói kỹ thuật số, 2000) cũng nói đến một số khó khăn của vấn đề bản quyền và tiêu chuẩn. |
Back to Chapter index | |
| 6.9.1. |
Nhà quản lý thư viện phải có trách nhiệm làm cho người khiếm thị phát triển kỹ năng và có sự chọn lựa sử dụng dịch vụ. Ví dụ, người khiếm thị thường gặp khó khăn khi lướt duyệt tài liệu và cần có sự trợ giúp để chọn được tài liệu mình cần. Họ cũng cần mục lục có trình bày chi tiết nội dung. |
Back to Chapter index | |
| 6.9.2. |
Quảng bá thúc đẩy dịch vụ cho người khiếm thị trong tất cả các thư viện, chú ý đến các chương trình phát triển đọc. |
Back to Chapter index | |
| 6.9.3. |
Nhu cầu của người khiếm thị phải đựơc đưa ra trong ngay từ khi bắt đầu lập chương trình và phải được tập huấn thực hiện. |
Back to Chapter index | |
| 6.10.1. |
Nhà quản lý phải xây dựng văn hóa nhận thức và nhân viên phải có những hiểu biết cơ bản về nhu cầu của người khiếm thị. Đây vấn đề then chốt để tổ chức cơ cấu và tập huấn, phân công nhiệm vụ cho nhân viên và sự thành công trong việc đáp ứng nhu cầu người khiếm thị sẽ là căn cứ để xét đánh giá và khen thưởng nhân viên. |
Back to Chapter index | |
| 6.10.2. |
Trách nhiệm phục vụ người khiếm thị được trình bày trong Phần 6.1, đặc biệt liên quan đến chính sách, văn hóa, tài chính và chất lượng xây dựng dịch vụ phục vụ cho người khiếm thị. |
Back to Chapter index | |
| 6.10.3. |
Một thành viên trong ban lãnh đạo phải có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu người khuyết tật. |
Back to Chapter index | |
| 6.10.4. |
Thư viện phải chọn một cán bộ chuyên trách và là người có nhiệm vụ phối hợp giữa các bộ phận phục vụ người khuyết tật cũng như những người gặp khó khăn trong việc học. Vai trò của cán bộ này có thể là một phần việc kiêm nhiệm của một cán bộ nào đó nhưng cần được bố trí thời gian và được hỗ trợ một cách hợp lý. Một số thư viện chọn hẳn một người có trách nhiệm chính cho bộ phận phục vụ người khiếm thị. |
Back to Chapter index | |
| 6.10.5. |
Mục tiêu công việc của người phụ trách bộ phận người khuyết tật sẽ gồm: a) tập trung chuyên chăm sóc dịch vụ cho người khuyết tật |
Back to Chapter index | |
| 6.10.6. |
Những nhiệm vụ chính của cán bộ này sẽ là: a) cung cấp dịch vụ thích hợp cho người khuyết tật Cán bộ phụ trách đóng vai trò như là chất xúc tác cho mọi hoạt động cần điều chỉnh thay đổi, bên cạnh những kỹ năng cần thiết, cần có kiến thức và lòng nhiệt thành và có khả năng tác động đến người khác. |
Back to Chapter index | |
| 6.10.7. |
Phải có một mạng lưới liên hệ giữa các nhân viên trong các thư viện có kinh nghiệm phục vụ độc giả và thông qua họ thư viện tổ chức chương trình trợ giúp, hướng dẫn thông tin và tư vấn trong toàn cơ quan. |
Back to Chapter index | |
| 6.10.8. |
Những nhân viên ở tuyến đầu phục vụ được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chăm sóc khách hàng theo phương cách thống nhất chung trong thư viện. Đặc biệt là họ phải tự tin và có kinh nghiệm để phục vụ người khiếm thị và biết giúp khách hàng sử dụng các công nghệ và trang thiết bị hỗ trợ. |
Back to Chapter index | |
| 6.10.9. |
Thực tế, các nhà quản lý TVCC có thể bị yêu cầu báo cáo số nhân viên chuyên trách về nhu cầu người khiếm thị (Kinnell và nh. ng. khác, 2000). |
Back to Chapter index | |
| 6.11.1. |
Là công tác ưu tiên, tất cả nhân viên trong ở mọi bộ phận phải được tập huấn kiến thức về nhu cầu của người khiếm thị và nhận thức về việc triển khai các dịch vụ thích hợp. Một trong những yếu tố quan trọng nhất để cung cấp dịch vụ cho người khiếm thị (Machell, 1996) là tạo sự tự tin và hiểu biết cho nhân viên và xây dựng môi trường văn hóa phục vụ người khuyết tật. Tuyển chọn và tập huấn nhân viên. |
Back to Chapter index | |
| 6.11.2. |
Nhiều người bị giảm thị lực phải lệ thuộc vào người khác nếu muốn sử dụng thư viện, đặc biệt đối với những độc giả mới, nên nhân viên cần cho họ cảm giác thoải mái khi giúp đỡ họ. Nhân viên phải biết những khó khăn của người khiếm thị và phải tự tin chủ động tình nguyện giúp đỡ khách hàng. Thiếu kiến thức và không được tập huấn có thể sẽ làm cho cả nhân viên và độc giả dễ dàng gây hiểu lầm và chán nản. (Brophy và Craven, 1999b). |
Back to Chapter index | |
| 6.11.3. |
Để xây dựng nên chương trình tập huấn cho nhân viên, cần phải đánh giá kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của họ về vấn đề dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. Cũng rất hữu ích nếu tìm ra được những mô hình phục vụ tiên tiến trong mảng hoạt động này để làm mẫu. Kinnell (2000) đề nghị chiến lược tập huấn cho dịch vụ TVCC phải đặt mục tiêu tập huấn nhân viên nhất là phần nhận thức cơ bản là điều hết sức cần thiết để phân phối dịch vụ cho người khiếm thị đạt hiệu quả cao. |
Back to Chapter index | |
| 6.11.4. |
Chương trình hướng dẫn nhân viên mới làm quen với môi trường làm việc phải có cả phần giới thiệu tổng quan về người khiếm thị và những dịch vụ liên quan trong thư viện. Nhân viên cũ cũng cần được tập huấn lại và cập nhật kiến thức. Nhiều chuyên đề phải đề cập đến những dịch vụ thích hợp cho nhiều mức độ giảm thị lực. |
Back to Chapter index | |
| 6.11.5. |
Phải tập huấn về cách giao tiếp làm việc với người khiếm thị biết cách sử dụng ngôn ngữ thích hợp và kỹ năng diễn đạt là những nguyên tắc thực hành rất quan trọng. Không phải dễ dàng để biết vận dụng cách thức hay mức độ trợ giúp như thế nào là vừa phải và đúng – nếu nói quá nhiều sẽ làm độc giả phân tâm, nói quá ít thì không có vẻ thân thiện và dễ bị hiểu lầm là không muốn giúp đỡ. Nhân viên thư viên phải biết mỗi người khiếm thị sẽ có nhiều cách tìm thông tin và nhiều cách học và thái độ ứng xử cũng khác nhau như bất cứ một nhóm độc giả nào. Nhân viên phải được tập huấn để tự sử dụng trang thiết bị hỗ trợ và học cách hướng dẫn người khiếm thị sử dụng. |
Back to Chapter index | |
| 6.11.6. |
Tất cả nhân viên thư viện phải được tập huấn để tuyển chọn nhân viên, đặc biệt là nâng cao ý thức về các vấn đề về người khuyết tật và cơ hội bình đẳng của họ trong xã hội |
Back to Chapter index | |
| 6.11.7. |
Nhân viên thư viện có thể tham dự một chương trình nào bất kỳ của địa phương, trường đại học để tăng cường nhận thức về người khuyết tật và để có thể cập nhật thêm những kỹ năng và kiến thức mới. |
Back to Chapter index | |
| 6.11.8. |
Một số chuyên gia trong lĩnh vực này, như các viện nghiên cứu của ngành Thông tin thư viện (CILIP) và dự án TESTLAB ‘hệ thống thử nghiệm sử dụng công nghệ thông tin viễn thông để hỗ trợ người khiếm thị', Ủy ban cộng đồng Châu Âu khuyến nghị là nên triển khai tập huấn bắt đầu từ khu vực trường thư viện (1997-98). Điều này để đảm bảo các chuyên môn mới cũng phải được nhận thức đầy đủ người khuyết tật và khả năng sử dụng dịch vụ thư viện và những khó khăn mà nhóm đối tượng này vấp phải. |
Back to Chapter index | |
| 6.12.1. |
Trong trường đại học hay cao đẳng, thư viện thường là nơi sinh viên khuyết tật hay những người gặp khó khăn trong việc học tập trung đến, với điều kiện là thư viện phải có các dịch vụ và hỗ trợ thích hợp để trợ giúp. Những dịch vụ này gồm có nhóm hỗ trợ người khuyết tật, dịch vụ cho sinh viên, dịch vụ tư vấn, nơi ăn ở, tư vấn sức khỏe, dịch vụ hướng dẫn chăm sóc, trung tâm thể thao, văn phòng sinh viên quốc tế; nơi đăng ký nhập học,…Sinh viên sẽ được Trung tâm Truy cập và Bộ phận Tư vấn của RNIB trong khu vực tư vấn và hỗ trợ sử dụng trang thiết bị. Phân bổ kinh phí để hoạt động trợ giúp sinh viên khuyết tật nên tính đến cả khoản chăm sóc sinh viên khuyết tật trong trường và đầu tư mua trang thiết bị hỗ trợ. |
Back to Chapter index | |
| 6.12.2. |
Kinnell (2000) đã khuyến cáo là tất cả các cơ quan tham gia vào các dịch vụ của TVCC nên xác định cơ chế để cải thiện kết quả hợp tác, đặc biệt là Bộ Thông tin văn hóa và Thể thao, RNIB, NLB và tổ chức Share the Vision. |
Back to Chapter index | |
| 6.12.3. |
Nếu nhà quản lý không đủ thành thạo hay điều kiện phục vụ người khuyết tật trong thư viện mình, họ nên tìm đến các tổ chức khác, như là JISC/ Công nghệ Dịch vụ Thông tin cho Người khuyết tật (TechDis), RNIB/ Dịch vụ tư vấn sinh viên, Mạng quốc gia về Tư vấn Người khuyết tật, DfEE/ Dịch vụ Người khuyết tật và Hiệp hội trung tâm dịch vụ để tìm sự hỗ trợ giúp đỡ. Nhiều cơ quan trong số đó có mạng phủ khắp khu vực. |
Back to Chapter index | |
| 6.12.4. |
Nhà quản lý phải hợp tác với bên ngoài và cộng tác với nhiều tổ chức khác để có thể cùng phát triển dịch vụ cho người khiếm thị một cách thường xuyên trong địa phương hay tại điểm phục vụ nếu có nhu cầu. Thư viện địa phương nên phục vụ theo yêu cầu của khu vực, quốc gia hay thậm chí ở ngoài nước. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách hợp tác, hiệp hội, đơn vị tổ chức ở khu vực và quốc gia và các nhà cung ứng dịch vụ. |
Back to Chapter index | |
| 6.12.5. |
Hiện nay thư viện còn lệ thuộc nhiều vào sự trợ giúp của R.N.I.B, Hội đọc báo nói của Anh quốc, NLB và các cơ quan khác để cung cấp cho độc giả những dịch vụ hỗ trợ. Trong đó có hoạt động cung cấp sách chữ Braille và Moon, dịch vụ chuyển dạng chữ Braille và sách báo nói. Các cơ quan chuyên môn có thể cung cấp dịch vụ tại địa phương và chuyển gửi báo và giáo trình là chủ yếu. R.N.I.B và các tổ chức khác như Sight and Sound, có thể tư vấn cho nhà quản lý cách mua sắm phần mềm hỗ trợ chuyên dụng và trang thiết bị. Chương trình bưu điện dành cho người mù thì được nhận gửi miễn phí bưu phẩm cho người mù và khiếm thị. Điều kiện chương trình cũng yêu cầu độ thị lực của khách hàng cũng phải ở một mức độ nào đó thì mới được chấp nhận. |
Back to Chapter index | |
| 6.12.6. |
Một thách thức lớn cho các nhà quản lý là vấn đề hợp nhất các dịch vụ cho người khiếm thị và đảm bảo nó được duy trì trong suốt cả cuộc đời của người sử dụng. Yêu cầu hiện nay là buộc nhà cung cấp dịch vụ phải có thể đáp ứng được bất cứ độ tuổi nào trong thành phần độc giả, tốt hơn là chỉ tập trung vào một thời kỳ năng động tích cực nào đó của họ. Trong khi chưa có giải pháp cụ thể tại địa phương, yêu cầu các thư viện trên toàn quốc chú ý đến khi xây dựng hạ tầng phải theo tiêu chuẩn kiến trúc hòa nhập và đầy đủ tiện nghi để tổ chức phục vụ và lập ra những tiêu chuẩn cơ bản để triển khai dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. |
Back to Chapter index | |
| References. | Tài liệu tham khảo |
Association of Research Libraries. (1999). Services to users with disabilities. Transforming libraries. Issue 8. www.arl.org/transform/disabilities/index.html Brophy, Peter. (1999). The integrated, accessible library: building a national accessible library service. Library HiTech News, 164, July 1999, pp 15-17.
Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999a). Education for all? Library support for blind or visually impaired users in higher education in the
Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999b). The integrated accessible library: a model of service development for the 21st century. The final report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired Users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation Report 168.
Bruce, Ian and Baker, Mark. (2001). Access to written information: the views of 1,000 people with sight problems.
Capital Planning Information (CPI). (2000). Co-ordinating alternative format title selection. Final Report for Share the Vision and the Library and Information Commission. Brunton: CPI.
Commission of the European Communities. (1997-98). TESTLAB (Testing systems using telematics for library access for blind and visually handicapped readers). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv.htm
Department for Culture, Media and Sport. (2001). Comprehensive, efficient and modern public libraries - standards and assessment. www.culture.gov.uk/heritage/index.html.
Department for Culture, Media and Sport. (1999). Libraries for all: social inclusion in public libraries. Policy guidance for local authorities in
Department for Education and Employment (DfEE). (1997). Connecting the learning society: National Grid for Learning: the government’s consultation paper.
Department for Education and Employment (DfEE). (1998). The learning age: a renaissance for a
Department for Education and Employment (DfEE). (1999). From exclusion to inclusion. Report of the Disability Rights Task Force on Civil Rights for Disabled People Report.
Department for Education and Employment (DfEE). (2000). Consultation on improving the standard of education for children with special needs and students with disabilities.
Department of the Environment, Transport and the Regions. (May 2000 update). Achieving best value through performance review. www.local.detr.gov.uk/research/bestva~1/paper 5/02.htm.
Disability Rights Commission. (May 2000). Proposals for a new code of practice: rights of access, goods, facilities, services and premises. www.disability.gov.uk/consultation.html.
Disability Rights Commission. (2002). Code of practice on rights of access, goods, facilities, services and premises.
Engelen, Jan, Evenepoel, Filip and Wesley, Tom. (2000). Surmounting the copyright hurdle: the SEDODEL project. (Secure Document Delivery for Blind and Partially Sighted People). Final report April 2000.
European Community. (2001). Directive 2001/2G/EC of the European Parliament and of the Council on the harmonisation of certain aspects of copyright and related rights in the information society:
European Union. Eurostat. (1998). Labour force survey principal results 1998.
Higher Education Funding Council for
Higher Education Funding Council for
Hopkins, L. (1997). Partners in care: Share the Vision. Public Library Journal 12 (3), pp 57-60.
Human Rights Act. (1998). www.hmso.gov.uk/acts/acts1998.htm
The international consortium for the new digital talking book standard. (DAISY Consortium). (2000). www.daisy.org
Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi and Creaser, Claire. (2000). Public library services for visually impaired people. Report to the Library and Information Commission. Loughborough: Library and Information Statistics Unit.
Library and Information Commission. (1997). New library: the people’s network.
Library and Information Commission. (1998). Building the New library network: a report to government. www.lic.gov.uk/publications/policyreports/building/index.html
Library and Information Commission. (March 2000). Libraries: the essence of inclusion.
Machell, Jean. (1996). Library and information services for visually impaired people: national guidelines. Share the Vision/ Library Association.
National Assembly for
National Bureau for Students with Disability. (2000). A guide to the Disability Discrimination Act 1995 for institutions of further and higher education.
National Committee of Inquiry into Higher Education. (1997). Higher education in the learning society: report of the national committee.
Parker, B. (2000). The learner’s viewpoint. In Widening participation through the University for Industry: how libraries support lifelong learning. Proceedings of a conference organised by NIACE, The Library Association and the University of Sunderland, December 1998, edited by A. C. McDonald and V. Edwards. Sunderland :
Publishers’ Licensing Society. (2001). Copyright and visual impairment guidelines. www.pls.org.uk/publisher/index.htm
Quality Assurance Agency for Higher Education. (1999). Code of practice for assurance of academic quality and standards in higher education: students with disabilities.
Royal National Institute for the Blind. (1997). Copyright laws and the rights of blind people: a report published by the RNIB; a review of copyright legislation as it affects access to the written work through alternative formats.
Royal National Institute for the Blind. (1999). A right to read: the impact of copyright law on visually impaired people.
Royal National Institute for the Blind. www.rnib.org.uk/campaign/copyright.htm
Talking Newspaper Association of the |
|
Back to Chapter index | |