Written By Tim Harries, hiệu đính bởi Nigel Charles, RNIB
Contents : Khảo sát nhân khẩu học về tình hình khiếm thị ở Anh quốc
Skip to Navigation
5.1. Mở đầu
5.2. Định nghĩa về mù, giảm thị lực và rối loạn thị lực
  5.2.1. Mù và giảm thị lực một phần
  5.2.2. Rối loạn thị lực và những vấn đề về khả năng nhìn
5.3. Số lượng và tuổi tác của cộng đồng người khiếm thị ở Anh quốc
  5.3.1. Số lượng người khiếm thị phân theo từng vùng địa lý
  5.3.2. Dự đoán số lượng người khiếm thị
5.4. Tuổi khởi phát khiếm thị
5.5. Giới tính
5.6. Người lớn bị khiếm thị
  5.6.1. Các yếu tố kinh tế - xã hội
  5.6.2. Đa khuyết tật
  5.6.3. Khả năng đi lại
  5.6.4. Nguồn thông tin
  5.6.8. Giáo dục đại học
5.7. Trẻ em bị khiếm thị
  5.7.2. Khả năng đọc
  5.7.3. Trường học
5.8. Hiện trạng của người tàn tật và khiếm thị ở Việt Nam
  5.8.1. Tình trạng bệnh tật
  5.8.2. Hoàn cảnh sống, việc làm và học tập
5.9. Nhu cầu thông tin và đáp ứng thông tin cho người khiếm thị
  5.9.1. Nhu cầu
  5.9.2. Đáp ứng thông tin
References. Tham khảo

5.1. Mở đầu

Chương này tổng kết kết quả khảo sát đặc điểm xã hội - nhân khẩu và những thói quen đọc của người khiếm thị ở Anh quốc. Mô tả kết quả khảo sát và các công trình nghiên cứu được thực hiện trong hơn 10 năm vừa qua, trong đó đa số là các nghiên cứu của RNIB. Để biết thêm chi tiết của các đề án này, xin xem thêm phần tham khảo. [Ghi chú: Các số liệu thu thập trong các nghiên cứu chỉ có giá trị căn cứ nhằm ước lượng tình hình thực tế].

Chương này phản bác một số nhận thức không đúng về bệnh lý rối loạn thị lực. Chẳng hạn chương này dẫn chứng rằng người khiếm thị đọc được nhiều chủng loại, kể cả (mặc dầu có thể là rất khó khăn) các tài liệu in ấn. Và người khiếm thị có thể còn đọc nhiều hơn cả khi họ chưa bị các vấn đề về mắt. Chương này còn đưa ra những vấn đề khác biệt đáng kể trong cuộc sống của người khiếm thị so với người bình thường. Chẳng hạn, người khiếm thị thường có thu nhập thấp hơn mức thu nhập trung bình, thường gặp những khó khăn trong tiếp cận thông tin, tạp chí, sách vở và có thể không được thu nhận khi xin việc hay đi học. Những ghi nhận này có thể giúp ích trong việc lên kế hoạch hỗ trợ cho người khiếm thị trưởng thành cũng như trẻ em.

(Thông tin về người tàn tật và người khiếm thị Việt Nam được giới thiệu ở cuối chương - BBS)

 


Back to Chapter index
5.2. Định nghĩa về mù, giảm thị lực và rối loạn thị lực

Có nhiều từ ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ người bị giảm hoặc mất khả năng nhìn. Phần này sẽ định nghĩa sơ lược về một số từ ngữ có liên quan.


Back to Chapter index
5.2.1. Mù và giảm thị lực một phần

Đa số thông tin trong chương này nói về những người bị khiếm thị, có nghĩa là những người bị mù hoàn toàn hay bị giảm thị lực một phần.

Người khiếm thị có thể bị mù hay giảm thị lực một phần. Những tiêu chuẩn đánh giá dựa vào chất lượng của thị lực, do bác sĩ chuyên khoa mắt khám và kết luận. Các chi tiết cụ thể và kỹ thuật đánh giá được nêu trong tài liệu của RNIB - Cẩm nang kiểm tra thị lực người khiếm thị (1977).

Bị khiếm thị không hẳn là bị mất hoàn toàn khả năng nhìn. Chẳng hạn, một số người giảm thị lực một phần vẫn có khả năng đọc sách có kích thước chữ bình thường mà không cần sử dụng bất kỳ dụng cụ phóng to nào.

Cần lập hồ sơ y khoa và danh sách người khiếm thị để có chế độ trợ cấp và giúp đỡ. Chính quyền địa phương cần có những chế độ trợ cấp hay dịch vụ dành cho người khiếm thị. Tuy nhiên theo khảo sát thì dường như không có sự khác biệt về chế độ ưu đãi giữa người khiếm thị và người bình thường (Ford & Heshel, 1994).

 


Back to Chapter index
5.2.2. Rối loạn thị lực và những vấn đề về khả năng nhìn

Những thuật ngữ này được dùng để chỉ những người bị giới hạn khả năng nhìn mà không thể điều chỉnh được bằng mắt kính, bao gồm những người đã được xác nhận là bị mù hoàn toàn hay giảm thị lực một phần, cũng như những người chưa được kết luận nhưng gặp khó khăn khi đọc báo có kích thước chữ bình thường hay không nhận ra người quen thân đi ngược đường mặc dù có mang mắt kính (Martin et al, 1988). Những thuật ngữ này cũng có thể dùng để chỉ những người không đủ thị lực để lái xe, khả năng nhìn hai bên bị hạn chế, chậm thích ứng với những thay đổi về độ sáng.


Back to Chapter index
5.3. Số lượng và tuổi tác của cộng đồng người khiếm thị

RNIB ước lượng có trên 2 triệu người bị khiếm thị ở Anh quốc. [Ghi chú: Đó là ước lượng gần đây nhất của RNIB. RNIB cũng ước lượng rằng có khoảng 1.1 triệu người (chiếm 2% dân số) được kết luận rằng bị mù và giảm thị lực trong dân số vẫn không thay đổi. Tổng số được tính từ các kết quả của một thăm dò được công bố năm 1988 (Martin và cộng sự, 1988) để dự đoán cho năm 2001].

Chỉ có một phần ba trong số 1.1 triệu người khiếm thị là được lập danh sách (Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992). Đa số người khiếm thị (khoảng 801,000 người) có tuổi trên 75 tuổi.

Bảng 5A cho thấy ước tính có khoảng 18% người khiếm thị từ 75 tuổi trở lên, so với 2.5% người khiếm thị từ 65 đến 74 tuổi, 0.4% từ 15 đến 64 tuổi và 0.2% từ 14 tuổi trở xuống

Bảng 5A: Ước tính prevalence1 của người khiếm thị ở Anh quốc (2001)

 

Nhóm tuổi

 

0-14

15-64

65-74

75+

Tất cả các tuổi

Tỉ lệ phần trăm
trong cộng đồng người
khiếm thị ở Anh quốc

0.2

0.4

2.5

18

2

Ước tính số
người khiếm thị
ở Anh quốc (x1000)

22.5

156

123

801

1,103

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992 và thống kê của Chính phủ

Ghi chú: Các số liệu này cho thấy tỉ lệ % của tuổi tác ở người khiếm thị vẫn tương tự như các số liệu ghi nhận được trong khảo sát của RNIB trong các năm 1986-1987 (Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992).


Back to Chapter index
5.3.1. Số lượng người khiếm thị phân theo từng vùng địa lý

Do chính quyền địa phương công bố - được tổng kết trong phụ lục A1. Thông tin này được lấy từ trang web của RNIB www.rnib.org.uk/wesupply/fctsheet/statistics.htm. [Ghi chú: Có một khác biệt nhỏ giữa tổng số người khiếm thị trong bảng 5A và con số trong trang web của RNIB. Đó là do bảng 5A dựa trên số liệu năm 2001 còn trang web thì sử dụng số liệu năm 1996. Trang web của RNIB sẽ sớm được cập nhật].

Bộ Y tế của Anh quốc cũng có trang web trong đó có các số liệu thống kê về tổng số người khiếm thị tại Anh quốc: www.doh.gov.uk/public/blindandpartiallysighted.

 


Back to Chapter index
5.3.2. Dự đoán số lượng người khiếm thị

Theo dự đoán này thì trong 50 năm tới, số lượng trẻ em khiếm thị từ 14 tuổi trở xuống sẽ giảm, số lượng người khiếm thị từ 15 đến 64 tuổi sẽ không đổi và số lượng người khiếm thị trên 65 tuổi (nhất là những người trên 75 tuổi) sẽ tăng.

Cho là tỉ lệ khiếm thị không thay đổi, bảng 5B cho thấy những dự đoán của chính phủ rằng số lượng trẻ khiếm thị dưới 14 tuổi giảm từ 22,500 năm 2001 xuống còn 20,000 vào năm 2051. Trong cùng giai đoạn đó, số lượng khiếm thị độ tuổi 15 đến 64 vẫn giữ trong khoảng 160,000 người.

Bảng 5B cũng cho thấy rằng số lượng người khiếm thị độ tuổi 65-74 dự đoán sẽ tăng từ 122,925 năm 2001 lên đến 137,100 vào năm 2011; 166,225 vào năm 2021 và 196,350 vào năm 2031. Sau đó, số lượng sẽ hơi giảm còn 189,000 vào năm 2041 và 175,475 vào năm 2051.

Số lượng người khiếm thị trên 75 tuổi sẽ tăng đáng kể và sẽ tăng đến gấp đôi sau 50 năm. Các số liệu cho thấy từ 801,360 năm 2001 sẽ tăng lên đến 854,820 vào năm 2011; 1,008,360 vào năm 2021; 1,257,300 vào năm 2031; 1,535,940 vào năm 2041 và 1,605,420 vào năm 2051. Hình 5a cho thấy đường biểu diễn rất rõ nét.

 

Bảng 5B: Dự đoán số lượng người khiếm thị 2001-2051

 

Năm

Nhóm
tuổi

2001

2011

2021

2031

2041

2051

0-14

22,480

20,622

20,820

20,924

20,148

20,044

15-64

156,320

165,644

165,768

161,068

158,620

157,572

65-74

122,925

137,100

166,225

196,350

189,000

175,475

75+

801,360

854,820

1,008,360

1,257,300

1,535,940

1,605,420

 

Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Y tế và RNIB

 

Hình 5a:

 

Dự đoán số lượng người khiếm thị 2001-2005


Back to Chapter index
5.4. Tuổi khởi phát khiếm thị

Khảo sát của RNIB trên những người khiếm thị về tuổi khởi phát bệnh, 31% người trả lời nói rằng khởi phát khi còn ở độ tuổi lao động (17-59 tuổi), nhưng đa số (56%) cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau. Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi còn dưới 16 tuổi. (Ibid).


Back to Chapter index
5.5. Giới tính

Hình 5b: Phân bố giới tính theo tuổi

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992

Trẻ nam khiếm thị hơn nhiều hơn trẻ nữ khiếm thị. Thật vậy, 70% trẻ bị khiếm thị 12-15 tuổi là nam. Trong độ tuổi lao động, tỉ lệ nữ bị khiếm thị hơi cao hơn so với nam. Còn sau 60 tuổi thì tỉ lệ nữ bị khiếm thị cao hơn đáng kể so với nam giới.

 


Back to Chapter index
5.6.1. Các yếu tố kinh tế - xã hội

Ước tính chỉ có khoảng 25% người khiếm thị độ tuổi lao động là có việc làm (được trả lương). 46% những người khiếm thị không có thu nhập nói rằng họ muốn được làm việc (Ibid).

 

Khảo sát của RNIB (Ibid) cho thấy có 31% người khiếm thị độ tuổi lao động có thu nhập thấp hơn 1/3 thu nhập trung bình. 

 

40% người lớn khiếm thị sống trong viện dưỡng lão địa phương. Độ tuổi 60-74 có tỉ lệ sống ở viện dưỡng lão địa phương cao (58%) và thấp hơn ở độ tuổi 16-59 (40%) và trên 75 tuổi (43%) (Ibid). Ở người khiếm thị hoàn toàn thì tỉ lệ sống ở viện dưỡng lão địa phương gấp 1.75 lần so với những người sống ở nhà (Grundy và cộng sự, 1999).

 

45% người lớn khiếm thị sống ở nhà (Bruce và cộng sự, 1991) so với 11% trong dân số nói chung (Số liệu của Cơ quan thống kê quốc gia).

 

Người khiếm thị cao tuổi thích sống ở nhà của mình. 50% người khiếm thị trên 75 tuổi sống tự lo, so với 44% người khiếm thị độ tuổi 60-74 tuổi và 19% ở độ tuổi 16-59 tuổi.


Back to Chapter index
5.6.2. Đa khuyết tật

22% người khiếm thị tuổi từ 60 trở lên có sử dụng máy trợ thính. 35% người lớn khiếm thị bị rối loạn khả năng nghe (Bruce và cộng sự, 1991).

45% người khiếm thị cho biết họ thường hay đau ốm và bệnh tật (ngoài những vấn đề về mắt) nên thường gặp khó khăn khi làm những công việc hàng ngày trong nhà hay khi ra đường. Tỉ lệ này tương tự ở người lớn khiếm thị và ở tất cả các độ tuổi. (Ibid).

 


Back to Chapter index
5.6.3. Khả năng đi lại

32% người lớn khiếm thị nói rằng họ bị giới hạn rất nhiều trong việc đi lại khi ra đường và 26% nói rằng họ bị giới hạn hoàn toàn khả năng đi lại ngoài đường (Ibid). Chỉ có 48% tự tin khi đi bộ một mình trong khu vực mà họ sinh sống (Ibid).

Chỉ một tỉ lệ nhỏ người lớn khiếm thị dùng phương tiện hỗ trợ đi lại. 22% người khiếm thị từ 16 tuổi trở lên dùng gậy trắng và 1% có chó dẫn đường (Ibid).

 


Back to Chapter index
5.6.4. Nguồn thông tin

Hình 5c: Những nguồn chính cung cấp thông tin cho người lớn khiếm thị

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

85% người lớn khiếm thị tiếp cận thông tin qua nói chuyện trực tiếp. Ngoài ra nguốn tiếp cận thông tin quan trọng khác là các phương tiện truyền thông. Tivi chiếm 64%, radio chiếm 63% và báo, tạp chí chiếm 41% là các nguồn tiếp cận thông tin quan trọng. Ngoài ra, băng đĩa hay sách nói chiếm 13%, báo nói chiếm 7% và sách viết bằng chữ Braille chiếm 1% cũng là những nguồn quan trọng.

Ngoài ra, hiện nay máy vi tính cũng được sử dụng rộng rãi và trở thành một phương tiện cung cấp thông tin quan trọng cho người khiếm thị.

 


Back to Chapter index
5.6.5.1. Nhu cầu đọc lớn hơn sau khi bị giảm thị lực

Một khảo sát từ các khách hàng của 2 cửa hàng sách nghe dành cho người khiếm thị (Chartres, 1998), trên 2/3 người trả lời (68%) rằng họ đọc nhiều hơn sau khi bị khiếm thị.

Trong nhóm những người cho biết rằng họ đọc nhiều hơn sau khi bị khiếm thị, 67% cho rằng lý do chính là do có nhiều thời gian rảnh. 14% cho rằng đọc là một điều thích thú mới sau khi bị khiếm thị.

Nói chung, 82% trả lời cho rằng đọc là một phần rất quan trọng trong thời gian rỗi của họ. 63% dành thời gian đọc trên 2 giờ mỗi ngày.

 


Back to Chapter index
5.6.5.2. Các thể loại đọc

Dữ liệu trong bảng 5C cho rằng việc giảm thị lực làm giảm đọc báo, tạp chí nhưng lại tăng đọc sách.

 

Về báo và tạp chí, chỉ có báo địa phương và chương trình tivi/ radio là còn được trên 10% người đọc sau khi bị khiếm thị. Giảm nhiều nhất là số người đọc nhật báo, giảm từ 70% xuống còn 9%. Số người đọc chuyện trinh thám tăng 11% và các loại sách không phải thể loại trinh thám tăng 8%.

 

Bảng 5C: Các thể loại đọc trước và sau khi bị khiếm thị

 

 

Nguồn: Chartres, 1998

 

Ghi chú 2: Từ một thăm dò trên 1,067 khách đến 2 cửa hàng sách dành cho người khiếm thị. Tóm lại, sau khi giảm thị lực, số người đọc tăng lên nhưng giảm thể loại đọc.


Back to Chapter index
5.6.5.3. Hình thức đọc

Hình 5d: Hình thức đọc thường được người lớn khiếm thị chọn

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

 

Ghi chú 3: Người trả lời được quyền chọn từ 1 hình thức trở lên, cho nên tổng số cộng lại không đủ 100% 

 

Cần lưu ý rằng những người đọc sách báo chữ bình thường có thể sử dụng kính lúp hay những dụng cụ phóng to khác. Chẳng hạn, 60% người trên 60 tuổi có sử dụng kính lúp cầm tay (Bruce và cộng sự, 1991). 

 

Gần phân nửa (48%) đọc sách báo chữ bình thường, 24% thường đọc sách báo chữ to và 13% thường nghe băng đĩa. Chỉ có 1% thường đọc chữ Braille. 21% thường có người đọc cho nghe.

 

  • Sách báo : 58% người khiếm thị có thể đọc với số lượng nhỏ các tài liệu với loại phông chữ 16 và in đậm. Trong đó có 36% được xác nhận và có thẻ “khiếm thị” và 75% hội đủ các yếu tố để được xem là khiếm thị (Ibid). Khoảng 25% người khiếm thị đọc các loại sách chữ bình thường và chữ to. Như được mô tả trong bảng 5D, có khoảng 1/3 (31%) trong số đó có tuổi 16-59 tuổi và ¼ (24%) trong số đó có tuổi dưới 60 tuổi đọc sách chữ bình thường (31% so với 23%). Sách có chữ to có tỉ lệ đọc tương tự giữa 2 nhóm tuổi (21% và 23%).

    Bảng 5D: Tỉ lệ % người lớn khiếm thị đọc sách in

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991.

Bảng 5E: Số lượng sách chữ to được đọc-theo nhóm tuổi

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

  • Băng cassette : 46% người khiếm thị có máy nghe băng đĩa (Ibid). Một nghiên cứu năm 2001 cho thấy có 78% người lớn khiếm thị có máy cassette (Bruce và Baker, 2001). Chỉ có 3% người lớn khiếm thị nghe sách qua băng cassette, nhưng có 13% xem đó như mà một trong những phương tiện để đọc mà họ sử dụng thường xuyên nhất (Bruce và cộng sự, 1991).

    Gần đây, tổ chức LISU (Library and Information Statistics Unit) khảo sát và nhận thấy rằng 83% người lớn khiếm thị dùng máy cassette và CD để đọc (Davies và cộng sự, 2001). 

    Hiện nay các loại sách nói ngày càng phổ biến và rẻ hơn và do đó nhu cầu về thể loại này ngày càng gia tăng kể từ nghiên cứu của Bruce và cộng sự tiến hành năm 1991 và điều này có thể được phản ánh bởi sự gia tăng số người khiếm thị có sở hữu máy cassette từ năm 1991 đến năm 2001. Kết quả của một nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng băng cassette là thể loại sách đọc phổ biến của người khiếm thị (Moore, 2000). 

    25% người mù và 4% người khiếm thị một phần có máy nghe sách nói (RNIB Talking Books player) mặc dù cũng tương đối ít người biết đến dịch vụ này – 47% người mù và 59% người khiếm thị một phần không biết đến dịch vụ sách nói và chỉ có 13% biết rằng nhà sách có thể cung cấp cho họ những thông tin về sách nói (Bruce và Baker, 2001). LISU cho biết có ít người sử dụng máy nghe sách nói (RNIB Talking Books) (13%) nhưng con số này có thể tăng lên do cách lấy mẫu khác nhau. (Davies và cộng sự, 2001).
  • CD
    33% người khiếm thị có máy nghe CD nhưng tỉ lệ này thay đổi giữa các nhóm tuổi: 66% dưới 60 tuổi, so với 32% ở độ tuổi 60-74 tuổi và 12% từ 75 tuổi trở lên (Bruce và Baker, 2001). Một khảo sát của LISU thấy rằng có ít người sử dụng máy CD để đọc (Davies và cộng sự, 2001). Ví dụ, chỉ có 7% người khiếm thị độ tuổi 25-64 tuổi thích sử dụng máy CD để đọc. [Ghi chú: LISU đã đánh giá sự ưa thích sử dụng máy CD để đọc và RNIB đã đánh giá có bao nhiêu người có sử dụng máy nghe CD].
  • Chữ Braille
    Chỉ có 4% người mù và 0.4% người khiếm thị một phần đọc sách Braille (Bruce và Baker, 2001). Nghiên cứu trước đó cho thấy có sự khác biệt đáng kể theo tuổi tác. Ví dụ, 14% người độ tuổi 16-59 và 1% người trên 60 tuổi có thể đọc chữ Braille (Bruce và cộng sự, 1991).
  • Máy vi tính
    Máy vi tính đang trở thành một phương tiện quan trọng để tiếp cận thông tin cho người khiếm thị với các thiết bị hỗ trợ như màn hình phóng to hay thiết bị chuyển văn bản thành lời nói, qua đó người khiếm thị có thể tra cứu thông tin trên đĩa hay truy cập thông tin trên internet.
  •  
  • 11% người khiếm thị nói rằng họ có sử dụng máy vi tính, nhưng có sự khác biệt đáng kể theo tuổi tác. 31% có tuổi 16-59 và chỉ có khoảng 2% trên 60 tuổi sử dụng máy vi tính (Bruce và Baker, 2001). Hiện nay, số người sử dụng máy vi tính sẽ tăng nhiều hơn so với số liệu trong nghiên cứu này thực hiện từ năm 1998 đến 2000. Trong những người sử dụng máy vi tính, 78% sử dụng màn hình bình thường, 20% sử dụng thiết bị phóng to màn hình và 14% sử dụng thiết bị chuyển bản văn thành lời nói (Ibid). LISU cho rằng số người sử dụng máy vi tính nhiều hơn (Davies và cộng sự, 2001). Ví dụ, họ tổng kết có 53% người khiếm thị 25-64 tuổi sử dụng máy vi tính. [Ghi chú: Có một số khác nhau giữa ước lượng của RNIB và LISU do số lượng mẫu nghiên cứu khác nhau (n=134 trong nghiên cứu của LISU và n=418 trong nghiên cứu của RNIB. Mẫu nghiên cứu càng ít thì tính chính xác thấp hơn so với nghiên cứu có số mẫu nghiên cứu nhiều hơn].

    Back to Chapter index
    5.6.6. Sử dụng thư viện tại chỗ

    Tỉ lệ người khiếm thị là thành viên của các thư viện có sự khác nhau đáng kể giữa các địa phương. Một số vùng chỉ có 2% người khiếm thị là thành viên của thư viện, trong khi đó có vùng tỉ lệ người khiếm thị là thành viên của thư viện chiếm đến 55%. Số liệu này so sánh với tỉ 58% ở toàn thể nước Anh. (Kinnell và cộng sự, 2000). 

     

    Số liệu ghi nhận từ 2 địa phương ở Anh quốc cho thấy rằng có khoảng 6% sách cho mượn ở thư viện thuộc loại chữ to (số liệu không công bố được cung cấp bởi Hội đồng thành phố của 2 địa phương Gloucestershire và Essex). Ngành thư viện ở Anh quốc ước tính rằng ở Anh quốc có khoảng 9% - tương đương với 46 triệu sách – thuộc loại chữ to hàng năm. 

     

    Có 2 thư viện sách nói lớn ở Anh quốc là thư viện sách nói RNIB có khoảng 50,000 thành viên và Calibre có khoảng 15,000 thành viên. Đa số các thông tin trong phần này được lấy từ khảo sát của Chartres (1998) trên các thành viên của các thư viện kể trên. Cần lưu ý rằng các số liệu này không thể đại diện cho toàn bộ cộng đồng người lớn khiếm thị trên khắp nơi.


    Back to Chapter index
    5.6.6.1. Tỷ lệ người khiếm thị đến thư viện

    Chartres (Ibid) tổng kết có khoảng 42% người sử dụng sách nói  có đến thư viện sách của địa phương. Trong số đó, đa số tự đi, 38% nhờ người thân đi thay và 15% tự đi hoặc nhờ người thân. Còn theo nghiên cứu LISU thì có khoảng 31% người khiếm thị đến thư viện trong 6 tháng gần nhất (Davies và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.6.6.2. Tần số của việc sử dụng thư viện

    Bảng 5F cho thấy tần số của những người tự đi thư viện. 34% đi mỗi tuần, khoảng 49% đi mỗi tuần hay mỗi tháng một lần và 17% đi dưới 1 lần mỗi tháng.

     

    Bảng 5F: Tần số sử dụng thư viện địa phương
    (Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.6.3. Chọn sách

    Người khiếm thị thường nhờ giúp đỡ của nhân viên thư viện hoặc người thân khi chọn lựa sách nói cũng như sách in. Tuy nhiên 23% trong số họ thường tự mình chọn lựa và 9% chọn lựa thông qua danh mục sách niêm yết. LISU cũng nhận thấy rằng có khoảng 60% người khiếm thị đến thư viện có người khác đi chung (Davies và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.6.6.4. Đánh giá chất lượng thư viện

    Bảng 5G cho kết quả đánh giá của người khiếm thị sử dụng thư viện về chất lượng thư viện trên nhiều khía cạnh khác nhau. Thuận tiện đi lại trong thư viện chiếm 85%, chất lượng phục vụ tốt của nhân viên thư viện chiếm 93%. Nhưng LISU nhận thấy có 50% người khiếm thị đến thư viện gặp khó khăn khi đi lại trong thư viện (Davies và cộng sự, 2001). [Ghi chú: Sự khác biệt này là do Chartres lấy mẫu không điển hình]. Sử dụng các phương tiện di chuyển công cộng được đánh giá không cao so với số chủng loại sách và hình thức tiếp cận thông tin. 

     

    Một tỉ lệ lớn người trả lời cho rằng họ không biết làm thế nào để đánh giá chất lượng ánh sáng ở bên trong và bên ngoài thư viện, số chủng loại sách có trong thư viện và danh mục tựa sách dưới nhiều dạng trình bày khác nhau. Lý do của sự do dự khi trả lời không rõ lắm.

     

    Bảng 5G: Đánh giá của người được phỏng vấn trên chất lượng của dịch vụ ở thư viện (Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.6.5. Nguyên nhân người khiếm thị không sử dụng thư viện địa phương

    58% trả lời trong thăm dò của Chartres rằng họ không sử dụng thư viện địa phương. Họ được yêu cầu cho biết những nguyên nhân chính (xem Bảng 5H).

     

    "Nguyên nhân chính" là do khó khăn khi đến thư viện (41%). Điều này phù hợp với việc đi lại khó khăn của người khiếm thị (xem (5.6.3).

     

    Hai nguyên nhân chính nữa là do có ít loại sách chữ to hay sách nói (19%) và họ thích đến thư viện chuyên về sách nói hơn (11%).

     

    Bảng 5H: Lý do tại sao người khiếm thị ít đến thư viện của địa phương

     

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.7. Giáo dục bổ túc

    Có khoảng 4,500 người khiếm thị theo học tại các trường giáo dục bổ túc ở Anh quốc (Simkiss và cộng sự, 1998).


    Back to Chapter index
    5.6.7.1. Các hình thức đọc ưa chuộng của học sinh khiếm thị theo hệ bổ túc

    Có 30% chọn học bằng chữ Braille, tuy nhiên tỉ lệ rất khác nhau giữa các nhóm tuổi, chẳng hạn như chỉ có 14% người khiếm thị ở độ tuổi 16-59 là có thể đọc được chữ Braille- xem phần 5.6.5.3. ; 5% thích học bằng máy vi tính (Ibid). 

     

    Học sinh khiếm thị tại các trường giáo dục bổ túc thích học bằng chữ Braille hơn (49%) so với học sinh khiếm thị tại các trường đào tạo chính qui (21%). Ngược lại, học sinh khiếm thị tại các trường đào tạo chính qui thì lại thích học bằng máy vi tính hơn (43%) so với học sinh khiếm thị tại các trường giáo dục bổ túc.

     

    Bảng 5I: Các phương tiện đọc được học sinh khiếm thị ưa chuộng tại các trường giáo dục bổ túc

     

     

    Nguồn: Simkiss và cộng sự, 1998, trang 17

     

    Ghi chú 4: Dành cho các trường Giáo dục bổ túc và Trung cấp dành riêng cho những người có nhu cầu đặc biệt.

     


    Back to Chapter index
    5.6.8. Giáo dục đại học

    Có khoảng 2,800 học sinh khiếm thị đang theo các chương trình giáo dục đại học, trong đó có khoảng 750 là sinh viên của Đại học mở (Ibid).

    Sinh viên khiếm thị theo các chương trình giáo dục bậc đại học thường lớn tuổi hơn các sinh viên khác. Có 66% từ 26 tuổi trở lên khi bắt đầu chương trình học, so với 40% sinh viên ở độ tuổi này theo học các chương trình giáo dục cao hơn nói chung (Ibid).

     


    Back to Chapter index
    5.7. Trẻ em bị khiếm thị

    Ước tính có khoảng 22,500 trẻ em bị khiếm thị ở Anh quốc, tuy nhiên số thực tế có thể khác do cách lấy mẫu. Ở các trẻ em này, có ít nhất 36% bị thêm bệnh khác ngoài bệnh mắt. Những trẻ em này có những nhu cầu phức tạp để bổ sung cho sự suy giảm thị lực. 2/3 còn lại ít có nhu cầu đặc biệt hơn thì có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản. Phần này mô tả những bệnh lý chính, việc đọc và học trong 2 nhóm trẻ nêu trên.


    Back to Chapter index
    5.7.1.1. Trẻ bị thêm bệnh khác

    Trong nhóm trẻ bị thêm bệnh khác ngoài bệnh mắt, ước tính có khoảng 29% bị bại não, 26% bị bệnh lý khác có ảnh hưởng đến hoạt động của cơ thể như viêm khớp hay có vấn đề ở tủy sống, và 26% bị bệnh khác như hen phế quản, động kinh, tiểu đường (Crofts và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.7.1.2. Trẻ khiếm thị còn có khả năng học các chương trình giáo dục cơ bản

    Ở các trẻ khiếm thị tuổi từ 5 đến 16 tuổi có khả năng theo học các chương trình giáo dục cơ bản thì có khoảng 30% bị thêm một hoặc nhiều bệnh lý khác. Trong nhóm này, có khoảng 37% bị bệnh phải dùng thuốc, 20% bị khó khăn trong việc vận động, 19% bị khó khăn khi tiếp thu bài vở, 12% bị giảm thính lực và 10% bị bệnh lý di truyền phức tạp (Crofts và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.7.2. Khả năng đọc

    Nhiều trẻ khiếm thị vần còn khả năng nhìn được. Có 51% có thể nhặt đồng xu mà không phải mò mẫm, và ¼ có thể nhận ra người quen đi ngang qua mặt ở ngoài đường (Walker và cộng sự, 1992). 

     

    Đa số trẻ khiếm thị trong nhóm còn có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản có thể đọc và viết chữ to nếu có đủ ánh sáng. Nhiều trẻ sử dụng thiết bị phóng to để phóng to chữ lên. 34% có thể đọc được chữ in bình thường, 27% đọc được chữ in to và 18% có thể đọc được cả hai (Franklin và cộng sự, 2001). Chỉ có 4% trẻ khiếm thị đọc được chữ Braille (Clunies-Ross và cộng sự, 1999).


    Back to Chapter index
    5.7.3. Trường học

    Hình 5e: Các loại trường ở Anh quốc có trẻ khiếm thị theo học

     

    Nguồn: Clunies-Ross và cộng sự, 1999

     

    Hình 5e cho thấy rằng đa số (60%) trẻ khiếm thị theo học tại các trường bình thường. Chỉ có 7% trẻ khiếm thị ở Anh quốc theo học tại các trường đặc biệt dành cho trẻ khiếm thị, so với 22% ở năm 1988. Có 31% theo học tại các loại trường đặc biệt khác. Điều này có nghĩa là nhiều trường học có trang bị thư viện sách dành cho người khiếm thị để học tập và giải trí.

     


    Back to Chapter index
    5.8.1. Tình trạng bệnh tật

    Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết hiện nay ở Việt Nam có trên 5,1 triệu người tàn tật và trẻ mồ côi, chiếm 7% dân số. Điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra vả lại hậu quả mấy chục năm chiến tranh còn kéo dài nên số lượng người tàn tật ở Việt Nam là khá lớn.

    Thực ra, Việt Nam chưa có một cuộc điều tra có quy mô toàn quốc đủ lớn và toàn diện về vấn đề người tàn tật để có những số liệu đáng tin cậy: tổng số người tàn tật, độ tuổi, giới tính, nguyên nhân, các dạng tàn tật, những thông tin về đặc tính của người tàn tật, các dạng dịch vụ mà những người tàn tật được thụ hưởng cũng như nhu cầu của người tàn tật…

    Trong những năm gần đây, với chức năng, nhiệm vụ được giao, nhiều tổ chức, cơ quan Việt Nam đã tiến hành một số cuộc điều tra, khảo sát về vấn đề người tàn tật. Song các cuộc điều tra này với quy mô hạn hẹp chỉ phục vụ cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ hoặc yêu cầu cụ thể của ngành hay địa phương. Đó là chưa kể đến sự thiếu nhất quán, không rõ ràng ngay từ những khái niệm, định nghĩa, cho tới các tiêu chí phân loại, các chỉ tiêu đánh giá, nội dung và phương thức tiến hành của các cuộc khảo sát về vấn đề người tàn tật đã dẫn đến kết quả là nhiều số liệu còn thiếu, hoặc trùng lặp, các kết quả điều tra khảo sát chưa phản ánh đầy đủ về hiện trạng vấn đề người tàn tật Việt Nam, nhiều khi các số liệu khác biệt nhau quá lớn và không thể so sánh với nhau được…

    Tham khảo các báo cáo kết quả điều tra (1994 – 1995, 1998) của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; các tài liệu khảo sát của Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, các số liệu báo cáo của mạng lưới chỉnh hình phục hồi chức năng; ý kiến của cộng đồng; các tài liệu nghiên cứu, khảo sát của một số tổ chức Quốc tế đã tiến hành tại Việt Nam, thực trạng về người tàn tật trong đó có người khiếm thị ở Việt Nam có thể được phản ánh theo các điểm sau đây:

    Các dạng tật chủ yếu và các nguyên nhân:

    Các dạng tật:

    Dạng tật

    Vận động

    Thị giác

    Thính giác

    Ngôn ngữ

    Trí tuệ

    Thần kinh

    Tỉ lệ %

    35,46

    15,70

    9,21

    7,92

    9,11

    13,93

    Nguyên nhân của các dạng tật:

    Thứ tự

    Nguyên nhân

    Tỉ lệ  % so với người tàn tật

    Tỉ lệ %

    Nam %

    Nữ %

    1

    Bẩm sinh

    34,15

    30,44

    40,61

    2

    Bệnh tật

    35,75

    29,75

    46,11

    3

    Tai nạn lao động

    1,98

    2,36

    1,32

    4

    Tai nạn giao thông

    5,52

    6,75

    3,38

    5

    Tai nạn chiến tranh

    19,07

    27,07

    5,14

    6

    Nguyên nhân khác

    3,55

    3,63

    3,44

     

     

    100

    100

    100

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Các bảng trên đây cho thấy người tàn tật cơ quan vận động chiếm tỉ lệ cao nhất: 35,46% sau đó là thị giác: 15,70% và thần kinh chiếm 13,93%. Nguyên nhân dẫn tới tàn tật là do: bẩm sinh chiếm 34,15%, bệnh tật chiếm 35,75% và tai nạn chiến tranh là 19,07%. Riêng nguyên nhân tai nạn chiến tranh tỉ lệ nam tàn tật cao hơn nhiều so với tỉ lệ của nữ. Tỉ lệ người đa tật chiếm khá cao: 20,22% trong tổng số nguời tàn tật.

    Nói về hiện trạng người tàn tật có liên quan tới mắt; hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 45 triệu người mù và 135 triệu người khiếm thị. Trong số những người mù và khiếm thị, có đến 90% số người mù lòa sống ở các quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam được xếp trong nhóm các nước này. Mặt khác, số lượng người mù trên thế giới có xu hướng gia tăng. Dự tính do sự gia tăng dân số, tăng tuổi thọ và một số nguyên nhân khác, số người mù trên thế giới sẽ tăng gấp 2 lần vào năm 2020 nếu như chúng ta không có những biện pháp phòng chống mù lòa hữu hiệu. Theo cách tính này, đến năm 2020 ở Việt Nam sẽ có hơn một triệu người mù và hơn ba triệu người khiếm thị. Có thể thấy gánh nặng mù lòa ngày càng gia tăng sẽ gây trở ngại lớn trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

    Theo thống kê của Viện Mắt Trung ương, nước ta hiện có khoảng 900.000 người khiếm thị, trong đó có khoảng hơn 600.000 thuộc đối tượng mù chiếm 1,2% dân số cả nước.

    Kết quả điều tra về tình hình mù lòa (năm 2002):

    Bảng 3: Nguyên nhân gây mù ở Việt Nam qua điều tra:

    Nguyên nhân mù

    Điều tra 2000-2002  (8 vùng sinh thái)

    Số khám điều tra

    13,896

    1. Đục thể thuỷ tinh

    2. Bệnh đáy mắt

    3. Glôcôm

    4. Mắt hột (CO)

    5. Sẹo giác mạc khác

    6. Tật khúc xạ

    7. Mổ TTT không chỉnh kính

    8. Biến chứng phẫu thuật

    9. Nguyên nhân khác

    71,3

    11,5

    5,7

    2,7

    2,3

    0,8

    1,7

    1,8

    2,3

                    Cộng

    100 %

    Tỷ lệ mù 2 mắt (ở người > 50 tuổi)

    4,76%

     Tỷ lệ mù 2 mắt (toàn dân)    

    0,63% (ước tính)

    Theo kết quả của điều tra trên, tỷ lệ mù 2 mắt do mọi nguyên nhân ở người từ 50 tuổi trở lên qua điều tra ở miền Bắc là 4,34%, thấp hơn có ý nghĩa so với ở miền Nam là 5,17%, trong đó tỷ lệ mù 2 mắt do đục thể thuỷ tinh trong suốt thời gian 2 thập kỷ qua vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây mù ở nước ta, chiếm tới 71,3%, sau đó đến các bệnh bán phần sau nhãn cầu ( dịch kính, võng mạc, thị thần kinh, màng bồ đào) chiếm 11,5%. Glocom là nguyên nhân gây mù thứ 3, chiếm tới 5,7%.

    Như vậy, ước tính theo tỷ lệ mù ở dân số, thì hiện nay cả nước ta có ít nhất 482,700 người bị mù 2 mắt và 891,000 người mù 1 mắt. Trong số đó có khoảng 344,000 người mù 2 mắt (chiếm 71,3%) và 504,500 người bị mù 1 mắt (chiếm 56,6%) do đục thể thuỷ tinh cần được mổ.


    Back to Chapter index
    5.8.2. Hoàn cảnh sống, việc làm và học tập

    Hoàn cảnh sống và việc làm

    Báo cáo của Tiến sĩ Ôn Tuấn Bảo, Giám đốc văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật ở Việt Nam, về tổng quan tình hình người tàn tật Việt Nam và sự hỗ trợ của chính phủ cho biết:

    Phần lớn người tàn tật sống cùng với gia đình, chiếm tỉ lệ: 95,85%. Số người tàn tật sống độc thân chiếm 3,31%. Tỉ lệ người tàn tật sống trong trại bảo trợ xã hội của nhà nước là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi: 15 – 55 chiếm 54,17% và nhóm tuổi dưới 15 chiếm 28,85%). Người tàn tật sống lang thang là 0,62%.

    Vẫn còn khó khăn khi người tàn tật đi ra ngoài một mình vì thành phố thiếu những đường đi và phương tiện giao thông có thiết kế đặc biệt dành cho người khuyết tật. Việt Nam chưa có cơ sở hạ tầng như là những lối đi trong công viên công cộng dành cho người khuyết tật và hệ thống giao thông hữu ích để người khuyết tật có thể đi ra ngoài mà không cần nhiều đến sự trợ giúp của người nhà. Theo Vietnamnet về chương trình người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng thì phần lớn các công trình đang xây dựng và sử dụng đều thiếu phương tiện và trang thiết bị cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội.

    Cả nước có 58,18% số người tàn tật có việc làm, tự nuôi sống mình và tham gia đóng góp cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau. Tỉ lệ người tàn tật có nhu cầu song chưa có việc làm là 30,43%. Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ là hai vùng có số người tàn tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương ứng là 41,86% và 35,77%. Đây là một nhiệm vụ cấp bách cần được đề cập trong các chương trình, dự án hỗ trợ người tàn tật để giúp họ có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng.

    Người bị tàn tật đa số là do bẩm sinh, bệnh tật và tai nạn lao động. Đặc biệt, có tới 20% bị đa tàn tật (vừa câm, vừa điếc hoặc bị khiếm khuyết cả về vận động, thị giác, trí tuệ...). Sức khoẻ yếu, lại không được học hành đầy đủ (chỉ gần 6% người tàn tật học hết trình độ trung học phổ thông, trên 20% có trình độ trung học cơ sở), nên cơ hội kiếm việc làm của họ gần như không có. Đây là nguyên nhân chính khiến họ không tìm được việc làm, phải sống dựa vào gia đình và trợ cấp xã hội.

    Một nguyên nhân khác theo ông Đoàn Soát, Chủ tịch Hội người mù Việt Nam, quy định tỷ lệ 2% người tàn tật vào làm việc ở các cơ quan hành chính, doanh nghiệp chưa được thực hiện. Nhà nước cũng chưa có chế tài, chưa có cơ quan nào được phân công giám sát các cơ quan hành chính, doanh nghiệp thực hiện quy định này. Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có 5 triệu người tàn tật, chiếm 6,4% dân số. Người ở độ tuổi lao động chiếm 69% và 50% số này đang tham gia sản xuất. Hơn 400 cơ sở của người tàn tật đã tạo việc làm cho 20.000 người khuyết tật. Luật pháp VN quy định các doanh nghiệp trên lãnh thổ có trách nhiệm nhận lao động là người tàn tật vào làm việc với tỉ lệ 2% - 3% so với tổng số lao động. Doanh nghiệp nào không thực hiện được thì phải trích một phần lợi nhuận để đóng góp vào quỹ hỗ trợ việc làm cho người tàn tật. VN hiện có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật

    Học tập

    Dự án giáo dục tiểu học lớn nhất của Việt Nam mang tên ''Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn'' sẽ bắt đầu được thực thi từ ngày 12/10. Điều này có nghĩa là 200 triệu USD do các nhà tài trợ cung cấp đã sẵn sàng để đến với hơn 4.200 trường học chính và gần 15 nghìn điểm trường ở Việt Nam. Mục tiêu đến năm 2009, các hướng dẫn chỉ đạo ngành sẽ được hoàn thiện nhằm tạo điều kiện hỗ trợ giáo dục cho trẻ khuyết tật và nhóm trẻ có nguy cơ thiệt thòi cao (trẻ đường phố, trẻ di cư, trẻ em gái dân tộc thiểu số và trẻ em sống ở các làng chài...). Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đặng Huỳnh Mai, Ủy ban chuyên trách về việc đưa trẻ khuyết tật tới trường học sẽ được thành lập. Thứ trưởng phát biểu: “Chúng tôi muốn đưa các em khuyết tật đi học, những em mà theo chúng tôi nên tới trường học sẽ tốt hơn là ở trong các trung tâm y tế. Có thể các em không xuất sắc lắm trong lớp học nhưng các em sẽ có cơ hội hòa nhập vào cộng đồng”. Thống kê đã chỉ ra rằng có tới 1 triệu trẻ khuyết tật ở Việt Nam, tương ứng với 3% số trẻ em trên toàn quốc. Sáu dạng tật chính là khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật tinh thần, khuyết tật vận động và không có khả năng nói. Trẻ khuyết tật tập trung nhiều nhất tại các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Theo các chuyên gia về giáo dục, nước ta cần khoảng 640.000 giáo viên để giảng dạy cho tổng số trẻ em khuyết tật trên. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã mở khoa giáo dục trẻ khuyết tật nhưng hiện tại thì đây là đơn vị duy nhất có khoa chuyên môn này. Khoa được thành lập năm 2000 và hiện có gần 90 sinh viên đang theo học. Vừa qua tại Tp.HCM đã khai trương Trường Mẫu giáo và Tiểu học cho trẻ em khuyết tật. Đây là môi trường giáo dục đầu tiên trên toàn quốc cung cấp cách giảng dạy thích hợp cho trẻ khuyết tật với chương trình giảng dạy do Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn. Ngôi trường này đã đón nhận 26 trẻ em khuyết tật trong độ tuổi từ 5 – 18 và sẽ được cung cấp chương trình học cơ bản với những kiến thức về kĩ năng sống, quan hệ giữa con người, sức khỏe và hòa nhập vào cộng đồng. Chỉ có thiểu số trẻ khuyết tật tiếp cận được với hệ thống trường học. Số trẻ còn lại được nhận thấy là khó có thể sống một cuộc sống bình thường và còn thiếu cả những yếu tố cần thiết cho cuộc sống.

    Đa số, khi phải hòa nhập với trường học của người sáng, các em phải nhờ bạn bè đọc giúp tài liệu rồi ghi âm vào băng, sau đó mở ra nghe và tự mình đánh máy bằng phần mềm dành cho người khiếm thị. Hiện nay có 3 tổ chức chính hỗ trợ cho chương trình giáo dục hòa nhập(GDHN), đó là Radda Barnen (RB), Tổ chức quốc tế Pearl S Buck (PSBI) và Tổ chức cứu trợ và phát triển (CRS). Theo thống kê của Trung tâm Tật học, Viện khoa học và giáo dục, GDHN hiện đang được triển khai thực hiện tại 51 trong tổng số 61 tỉnh/ thành phố trong cả nước với sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế và phi chính phủ khác.

    Tổ chức RB đã thực hiện chương trình GDHN từ nhiều năm trước đây. Những năm gần đây, dự án hỗ trợ tập trung ở hai tỉnh là Vĩnh Phúc và Tiền Giang. Trọng tâm của chương trình trong những năm gần đây là nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các trường hoà nhập và huy động sự tham gia và hỗ trợ của cộng đồng để đẩy mạnh chương trình giáo dục hoà nhập. Đối tượng là tất cả học sinh khuyết tật 0 - 16 tuổi tại vùng thực hiện dự án từ năm 1999, RB hỗ trợ việc xây dựng chương trình đào tạo giáo viên có trình độ cao đẳng về giáo dục hoà nhập. Chương trình này đã được thử nghiệm ở hai trường CĐSP Vĩnh Phúc và Trường CĐSP Tiền Giang (năm học 1999 - 2000) và bốn trường (Vĩnh Phúc, Tiền Giang, Thừa Thiên Huế và Phú Thọ) trong năm học 2000 - 2001.

    Tổ chức PSBI hỗ trợ thực hiện chương trình GDHN cho trẻ khiếm thính tại tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Đồng Tháp, Long An, Đồng Nai. Tỉnh Thái Nguyên có khoảng 4200 trẻ khuyết tật trong đó trẻ câm điếc là 1350, cho đến nay đã có 3 huyện tham gia dự án GDHN trẻ khiếm thính và đã đưa được 138 trẻ câm điếc ra lớp. Trong năm học 2000 - 2001 ngành giáo dục tỉnh Thái Nguyên tiếp tục triển khai thêm 2 huyện nữa. Phú Thọ có 4923 trẻ khuyết tật, tính đến tháng 4 năm 2001 đưa được 1865 trẻ ra lớp học.

    Tổ chức CRS bắt đầu thực hiện chương trình hoà nhập từ năm 1995 với 2 dự án thí điểm ở Từ Liêm (Hà Nội) và Thường Tín (Hà Tây). Từ năm 1998 đã mở rộng thêm tới 3 huyện Yên Khánh (Ninh Bình) Hoà bình và Quảng Ninh với khoảng trên 3000 trẻ khuyết tật được hưởng lợi.

    Bộ Giáo dục đặt ra chủ trương đưa 100% trẻ khuyết tật được đến trường, sử dụng công nghệ thông tin cho trẻ khiếm thị nói riêng và trẻ khuyết tật nói chung. Bộ Giáo dục xúc tiến đề nghị Chính phủ công nhận hệ thống chữ Braille là chữ viết chính thức được phép lưu hành rộng rãi trong cả nước và sớm cấp phép xuất bản sách giáo khoa cho người mù ở tất cả các cấp học. Nhưng theo bà Đặng Huỳnh Mai,Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo, Trưởng ban chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật, thủ tục cấp phép và xuất bản thường là rất lâu nên phải ít nhất 1 năm nữa người mù Việt Nam mới có thể có trong tay những cuốn sách giáo khoa mới này. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng vừa mới kiến nghị Chính phủ về hình thức giáo dục tự chọn cho trẻ khiếm thị với 3 cách: hòa nhập; bán hòa nhập và biệt lập để xây dựng chính sách chủ trương hành động cụ thể cho các trường khi tiếp nhận học sinh khiếm thị vào học tại trường.

    Một số kiến nghị được thông qua tại Diễn đàn giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại Việt Nam vào năm 2001 như: chỉ đạo sử dụng thống nhất trong nhà trường hệ thống chữ nổi cho người mù và hệ thống ngôn ngữ học ký hiệu cho người điếc; nghiên cứu xuất bản sách giáo khoa chữ nổi, đồ dùng dạy và họ cho trẻ khuyết tật học hoà nhập. Hiện nay một số trẻ khuyết tật nặng về thị giác, thính giác, ngôn ngữ chỉ học được hết tiểu học và không được học lên trung học cơ sở vì các trường đó không có các giáo viên dạy chữ nổi hay ngôn ngữ ký hiệu và kiến nghị Bộ Giáo Dục và Đào tạo có kế hoạch triển khai ở các bậc học cao hơn.

    Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Văn Nhung ký công văn số 4801/ĐH&SĐH ngày 14 tháng 6 năm 2004 cho Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, các Đại học, Học viện, các Trường Đại học, Cao đẳng về Đào tạo học sinh khiếm thị.

    Trong những năm qua, một số học sinh khiếm thị tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có nguyện vọng xin học các trường đào tạo (đại học, cao đẳng, THCN, dạy nghề). Tuy chưa có quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng để tạo điều kiện cho học sinh khiếm thị hoà nhập cộng đồng, một số trường đã tiếp nhận đào tạo.

    Nay, để bảo đảm quyền lợi cho học sinh khiếm thị và để các trường có cơ sở xem xét giải quyết, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn như sau:

    ·         Trường đào tạo nào, ngành học nào có điều kiện đào tạo học sinh khiếm thị thì được tiếp nhận đào tạo theo các điều kiện do trường quy định phù hợp với thực tế của trường và yêu cầu đào tạo của ngành học (thi tuyển hay xét tuyển, cam kết của gia đình học sinh bảo đảm điều kiện đi lại, sinh hoạt, học tập của học sinh...).

    ·         Trong quá trình đào tạo, tuỳ theo khả năng học tập thực tế của học sinh, sinh viên khiếm thị, các trường quyết định về chế độ học bổng, học phí, môn học và việc cấp văn bằng, chứng chỉ phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Trình độ văn hóa và chuyên môn:

    Một bộ phận không nhỏ người tàn tật chưa biết chữ với tỉ lệ 35,58% chung cho toàn quốc. Riêng khu vực nông thôn là 36,9%.

    Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp I chiếm tỉ lệ 25,36%. Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp II chiếm tỉ lệ 21,46% và cấp III là 5,64% (đặc biệt người tàn tật ở khu vực đô thị có trình độ cấp III có tỉ lệ khá cao: 15,98%; so với khu vực nông thôn là 4,31%).

    Phần lớn người tàn tật không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 97,64%. Chỉ có một bộ phận nhỏ người tàn tật được đào tạo (công nhân kỹ thuật: 1,22%; trung học chuyên nghiệp: 90,53%; cao đẳng và đại học 0,61%).

    Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho người tàn tật, khâu quan trọng nhất để tạo điều kiện cho người tàn tật có thể tham gia hòa nhập với cộng đồng ở Việt Nam còn là một nhiệm vụ rất lớn và nặng nề. Hiện nay, cả nước có khoảng 1 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm 3% trẻ em nói chung ở lứa tuổi dưới 18. Mục tiêu của Việt Nam là sẽ đưa 50% trẻ em khuyết tật tới trường vào năm 2005 và 70% vào năm 2010 so với mức hiện nay là 20 – 30%.

    Nguyện vọng của người tàn tật:

    Theo kết quả điều tra, trong tổng số người tàn tật được hỏi ý kiến thì

    48,5% số người tàn tật mong muốn nhà nước trợ cấp vốn để tự tạo việc làm

    23,9% có nguyện  vọng phục hồi chức năng;

    13,56% có nhu cầu được bố trí việc làm;

    9,98% mong muốn nhà nước thu hút vào các cơ sở bảo trợ xã hội

    4,08% có nguyện vọng được học nghề.

    Nếu tính gộp các nhu cầu được trợ cấp vốn để tự tạo việc làm và có nguyện vọng được đào tạo thì tỉ lệ này lên tới 66,14%. Điều này chứng minh đa số người tàn tật có ý chí vươn lên để có cuộc sống tự lập, độc lập về kinh tế và hòa nhập với cộng đồng.


    Back to Chapter index
    5.9.1. Nhu cầu

    Thông qua việc thu nhận ý kiến phản hồi từ các hoạt động mở rộng trong phạm vi cả nước như Hội thảo, tập huấn, hợp tác chia sẻ nguồn lực và nhất là việc tìm hiểu bạn đọc khiếm thị tại Thư viện KHTH Tp HCM trong nhiều năm và gần đây là một số thư viện Tỉnh, thành, Hội người mù, Trường cho người mù, các Trung tâm và mái ấm nhà mở cho người khiếm thị… có thể tóm tắt nhu cầu đọc của người khiếm thị như sau:

    Về nội dung: Cũng đa dạng như các thành phần độc giả khác, tuy vậy yêu cầu nhiều nhất vẫn là sách giáo khoa phổ thông và sách học ngoại ngữ, rồi đến sách Văn học, sách về Xã hội – Chính trị, Âm nhạc, Y học cổ truyền, Tài liệu tham khảo như Từ điển, Bách khoa toàn thư, Sách giáo khoa chương trình đại học, các ngành nghề thủ công, khoa học ứng dụng như Tin học cho người mù, Tin tức nói chung.

    Về loại hình: Tài liệu in thông thường như sách, báo, tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ cho những người mắt kém nhưng cố gắng vẫn có thể tiếp cận được.

    Sách chữ nổi thường là dành cho người khiếm thị bẩm sinh, còn trẻ, rất cần thiết cho các em học sinh khiếm thị học đọc và học viết. Nhìn chung số người sử dụng chữ nổi không nhiều. Muốn đọc được chữ nổi thì phải học. Trong khi đó những người hoàn toàn khiếm thị chủ yếu là do tuổi tác, họ không học chữ nổi nữa. Người nhược thị - chiếm đa số - vẫn còn nhìn thấy được nên không cần đến chữ nổi và người mắc chứng khó đọc thì hoàn toàn không cần. Sách nói (CD, cassettes) phù hợp cho mọi người có vấn đề về mắt. Trình duyệt Web để người mù có thể đọc thông tin trên Website.

    Phương tiện hỗ trợ đọc: Máy tính và các Phần mềm chuyên dụng đọc tiếng Việt như NDC, VCL, Mata, đọc tiếng nước ngoài như Jaws, Máy đọc sách nói kỹ thuật số Victor Reader, Máy cassettes, Máy trợ thị SmartView.

    Cơ hội: - Hiện nay có rất nhiều lựa chọn để người khiếm thị có thể truy cập được thông tin. Bên cạnh chữ Braille truyền thống đã có chữ Braille được máy tính hoá (Computerised Braille) Bên cạnh sách nói dạng analog là băng cassettes đã có sách nói kỹ thuật số (Digital Talking books) và rất nhiều hỗ trợ công nghệ khác.

    Trở ngại: - Tình hình đã được cải thiện rất nhiều nhưng người khiếm thị trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng còn gặp nhiều trở ngại trong việc truy cập tài liệu, chủ yếu là:

    - Một tỉ lệ rất nhỏ tài liệu trên toàn thế giới (khoảng 2%-5%) được chuyển sang các dạng khác nhau cho người khiếm thị. Ở Việt nam, tỉ lệ này là không đáng kể.

    - Sách chữ nổi ít người sử dụng vì những lí do đã nêu trên, chiếm nhiều diện tích và khó chia sẻ.

    - Sách chữ lớn, chữ đại chưa được các nhà xuất bản ở nước ta quan tâm, trong khi đó máy trợ thị CCTV lại rất đắt, cá nhân không thể trang bị được.

    - Sách nói là băng cassetes khó tìm các đoạn cần nghe.

    - Máy tính và các ứng dụng của nó tương đối phức tạp. Cần một số mức độ tập huấn nhất định. Đọc Web hiện nay cũng còn nhiều điểm cần khắc phục. Hầu hết các Website đều thiết kế cho người sáng mắt.

    - Cơ hội sử dụng công nghệ cho người nghèo còn rất hạn chế


    Back to Chapter index
    5.9.2. Đáp ứng thông tin

    Tài liệu chữ Braille

    Hệ thống chữ Braille được đưa vào Việt Nam từ cuối thế kỉ thứ XIX. Mẫu kí hiệu Braille cho người mù ở nước ta sử dụng từ trước đến nay có sự không thống nhất giữa các miền và các trường. Nguyên nhân là do mẫu chữ Braille vào Việt Nam nguyên bản là tiếng La-tinh. Vì thế có những chữ có trong bảng chữ cái tiếng Việt mà tiếng La-tinh không có như chữ Â, Đ, Ê, Ô cho nên các trường khiếm thị ở các địa phương tự nghĩ ra cách kí hiệu theo đặc thù riêng để dùng cho trường mình. Điều đó dẫn đến việc người khiếm thị của miền Bắc thì không đọc được chữ trong sách của miền Trung, miền Nam và ngược lại gây nhiều khó khăn cho người khiếm thị ̀ trong việc giao lưu, hội nhập

    Cho đến nay, sách braille chỉ được xuất bản và lưu hành “nội bộ”! Lý do thì có nhiều. Nước ta chưa có một nhà xuất bản chính thống nào xuất bản và in ấn sách braille cho người khiếm thị. Những cuốn sách chữ nổi hiếm hoi có được là do các cơ sở có nhu cầu tự “xuất bản”, tất nhiên được sự cho phép của Nhà nước. Đó là Hội Người mù Việt Nam và hệ thống các trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Hội Người mù Việt Nam khi có nguồn kinh phí, Hội có chủ trương ra sách Braille để gửi về các địa phương miễn phí với số lượng rất hạn chế.

    Trên thực tế, sách braille chủ yếu là sách giáo khoa phục vụ cho học sinh khiếm thị. Các sách tham khảo, sách văn hóa, giải trí thông thường rất ít và hầu như không có. Hình thức xuất bản thực chất là dịch từ sách giáo khoa thông thường sang chữ braille. Theo chủ trương của Bộ GDĐT, các em khiếm thị học hòa nhập cùng các em sáng mắt chung một chương trình phổ thông, nhưng do chưa có một chương trình học biên soạn riêng cho đối tượng đặc biệt này nên các trường đã tự tổ chức dịch từ sách giao khoa thường thành sách chữ nổi. Hiện, trường Nguyễn Đình Chiểu – Hà Nội đã có sách braille các môn cơ bản như Toán, Văn, Tiếng Việt, Ngoại ngữ, Sử, Địa, Lý, Hóa… từ lớp 1-9. Số lượng bản in không nhiều và thực tế cũng chưa đủ đáp ứng nhu cầu học của các em trong trường. Sách braille cho các bậc học cao hơn hầu như không có.

    Việc dịch sách này không hề đơn giản, nhất là đối với các môn tự nhiên và thậm chí vất vả hơn nhiều so với việc dịch sách ngoại ngữ. Dịch các công thức, thuật ngữ chuyên biệt trong các môn tự nhiên là rất khó: ví dụ như sin, cos, tang… do không có sự thống nhất cụ thể về cách dịch các công thức nên mỗi trường lại có một cách dịch khác nhau. Điều đó dẫn đến tình trạng, sách Toán chữ nổi của trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội không thể đọc được ở trường Nguyễn Đình Chiểu TP HCM. Thêm vào đó, xu hướng cải cách trong giảng dạy tiểu học là tăng phần quan sát hình họa, giảm lời diễn đạt nên đòi hỏi người dịch phải có trình độ, có kỹ năng mô tả, diễn giải cụ thể từ hình họa sang lời văn thật dễ hiểu để các em khiếm thị hình dung được. Chi phí cho việc dịch sách vì thế rất tốn kém. Còn việc đóng sách thành từng quyển chữ nổi thì nguyên liệu giấy sử dụng rất đắt tiền. Giấy phải cứng, dày, dai và giá thành cao. Trung bình, 5 trang chữ braille mới bằng một trang chữ thường. Máy in chữ Braille cũng thuộc dạng đặc biệt với giá thành khá đắt. Theo ông Phạm Anh Dũng - Hiệu trưởng trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội, chi phí cho bộ sách braille lớp 1 khoảng hơn 2 triệu đồng, gấp hơn 20 so với giá thành một bộ sách lớp 1 chữ thường! Mặt khác, sách braille không bền như sách thường và phải được bảo quản cẩn thận, không được để nằm gây bẹp các điểm nổi, tay sờ có mồ hôi sẽ dễ làm nhòe chữ.

    Viện Nghiên cứu chiến lược giáo dục đã trình duyệt dự án thống nhất ký hiệu chữ braille cho các lớp có cải tiến. Tuy nhiên, những cố gắng to lớn đó vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu khổng lồ về sách của người khiếm thị. Thiết nghĩ, nhà nước cần có chính sách cụ thể hơn cho việc xuất bản loại sách này đi vào quy cũ và nhất quán giữa các miền Nam, Trung, Bắc. Trung tâm nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật thuộc Viện khoa học giáo dục với sự hỗ trợ của tổ chức CRS (Tổ chức cứu trợ và phát triển) đã tổ chức hội thảo lần thứ 3 về đề tài " Xây dựng và thống nhất hệ thống kí hiệu Braille cho người mù Việt Nam" để thống nhất xây dựng hệ thống kí hiệu Braille tiếng Việt cho cả ba miền và thống nhất các nguyên tắc xây dựng kí hiệu, trong đó có 68 quy tắc cho các môn như Tiếng Việt, Toán học, Vật Lý, Hoá học, Sinh học. Tiến tới thay thế cái bảng và dùi viết của người mù bằng một phần mềm để người mù Việt Nam có điều kiện học tốt hơn. Bên cạnh đó các lĩnh vực như tin học, âm nhạc, ngoại ngữ... cũng cần có một hệ thống kí hiệu hoàn chỉnh, thống nhất để người mù có thể dễ dàng sử dụng, tiếp cận được với khoa học kĩ thuật, với các phương tiện hiện đại phục vụ cho cuộc sống hằng ngày. Người mù ở Việt Nam ít có cơ hội để có thể học cao hơn do thiếu kí hiệu trong hệ thống các môn học. Hiện nay nhu cầu học lên các bậc cao hơn như Đại học của người mù ngày càng nhiều hơn. Đề tài "Xây dựng và thống nhất kí hiệu Braille cho người mù Việt Nam" qua 3 lần hội thảo. Song ở các bộ môn hoá học và toán học có nhiều ý kiến cho rằng các kí hiệu còn dài và khó đối với người học. Bản thân các môn học này cũng có quá nhiều các kí hiệu rất phức tạp nên việc học các môn này đối với người khiếm thị khi học các môn này lại càng khó khăn hơn.

    Trung ương Hội Người mù Việt Nam đã tiếp nhận và khai trương Thư viện chữ nổi cho người mù với vốn đầu tư 10 triệu yên do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam tài trợ, đặt tại Trung tâm đào tạo, phục hồi chức năng cho người mù (Hà Nội). Dự án thư viện chữ nổi cho người mù Việt Nam ngoài việc cung cấp sách báo cho độc giả mượn và đọc tại chỗ, còn có nhiệm vụ biên soạn, in sách bằng chữ nổi. Qua gần 1 năm triển khai, thư viện đã biên soạn và in 500 cuốn sách, với 40.000 trang in bằng chữ nổi, phục vụ nhu cầu học tập, nâng cao trình độ văn hóa của người khiếm thị như sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1 tập một và hai, sách phục hồi chức năng, sách dạy xoa bóp, bấm huyệt, tập sách "Những tấm gương phụ nữ mù" tập một và giáo trình tiếng Anh Headway.

    Trung tâm Sao Mai tại Thành phố Hồ Chí Minh được tài trợ xây dựng Dự Án Thiết Lập Phòng In Chữ Nổi được tài trợ với số tiền 4,000 đô la. Dự án này sẽ giúp cho các học viên khiếm thị những kỹ năng cơ bản về in ấn tài liệu chữ nổi.

    Ngoài một số tài liệu chữ nổi, Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh cũng có dịch vụ chuyển dạng tài liệu sang chữ Braille theo yêu cầu của bạn đọc

    Báo chữ nổi

    Từ trước đến này, người mù chỉ có một tờ báo chuyên dụng có tên là "Đời mới". Tờ báo được phát đến tận tỉnh hội, phường hội, tới tay từng hội viên và những người mù, giúp họ hoà nhập hơn với đời sống cộng đồng, tạo cho họ một... cuộc sống mới". Báo ra đời đã được 33 năm. Ban đầu chỉ là tờ nội san lưu hành nội bộ với số lượng rất nhỏ do kinh phí hạn hẹp. Đến năm 1988, "Đời mới" chính thức được đăng ký như một tờ tạp chí trong hệ thống báo chí. Năm 1992 ra thêm bản in chữ thường và "tờ" "Đời mới" truyền thanh (được in sao ra băng cát-sét). Có những dịp kỷ niệm quan trọng cần tuyên truyền và cần có tiếng nói ủng hộ của các cấp ngành, tờ bản in chữ thường mới được xuất bản. Còn định kỳ, tháng chẵn các hội viên có "tờ" chữ nổi, tháng lẻ có "tờ" truyền thanh.

    Băng sách nói 

    Có nhiều tổ chức nhà nước hay cơ quan từ thiện trên cả nước tổ chức phát hành sách nói nhằm giải quyết phần nào nhu cầu học tập và giải trí cho người mù và khiếm thị trong cộng đồng như các thư viện tỉnh thành, mái ấm, nhà mở, trung tâm đặc biệt. Nổi bật nhất là Hội Người mù Việt Nam đã liên hệ với Hội Phụ nữ phối hợp với Đài Tiếng nói  Việt Nam xây dựng phòng băng sách nói, sản xuất băng (sách nói). Hội Phụ nữ từ thiện TP Hồ Chí Minh đã khắc phục bằng cách “xuất bản” sách nói: đọc SGK thường thu vào băng casset và sao nhiều bản đối với bộ sách từ lớp 1 đến lớp 11. Các loại tài liệu khác thì có một số nhà kinh doanh băng đĩa phát hành, đa số là sách giải trí cho trẻ em như chuyện cổ tích.

    Tin tức trên đài phát thanh, truyền hình

    Đa số người mù và khiếm thị theo dõi tin tức trên đài phát thanh truyền hình để cập nhật thông tin hàng ngày.

    Có thể nói, sách báo cho người khiếm thị là một vấn đề nan giải không chỉ của riêng ngành giáo dục. Trong khó khăn chung, do điều kiện kinh tế xã hội, các cơ sở đã chủ động khắc phục theo cách riêng. Ngành tài chính và giáo dục nên có thêm sự hỗ trợ về nguồn kinh phí cho các cơ sở dịch sách braille hiện nay bởi với người khiếm thị, “không được đọc sách chẳng khác nào lại thêm một lần bị mù”.

    Một vài năm gần đây với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin vào dịch vụ và sản phẩm phục vụ cuộc sống; Đã có những gương điển hình hiệp sĩ công nghệ thông tin thiết kế những chương trình ứng dụng mới để hỗ trợ cho người mù và khiếm thị. Có nhiều dự án đem công nghệ kỹ thuật mới để cải thiện chương trình phục vụ người mù và khiếm thị

    Ứng dụng công nghệ phục vụ nhu cầu thông tin của người khiếm thị

    Sách nói kỹ thuật số

    Từ tháng 10 năm 2003, Thư viện KHTH Thành phố đã phát hành và phân phối sản phẩm sách nói dạng DAISY – dạng sách nói giúp người mù sử dụng như cách đọc của người sáng, có thể dừng, chọn lại, định vị bất cứ câu, dòng, đoạn hay phần chương nào của nột cuốn sách. Tính đến nay đã có 75 nhan đề và xuất ra dưới hai dạng sản phẩm, là băng cassette và đĩa CD, chia sẻ phân phối 3524 CD và 413 băng cassette cho 200 đơn vị với 20 lượt. Chủ đề tài liệu về khoa học thường thức, khoa học xã hội, sách thiếu nhi, văn học hiện đại, văn học dân gian, y học, tâm lý, giáo dục, nông nghiệp, văn hóa xã hội. Sản phẩm được phân phối cho toàn bộ hệ thống thư viện tỉnh thành trên toàn quốc, hội người mù. Sắp tới, một studio mới được thành lập hướng vào mục tiêu sản xuất chuyển dạng sách giáo khoa và giáo trình cho học sinh, sinh viên. (Tham khảo danh mục sách nói DAISY ở Phụ lục A7)

    Mục lục truy cập được

    Thư viện Thành phố cũng đã thiết kế trình tra cứu VIOPAC để người mù và khiếm thị có thể truy cập cơ sở dữ liệu nguồn lực chung của thư viện và mục lục điện tử này có phân hệ hỗ trợ người khiếm thị dễ dàng tiếp cận thông tin thư mục để tự chọn bất kỳ tài liệu nào họ quan tâm và cần sử dụng.

    Các phần mềm chuyển dạng tài liệu hay từ điển điện tử, trình duyệt web dành cho người mù

    Đã có những ứng dụng khác như bộ từ điển điện tử Matta Anh Việt – Việt Anh, phần mềm Jaws, Duxbury giúp xử lý thông tin tiếng Anh; phần mềm NDC, VCL… giúp xử lý thông tin tiếng Việt đã được thiết kế và ứng dụng phổ biến trong các trung tâm tin học phục vụ người mù và khiếm thị.

    Gần đây, phần mềm Vì người mù Việt Nam (VMV) được trình làng. Phần mềm này có một số chương trình ứng dụng dành cho người khiếm thị như: Máy tính điện tử, Đồng hồ điện tử, Lịch âm dương, Xplayer (giúp nghe nhạc), Thông tin hệ thống, Quản lý tập tin... và một số tài liệu hướng dẫn việc học tin học, sử dụng máy tính, sách, truyện... VMV cũng là phần mềm miễn phí, bổ sung thêm nhiều ứng dụng vào danh sách các ứng dụng công nghệ thông tin dành cho người khiếm thị.

    Năm 2003, Dự án "Thiết kế Trình Duyệt Web cho Người Mù Việt Nam" của Trung Tâm Sao Mai được tài trợ $10.000 USD của Ngân Hàng Thế Giới  và $1.750 USD từ tổ chức Enfant Du Vietnam và của  Hội Cứu Trợ Trẻ em tàn tật Tp. HCM hơn $2.200. Công ty Scitec chịu trách nhiệm thiết kế kỹ thuật cho phần mềm này. Toàn bộ chi phí cho dự án là $14000 USD. Vào tháng 10/2003 các phiên bản đầu tiên của trình duyệt đã hoàn tất, kỷ nguyên tiếp cận web đã mở ra cho người mù Việt Nam. Hiện nay các chức năng bao gồm: Đọc các trang html tiếng Việt, đọc phần nội dung và cả một số chi tiết về cấu trúc trang như thông báo các thành phần liên kết (link), bảng (table), biểu mẫu (form), danh sách (list), tiêu đề (heading). Trình duyệt Sao Mai có thể đọc đủ các phần tử (item) của một biểu mẫu. Tuy nhiên việc điền thông tin vào biểu mẫu vẫn còn hạn chế. Người dùng có thể tiện lợi khi điền các biểu mẫu có ít phần tử. Với các biểu mẫu có nhiều phần tử hiện thời trình duyệt hỗ trợ chưa thuận tiện lắm; Thứ hai là Nhận dạng mã chữ: trình duyệt hỗ trợ các trang viết bằng mã VNI và Unicode dựng sẵn, hiện chưa hỗ trợ mã unicode tổ hợp.

    Dự Án Đào Tạo Tin Học Từ Xa Cho Người Khiếm Thị của Trung âm Sao Mai đã tham dự trong cuộc thi với chủ đề "Hãy Sống Với Ước Mơ Của Bạn" do SamSung tổ chức và đã đạt được giải thưởng trị giá 40,475 đô la. với ba giai đoạn thực hiện, bao gồm công tác đào tạo giáo viên trợ giảng; xây dựng giáo trình, các trang web, lắp đặt thiết bị sao cho phù hợp với khả năng sử dụng của người khiếm thị và giai đoạn cuối cùng là tổ chức các khoá đào tạo.

    Dự án đào tạo "Thiết lập mạng lưới đào tạo tin học từ xa" của Trung tâm Sao Mai đạt giải nhất chương trình "Samsung - niềm hy vọng kỹ thuật số". Sau một năm triển khai với tổng số tiền tài trợ hơn 40.000 USD, dự án đã mở rộng mạng lưới đào tạo tin học cho người mù tại các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Bến Tre và An Giang. Ngay trong lượt đào tạo đầu tiên, dự án đã xây dựng được đội ngũ cán bộ nguồn và chính họ đang trở thành cầu nối, giúp nhân rộng số người khiếm thị biết sử dụng tin học.

    Một số thông tin dạng khác

    Nhạc nổi, Sách có hình nổi (tactile), đồ họa nổi (Tactile graphic),… và một số dạng sản phẩm khác nữa đã được đưa vào sản xuất thử nghiệm tại Thư viện TP.Hồ Chí Minh và trông chờ vào các dự án để có thể sản xuất đại trà phục vụ được tính đa dạng của việc đọc và nhu cầu thông tin của các đối tượng có nhu cầu đặc biệt này

    Trang web truy cập được

    Đã có một vài trang web được chú ý thiết kế theo tiêu chuẩn của W3C và WAI theo ý tưởng “dành cho mọi người”, như

    Trang web của Diễn đàn Người khuyết tật Việt Nam (www.forum.wso.net). Diễn đàn người khuyết tật của Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ - Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam bao gồm tất cả các tổ chức liệt kê trong website này. Hoạt động này nhằm thúc đẩy việc hợp tác cùng làm việc và hiểu biết hơn nữa giữa các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức của người khuyết tật và các cơ quan bộ trực thuộc chính phủ, những vấn đề như các dịch vụ phục hồi chức năng và chăm sóc sức khoẻ, lao động việc làm, giáo dục hội nhập, nâng cao nhận thức và tiếp cận những địa điểm công cộng không rào cản. Khoảng 6 tháng một lần tổ chức các hội thảo mang tính toàn quốc và chương trình hoạt động hàng tháng được cung cấp tới các thành viên của Diễn đàn và những đơn vị, cá nhân quan tâm qua đường thư điện tử. Nguồn dữ liệu được phát triển theo các mục đa dạng khác nhau dựa vào các mối quan tâm chung, bao gồm nguồn nhân lực sẵn có để đào tạo và thảo luận, danh sách. Đây là trang web khá chuẩn và có bộ sưu tập thông tin chuyên biệt dành cho người khuyết tật khá đầy đủ từ luật pháp, tin tức hoạt động, việc làm và cơ hội giáo dục đào tạo…

    Diễn đàn Người khuyết tật khuyến khích mọi người chia sẻ thông tin. Diễn đàn là một trung tâm thông tin phi lợi nhuận và xin lưu ý là chúng tôi chỉ nhận thông tin do mọi người cung cấp và không chịu trách nhiệm về bản quyền hoặc thẩm định thông tin.

     

    Nguyễn Hồng Hà, Điều phối viên chương trình
    Khách sạn ATS, 33B Phạm Ngũ Lão, Hà Nội, Việt Nam
    Tel/ fax: (84 4) 9333 -1239
    E-mail: forum@hn.vnn.vn

    Website: Forum.wso.net © 2001

     

    Thiết kế và cập nhật website:
    Lê Nguyên Bình
    42A, Lê Hồng Phong, Hội An, Quảng
    Nam, Việt Nam
    Tel: (84) 510-862460
    E-Mail: tienbo_ha@yahoo.com

    Trang web của Trung tâm tin học Sao Mai giới thiệu về hoạt động cơ quan tổ chức của trung tâm cùng với các dự án (www.saomaicenter.org)

    Trung Tâm Tin Học Vì Người Mù Sao Mai (viết tắt là SMCC) được ra đời với ý nghĩa là một Trung tâm đào tạo học và hỗ trợ tin học dành cho người khiếm thị tại Việt Nam. Trung Tâm được thành lập vào năm 2001 (dựa trên sự thỏa thuận ký kết giữa Hội Cứu Trợ Trẻ Em Tàn Tật Thành Phố Hồ Chí Minh và Hiệp Hội Mantovan Ý) như là một thành qủa mang tính xã hội của dự án đào tạo tin học với sự tài trợ của Hội Liên Hiệp Châu Âu trong suốt hai năm. Hiện tại, Trung Tâm hoạt động như là một chi nhánh của Hội Cứu Trợ Trẻ Em Tàn Tật Thành Phố Hồ Chí Minh. (viết tắt là HSDCA). Trung Tâm Tin Học Vì Người Mù - Sao Mai vừa thành lập diễn đàn Khả Năng Tiếp Cận Web tại địa chỉ Diễn Đàn. Diễn đàn này nhằm tạo ra một nơi cho các người thiết kế và phát triển web trao đổi các vấn đề liên quan đến việc tạo ra các trang web mang tính tiếp cận cho người khuyết tật. Các chủ đề chính của diễn đàn sẽ là các chuẩn tiếp cận của W3 và điều khỏan 508 của Mỹ. Nếu các bạn gặp vấn đề khi đăng ký tham gia diễn đàn, bạn có thể gửi email cho webmaster@saomaicenter.org để được giúp đỡ thêm.

    Trang web của Hội Internet Việt NamISOC Viêt Nam (www.isoc-vn.org)

    Society - "ISOC" là một tổ chức quốc tế hoạt động phi lợi nhuận, phi chính phủ và bao gồm các thành viên có trình độ chuyên ngành. Tổ chức này chú trọng đến: tiêu chuẩn, giáo dục và các vấn đề về chính sách. Với trên 150 tổ chức thành viên và 8.600 thành viên cá nhân, ISOC bao gồm những con người cụ thể trong cộng đồng Internet.

    "Nhằm đảm bảo sự phát triển và sử dụng Internet rộng rãi vì lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước Việt Nam". Các thành viên ISOC tại Việt Nam đã bắt đầu gặp gỡ và thảo luận những vấn đề liên quan đến Internet nói chung. Cùng với UNDP tại Hà Nội, chúng tôi đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo bàn tròn về nhiều vấn đề. Đây là một hoạt động thường xuyên. Chúng tôi có ý định liên kết hợp tác với văn phòng UNESCO tại đây để có thể tạo được hiệu quả cao hơn cho cả 2 bên và đồng thời sử dụng ví thê vốn có của ISOC là một tổ chức phi chính phủ toàn cầu được UNESCO công nhận. Một số các đặc tính của trang web như:

    -  Độ phân giải màn hình thấp
    Màn hình 14 inch với độ phân giải 640x480 có thể xem được website này.
    -  Tốc độ tải về chậm:
    Chúng tôi sử dụng các file đồ hoạ đơn giản để việc tải các trang về đạt tốc độ nhanh nhất.

    -  Các trang không để khung:
    Các trang chia thành khung thường rất khó lưu lại, đồng thời cũng sẽ gây nhiều trở ngại cho những người dùng chương trình chuyển văn bản sang giọng nói.

    Dịch vụ Thư viện

    Trước năm 1998, hầu như không có dịch vụ thư viện cho nguời khiếm thị do nhiều nguyên nhân. Trong đó phải kể đến sự thiếu nhận thức và và hiểu biết của cán bộ và nhân viên thư viện về những khó khăn và nhu cầu của người khiếm thị, thiếu trang thiết bị và vật tư cần thiết.

    Tình hình này được cải thiện sau khi Thư viện Hà nội và Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (TV KHTH TP HCM) thành lập phòng đọc cho người khiếm thị dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Bộ VH-TT và chính quyền địa phương. Tiếp theo là các thư viện tỉnh thành Phía Nam và Tây nguyên. Sau Hội thảo “Hỗ trợ các thư viện công cộng mở rộng khả năng phục vụ cho người khiếm thị” do Vụ Thư viện, TV KHTH TP HCM phối hợp với Quĩ FORCE tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh từ 15 đến 17 tháng 11 năm 2004, hàng loạt các thư viện công cộng ở miền Trung và Phía Bắc đã bắt đầu hoạt động này. Đặc biệt là Pháp lệnh thư viện (2001), Khoản 4 điều 6 qui định rõ việc phục vụ độc giả khiếm thị buộc các thư viện phải thực thi nhiệm vụ của mình. Các dịch vụ thư viện cho người khiếm thị tại các thư viện công cộng hiện nay bao gồm:

    -          Hướng dẫn bạn đọc sử dụng máy tính

    -          Phục vụ bạn đọc tại chỗ và mượn về

    -          Scan tài liệu để đưa ra các dạng thay thế

    -          Đọc sách báo theo yêu cầu

    -          Truy cập Internet

    -          In tài liệu chữ nổi

    -          Đồ hoạ nổi

    -          Website truy cập được

    -          Sách nói (băng cassette, CD)

    Từ năm 2000, Thư viện KHTH TP HCM bắt đầu hợp tác với Quĩ Force, một tổ chức phi lợi nhuận của Hà lan có nhiệm vụ hỗ trợ các hoat động phục vụ người khiếm thị ở các nước đang phát triển và Liên xô cũ. Hội thảo đầu tiên về DAISY ở Việt nam được tổ chức vào tháng 12 cùng năm. Như thành quả của Hội thảo này, TV KHTH đã đề xuất với Quĩ Force hỗ trợ thành lập Studio sản xuất sách nói kỹ thuật số. Đề xuất được chấp thuận và việc sản xuất bắt đầu từ tháng 10/2004. Ý thức được việc hợp tác để quản lí và chia sẻ nguồn lực tốt hơn hay ít nhất cũng tránh được những nỗ lực lặp lại, TV KHTH TP HCM đã mở rộng hoạt động này và trở thành nơi cung cấp sách nói kĩ thuật số cho các TVCC trong cả nước, Hội người mù và các trường Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài tài liệu tiếng Việt, Thư viện đã sản xuất tài liệu tiếng Khmer, Êđê và Xơ-đăng cho các thư viện phục vụ đối tượng này. Từ tháng 10 năm 2004, Thư viện KHTH Tp. Hồ Chí Minh đã phát hành và phân phối sản phẩm sách nói dạng DAISY – giúp người mù sử dụng như cách đọc của người sáng, có thể dừng, chọn lại, định vị bất cứ câu, dòng, đọan hay phần chương nào của một cuốn sách. Tính đến nay đã có 75 nhan đề và xuất ra dưới hai sản phẩm là băng cassette và đĩa CD, chia sẻ phân phối 3698 CD và 503 băng cassette cho hơn 100 đơn vị thuộc hệ thống thư viện công cộng và các cơ quan tổ chức khác hoạt động vì người mù. Để có thể “đọc” được các CD sách nói, cần có thiết bị đặc biệt gọi là Victor Reader.Tính đến tháng 1 năm 2005, Quỹ FORCE đã trang bị cho thư viện tỉnh thành và quận huyện 109 máy Vioctor Reader, 74 máy CCTV, bàn phím soạn nhạc nổi, bút bảng vẽ đặc biệt, 05 máy Heater để tạo đồ họa nổi. Cuối năm 2005, 14 thư viện tỉnh thành còn lại sẽ được cung cấp thêm máy CCTV.

    Hợp tác giữa các cơ quan trong và ngoài nước còn là để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, trong việc ứng dụng công nghệ trên qui mô lớn. Từ năm 2000 đến 2004, một loạt các cuộc tập huấn quốc tế về các chuyên đề khác nhau như Sản xuất sách nói kỹ thuật số DAISY, phần mềm in chữ nổi WinBraille, sản xuất nhạc nổi, sản xuất sách có hình nổi, xây dựng cơ sở dữ liệu đồ họa nổi được tổ chức tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, TV KHTH TPHCM, tại Malaysia và Philippines. Nội dung của các lớp tập huấn này đã được các thư viện, đặc biệt là TV KHTH TP HCM đưa vào hoạt động thực tế và tập huấn tiếp tục cho các thư viện khác.

    Là cơ quan phục vụ, thư viện tồn tại là để giúp cho mọi người tìm được thông tin mà họ cần, quan tâm đến việc truy cập thông tin, coi đó là một tiêu chuẩn quan trọng của cuộc sống. Điều đó buộc thư viện phải quan tâm đến việc làm cho nguồn lực có trong thư viện trở nên truy cập được đối với những người bị hạn chế về thị lực. Phải tổ chức được việc sử dụng dịch vụ chung và dịch vụ đặc biệt, nghĩa là nơi nào khả thi thì liên kết người mù và người nhược thị với các chương trình và dịch vụ có sẵn cho toàn thể cộng đồng người sử dụng thư viện và cho phép việc sử dụng hiệu quả nhất các dịch vụ đặc biệt khi nào và ở đâu cần thiết.

    Do điều kiện thực tế của chúng ta còn nhiều khó khăn, cần một số giải pháp thiết thực trong thời gian tới như: 1/ Tiếp tục tìm hiểu các vấn đề liên quan như: các khuyết tật và nhu cầu của đối tượng phục vụ, khả năng và cơ hội đang có; 2/ Cải thiện môi trường vật chất và truy cập thông tin; 3/ Hợp tác


    Back to Chapter index
    References. Tham khảo

    Bruce, I., McKennell, A., and Walker, E. (1991). Blind and partially sighted adults in Britain: the RNIB survey. London: HMSO.

     

    Bruce, I. and Baker, M. (2001). Access to written information – the views of 1000 people with sight problems. London: RNIB.

     

    Chartres, S. (1998). The leisure reading habits of visually impaired people using audio reading services - customer survey. Unpublished: RNIB.

     

    Clunies-Ross, L., Franklin, A., and Keil, S. (1999). Blind and partially sighted children in Britain: their incidence and special needs at a time of change. RNIB for the Nuffield Foundation.

     

    Crofts, K., Clery, L., Keil, S., Franklin, A. and Cole-Hamilton, I. (2001). The health and well being of blind and partially sighted children and young people aged 5 to 25. London: RNIB

     

    Davies J., Wisdom, S., and Creaser ,C. (2001). Out of sight but not out of mind – visually impaired people’s perspectives of library and information services. Loughborough University: Library and Information Statistics Unit.

     

    Ford, M., and Heshel, T. (1994). The In Touch 1994/5 handbook. London: published for BBC Radio 4 by Broadcasting Support Services.

     

    Franklin, A., Keil, S., Crofts, K., and Cole-Hamilton, I .(2001). The educational experiences of 5 to 16 year old blind and partially children and young people. London: RNIB

     

    Government Actuary’s Department website (http://www.gad.gov.uk/)

     

    Grundy, G., Ahlburg, D., Ali, M., Breeze, E. and Sloggett, A. (1999). Disability in Great Britain. London: DSS Research Report No. 94.

     

    Kinnell, M., Yu, Liangzhi and Creaser, Claire. (2000).
    Public library services for visually impaired people – report to the Library and Information Commission. Loughborough University: Library and Information Statistics Unit.

     

    Martin, J., Meltzer, H., and Elliot, D. (1988). OPCS surveys of disability in Great Britain, Report 1: The prevalence of disability among adults. London: HMSO.

     

    Moore, N. (2000). Review of research of the information needs of visually impaired people. Unpublished: RNIB.

     

    RNIB. (1997). All about registering as blind or partially sighted. London: RNIB.

     

    Simkiss, P., Garner, S., and Dryden, G. (1998). What next? The experience of transition. London: RNIB.

     

    Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Blind and partially sighted children in Britain: the RNIB survey. London: HMSO.


    Back to Chapter index
     Thư viện Khoa Học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh