| Written By Tiến sĩ Gillian Burrington | |
| Contents : Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật và những gợi ý cho các dịch vụ thư viện | |
| Skip to Navigation | |
| 3.1. | Cơ sở phát triển đạo luật |
| 3.2. | Nội dung chính |
| 3.3. | Định nghĩa |
| 3.4. | Nghĩa vụ của cơ quan cung ứng dịch vụ |
| 3.5. | Quy định thực hành dịch vụ |
| 3.6. | Những hoạt động gây cản trở |
| 3.7. | Điều chỉnh hợp lý |
| 3.8. | Dịch vụ và trang thiết bị hỗ trợ |
| 3.9. | Cơ sở vật chất |
| 3.13. | D.D.A và dịch vụ thư viện cho người khiếm thị |
| 3.14. | Điều kiện sử dụng thư viện |
| 3.15. | Phục vụ bình đẳng |
| 3.16. | Khái niệm bình đẳng trong phục vụ |
| 3.17. | Thực hành, chính sách và thủ tục |
| 3.18. | Tiêu chuẩn bình đẳng của dịch vụ |
| 3.19. | Trang thiết bị hỗ trợ |
| 3.20. | Phân phối dịch vụ thay thế |
| 3.21. | Chi phí và điều chỉnh thích hợp |
| 3.22. | Giải thích các trường hợp ngoại lệ |
| 3.23. | Hướng dẫn thêm |
| 3.24. | Chính sách và luật pháp của Việt Nam đối với người khuyết tật |
| References. | Tài liệu tham khảo |
| 3.1. | Cơ sở phát triển đạo luật |
| Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 1995 (DDA) qui định bất cứ hành vi phân biệt đối xử nào với người khuyết tật trong việc tuyển dụng hay trong việc sử dụng sản phẩm dịch vụ, trụ sở, dù miễn phí hay phải trả tiền đều là phạm luật. Đạo luật Người khuyết tật và Nhu cầu Giáo dục đặc biệt (SEND) 2001 bãi bỏ các hình thức giáo dục miễn trừ tiền lệ và áp dụng liên quan mật thiết với các điều khoản về trụ sở trang thiết bị và dịch vụ được nêu trong DDA. Ngoài ra, đạo luật này còn giao trách nhiệm cho các tổ chức giáo dục tiên đoán các nhu cầu của sinh viên khuyết tật, nghĩa là thậm chí nếu không có sinh viên khuyết tật thì tổ chức vẫn lên kế hoạch để có thể sẵn sàng phục vụ khi cần. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.2. | Nội dung chính |
D.D.A có bốn phần chính: |
|
Back to Chapter index | |
| 3.2.1. |
Phần I và II đưa ra định nghĩa về khuyết tật cho mục đích của đạo luật này, việc tuyển dụng và nghĩa vụ của các tổ chức kinh doanh và cơ quan chuyên môn. Phần tuyển dụng đã có hiệu lực từ năm 1996. |
Back to Chapter index | |
| 3.2.2. |
Phần lll đề cập đến việc cung cấp trang thiết bị và dịch vụ. Bước thứ hai để ứng dụng Phần III đã có hiệu lực từ năm 1999. Bước cuối cùng cho phép nhà cung ứng có thời gian để gỡ bỏ các rào cản vật lý để dễ dàng sử dụng, ví dụ lắp đặt thang máy hoặc các phần phải xây dựng lại trước khi đạo luật có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 10 năm 2004. |
Back to Chapter index | |
| 3.2.3. |
Phần lV kết hợp với Đạo luật Người khuyết tật và Nhu cầu Giáo dục đặc biệt (SEND) 2001 bãi bỏ các trường hợp miễn trừ giáo dục từ DDA. Các cơ quan giáo dục được phép chuẩn bị cho đến ngày 1 tháng 9 năm 2002 để đảm bảo chính sách, thủ tục và thực hành không phân biệt đối xử đối với sinh viên khuyết tật ở bất kỳ lứa tuổi nào; vào tháng 9 năm 2003 phải cung cấp các dịch vụ và trang thiết bị phụ trợ; và đảm bảo khả năng tiếp cận về mặt vật lý vào năm 2005. |
Back to Chapter index | |
| 3.3. | Định nghĩa |
| Áp dụng kiến thức y học để xác định khuyết tật, nhưng cần nhận định thêm về các ảnh hưởng kinh tế và xã hội của khuyết tật đến các thay đổi trong cuộc sống của cá nhân. Một người khuyết tật được định nghĩa là “một người có khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, giác quan với tác động xấu lâu dài đến khả năng thực hiện các sinh hoạt hàng ngày…” |
|
Back to Chapter index | |
| 3.3.1. |
Điều kiện xác nhận khuyết tật gồm khả năng vận động, sử dụng tay chân bình thường, khả năng nhấc chân, nói, nghe, thị lực và khả năng tập trung, hiểu và học. |
Back to Chapter index | |
| 3.3.2. |
Khuyết tật trong khoảng thời gian dưới 12 tháng thường không kể theo định nghĩa của DDA trừ phi là tái đi tái lại, một số người bị khuyết tật kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi được phục hồi hoàn toàn. |
Back to Chapter index | |
| 3.3.3. |
Thông tin thêm liên quan đến ý nghĩa về người khuyết tật đề cập trong đạo luật có trong phần Hướng dẫn của Vụ An ninh xã hội... (1996) |
Back to Chapter index | |
| 3.4. | Nghĩa vụ của cơ quan cung ứng dịch vụ |
|
Từ năm 1996 mọi nhà cung ứng có nhiệm vụ: không được từ chối dịch vụ, không cung cấp dịch vụ có tiêu chuẩn và điều kiện kém hơn so với người bình thường. Đến 1 tháng 10 năm 1999 (đối với các tổ chức giáo dục thì hạn cuối là 1 tháng 9 năm 2002) họ phải từng bước điều chỉnh để thay đổi thực hành, chính sách và thủ tục quy trình, gây khó khăn hay bất khả thi cho người khuyết tật. Phải từng bước trang bị các công cụ phương tiện phụ trợ để giúp người khuyết tật sử dụng dịch vụ dễ dàng hơn và nơi nào có trở ngại thì phải từng bước tìm cách gỡ bỏ và thay thế. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.5. | Quy định thực hành dịch vụ |
|
DDA có kèm theo tài liệu Quy chế thực hiện (Codes of Practice) với các ví dụ áp dụng vào trường hợp cụ thể trong luật và Các Qui định của các bang đề ra và được coi là các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành cụ thể. Quy chế thực hiện liên quan đến Phần lll được chính phủ phê duyệt, công tác thực hiện năm 2004 được thông qua vào đầu năm 2002. Ủy ban bảo vệ quyền lợi người khuyết tật (DRC) đã đệ trình lên chính phủ 2 bản dự thảo về các quy định thực hành được đề cập trong phần lV của DDA, một phần cho các trường phổ thông và một phần cho việc giáo dục bổ túc và giáo dục ở bậc đại học. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.6. | Những hoạt động gây cản trở |
|
Ban đầu có nhiều dịch vụ bị ngăn chặn (tuyển dụng thì chưa bao giờ bị loại trừ) nhưng dần dần sẽ giảm bớt đi. Đáng kể là các thư viện cung cấp các trang thiết bị phụ trợ, các nhà thiết kế và nhà sản xuất hiện nay được miễn thực hiện DDA vì luật pháp Châu Âu bãi bỏ mọi hạn chế thương mại tự do, kể cả việc hạn chế sản xuất ở một số nước. Cách duy nhất để khắc phục là phải thông qua một chỉ thị của Châu Âu. Không có một chỉ thị như vậy thì sự thiếu chuẩn của các trang thiết bị hỗ trợ sẽ tiếp tục gây khó khăn cho người khiếm thị và người bị khuyết tật khác. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.7. | Điều chỉnh hợp lý |
|
Thuật ngữ “hợp lý” được dùng rộng rãi trong Đạo luật SEND và DDA. ‘Quy chế thực hiện. Quyền sử dụng' trang thiết bị, sản phẩm, dịch vụ và cơ sở vật chất (DfEE, 1999) cung cấp nhiều ví dụ về các trường hợp điều chỉnh nên được các nhà cung ứng hay người sử dụng lao động quan tâm, như trong ‘Đánh giá ảnh hưởng của việc điều chỉnh’ (DfEE, 1999) cũng như xác định các điều chỉnh được coi là hợp lý, cân nhắc chi phí thực hiện các điều chỉnh này. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.7.1. |
Việc điều chỉnh hợp lý cũng liên quan đến chính sách, thủ tục và các thực hành đề cập đến cách thức cung cấp dịch vụ. Những điều này cần được thay đổi để đảm bảo người khuyết tật không bị phân biệt đối xử, các thay thế không phải cơ bản là thay đổi bản chất của hàng hóa, trang thiết bị và dịch vụ hoặc làm cho chất lượng và mức độ phục vụ cho các đối tượng phục vụ khác bị giảm sút. |
Back to Chapter index | |
| 3.8. | Dịch vụ và trang thiết bị hỗ trợ |
Nhà cung ứng cũng phải cung cấp thiết bị hoặc giúp đỡ người khuyết tật sử dụng các dịch vụ dễ dàng hơn. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.9. | Cơ sở vật chất |
| Bất cứ trở ngại, rào cản nào gây khó khăn một cách bất hợp lý hay làm cho người khuyết tật không thể sử dụng dịch vụ cần phải được loại bỏ hay tìm cách thay thế, hạn cuối là trước năm 2004 (2005 đối với các tổ chức giáo dục). |
|
Back to Chapter index | |
| 3.9.1. |
Hiện tại, nếu các rào cản vẫn tồn tại, DDA yêu cầu nhà cung ứng phải phân phối dịch vụ ở các hình thức thay thế. Đến hạn hiệu lực thi hành thì nhà cung ứng phải đảm bảo là việc thiết kế và xây dựng nhà mới; lối ra vào, các trang trí nội thất, các tiện nghi mới lắp đặt hay chỉnh sửa, thiết bị hay vật liệu và các yếu tố vật lý khác phải được kiểm tra theo nội dung của đề nghị BS 8300 (2001) vì trong đó đã đề cập đến những tiêu chuẩn này sẽ được đưa vào phiên bản kế tiếp của Phần M về Tiêu chuẩn xây dựng (DETR). |
Back to Chapter index | |
| 3.10. |
Đạo luật cho phép nhà cung ứng dịch vụ linh động quyết định cách thức thích hợp nhất để đảm bảo là người khuyết tật có thể sử dụng dịch vụ. Ví dụ, một độc giả khiếm thính sẽ không thể nằng nặc đòi cung cấp một thiết bị hỗ trợ mà các bộ cảm biến không thể đảm nhận nổi thì họ phải dùng các thiết bị khác hay chuyển qua một dạng dịch vụ thay thế. |
| 3.11. |
Bản thân Đạo luật không chỉ rõ các yếu tố làm cơ sở để xác định việc đánh giá chất lượng dịch vụ của nhà cung ứng, quy định chỉ đế cập đến các yếu tố cần phải xem xét để từng bước khắc phục những trở ngại cho khách hàng khuyết tật và nêu lên bản chất của những hậu quả khiến họ không thể sử dụng được dịch vụ, cũng như các giải pháp cho nhà cung ứng. Nó cũng làm rõ tầm quan trọng của việc xem xét nên thực hiện các bước thế nào để không ảnh hưởng đến các dịch vụ cho đối tượng khác, những người bình thường, cân nhắc thời gian, nỗ lực và chi phí thực hiện các điều chỉnh này. Cũng cần phải nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc tư vấn của nhà cung ứng cho người khuyết tật và việc tập huấn cho nhân viên các thiết bị đặc biệt, hiểu rõ nhu cầu và quyền lợi của người khuyết tật. |
| 3.12. |
Toàn bộ các điều khoản của DDA và SEND đều muốn nhấn mạnh là khách hàng và sinh viên khuyết tật phải được ưu tiên đối xử như các khách hàng khác. Những ngoại lệ chính đối với trường hợp này là những nơi mà sức khỏe và sự an toàn có thể gặp rủi ro, những chấp thuận xây dựng theo yêu cầu, cho phép qui hoạch hoặc phê duyệt của sở cứu hỏa bị từ chối, hoặc những chi phí bổ sung không hợp lý cho một dịch vụ đặc biệt cho người khuyết tật, nếu việc thực hiện chúng sẽ gây giảm sút hoặc ngưng trệ nghiêm trọng toàn bộ các dịch vụ. |
| 3.13. | D.D.A và dịch vụ thư viện cho người khiếm thị |
|
Vì khiếm thị thường là loại khuyết tật dài hạn, nên bất cứ ai không thể đọc được chữ in kể cả khi đeo kính điều chỉnh, đều là người khiếm thị theo định nghĩa về thuật ngữ người khuyết tật mà Đạo luật đã đề cập đến. Bất cứ một ai đã bị khiếm thị trước đó, đã qua phẫu thuật điều trị thì vẫn còn ở diện hưởng các chế độ mà luật pháp đã ban hành. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.13.1. |
Điều này có nghĩa là độc giả khiếm thị theo đạo luật DDA đã được cung cấp tài liệu ở dạng thay thế thì sẽ tiếp tục có những tài liệu dạng này, ngay cả khi thị lực đã được hồi phục, họ cũng được sử dụng dịch vụ như những người khiếm thị của các thư viện khác, thậm chí họ có thị lực bình thường đi chăng nữa. |
Back to Chapter index | |
| 3.14. | Điều kiện sử dụng thư viện |
|
Thư viện nào chưa có đủ các điều kiện vật chất cho người khiếm thị sử dụng và khuyết tật sử dụng thì bây giờ phải chuẩn bị điều chỉnh thay thế. Thư viện có cửa quay gây phiền phức cho người kém thị lực hay cả người đi xe lăn sẽ bị coi là phạm luật nếu không chịu điều chỉnh. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.15. | Phục vụ bình đẳng |
|
Trách nhiệm không được từ chối phục vụ, không được phục vụ kém chất lượng hay cung cấp các dịch vụ bị coi là chưa tốt, phải được đưa vào cam kết hoạt động của thư viện. Thông tin về dịch vụ và vốn tài liệu phải được cung cấp ở dạng thích hợp. Người khiếm thị phải được sử dụng mục lục như người bình thường. Mục lục dạng chữ lớn và có độ tương phản màu sắc rõ ràng, hay ở dạng âm thanh thường được coi là đã đầy đủ chiếu theo các điều khoản ràng buộc của DDA, nhưng nên có thêm một máy tính in chữ nổi để có thể phục vụ được cho độc giả vừa mù vừa điếc. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.16. | Khái niệm bình đẳng trong phục vụ |
|
Nếu có dịch vụ thu phí thì độc giả khiếm thị cũng được tính phí như đối với độc giả bình thường, nhưng có một số ý kiến cho rằng cũng chỉ tính giá thành in phóng to trên giấy khổ A3 cho người khiếm thị bằng với giá in giấy khổ A4. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.17. | Thực hành, chính sách và thủ tục |
|
Nếu người khiếm thị gặp khó khăn hay không thể sử dụng thư viện thì bắt buộc phải thay đổi các quy tắc thực hành. Ví dụ nếu đề nghị một giấy phép lái xe làm bằng chứng nhận dạng và không cho phép dùng bất cứ vật chứng nào khác là điều đòi hỏi vô lý. Hay khi yêu cầu người mù ký vào thẻ bạn đọc thì cũng là điều bất hợp lý. Thư viện trường đại học thường từ chối chấp nhận gia hạn thẻ hay yêu cầu làm thẻ qua email thì nên có chính sách cho người mù làm được những việc đó bằng cách thay thế để có thể tránh được những trường hợp độc giả không truy cập được. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.17.1. |
Thư viện cũng cần có các mẫu đơn hay các tờ quảng cáo ở những hình thức mà người khiếm thị có thể đọc được theo bản “Hướng dẫn cách in rõ” của RNIB. Hoặc có thể sử dụng loại máy ghi âm để thu lại các ấn phẩm của thư viện dành cho những người không đọc được tài liệu chữ lớn. |
Back to Chapter index | |
| 3.17.2. |
Luật lệ địa phương cũng phải được kiểm tra lại để bảo đảm các cơ quan không từ chối cho phép chó dẫn đường đi vào, hay có cơ quan nào mà người khiếm thị không sử dụng được. |
Back to Chapter index | |
| 3.18. | Tiêu chuẩn bình đẳng của dịch vụ |
| Vốn tài liệu là yếu tố quan trọng trong dịch vụ của thư viện, nhưng tài liệu ở dạng thay thế thì có rất ít. Rất cần thiết để nhân viên biết là các thư viện chuyên cung cấp tài liệu cho người khiếm thị và biết mục lục liên hợp quốc gia về tài liệu thay thế (REVEAL). Bất cứ sự chuyển dạng tài liệu in ấn nào cho người khiếm thị đều nên dựa vào các thỏa thuận hay giấy phép dùng riêng trong thư viện công cộng hay các tổ chức trường học (xem 6.8). |
|
Back to Chapter index | |
| 3.19. | Trang thiết bị hỗ trợ |
| Đặc điểm của người khiếm thị rất khác nhau nên các thư viện phải chuẩn bị nhiều loại trang thiết bị hỗ trợ. Tùy theo điều kiện kinh phí và phạm vi phục vụ mà sẽ cung cấp các dạng máy từ công nghệ thấp đến công nghệ cao một cách hợp lý như thiết bị hỗ trợ nhược thị, máy CCTV hay máy photocopy phóng lớn tài liệu gốc, máy quét chuyển thành giọng nói nhân tạo hay chữ Braille, máy trạm truy cập có phát âm thanh hay máy in chữ Braille. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.19.1. |
Phương tiện hỗ trợ thường giúp người khiếm thị truy cập tài liệu trong thư viện, nhưng chúng cũng thường được sử dụng để sao chép thông thường (tuân theo luật bản quyền). Ví dụ có thể dùng máy quét để chuyển tài liệu sang dạng âm thanh thu vào băng. |
Back to Chapter index | |
| 3.20. | Phân phối dịch vụ thay thế |
|
Nếu không thể tháo bỏ các trở ngại về mặt vật lý làm cản trở người khiếm thị sử dụng các dịch vụ tại thư viện (ví dụ các điều chỉnh về xây dựng bị từ chối), thì thư viện phải thay thế cách phục vụ tại chỗ bằng dịch vụ phân phối nhưng không được kém chất lượng. Nếu là thư viện công cộng phân phối dịch vụ của mình đến tận nhà của người đọc khiếm thị thì họ phải truy cập được mục lục và các thông tin khác về dịch vụ thư viện như họ đang ngồi tại thư viện |
|
Back to Chapter index | |
| 3.21. | Chi phí và điều chỉnh thích hợp |
|
Do phạm vi ứng dụng công nghệ và trang thiết bị hỗ trợ rộng rãi, có thể coi là hợp lý ngay cả đối với một thư viện nhỏ nhất mua sắm trang thiết bị hỗ trợ như máy quét, loa, những máy in chữ Braille cùng với chi phí cho phụ tùng và cho toàn bộ hoạt động phục vụ lại có thể bị coi là cao quá mức. Vì vậy các thư viện phải sáng suốt cân đối dịch vụ và kinh phí. Một thư viện có thể bị coi là vi phạm các yêu cầu của DDA khi chi phí nói trên không gây giảm sút nghiêm trọng chất lượng phục vụ cộng đồng độc giả nói chung. |
|
Back to Chapter index | |
| 3.21.1. |
Thư viện cũng có thể linh động quyết định mua sắm trang thiết bị hỗ trợ bởi vì DDA chỉ yêu cầu thông tin phục vụ người khiếm thị phải được cung cấp ở dạng thích hợp. Từ quy định thực hành này mà các nhà cung ứng dịch vụ có thể chọn cách thức phù hợp nhất, nếu một độc giả thích đọc chữ Braille hơn là nghe băng cassette thì cũng không thể đòi hỏi thông tin phải được cung cấp ở dạng chữ Braille nếu như khả năng nghe của họ bình thường. Tốt hơn cả là nên mua sắm trang thiết bị hỗ trợ đã được liệt kê trong tài liệu DfEE,1999. |
Back to Chapter index | |
| 3.22. | Giải thích các trường hợp ngoại lệ |
| Đối với đạo luật SENDS, thư viện là trường hợp ngoại lệ, họ chỉ bị chi phối riêng bởi DDA. Tuy nhiên, nếu họ trưng bày hay triển lãm nơi công cộng, cho dù họ có thu hay miễn phí, thì cũng phải tuân theo Phần III và cung cấp thông tin ở dạng thay thế được, cũng như đảm bảo đến năm 2004 nhữngngười khuyết tật không bị từ chối sử dụng. Vì các nhà thiết kế và cung ứng không bị ràng buộc vào các đạo luật nên thư viện phải xem xét cẩn thận trong việc mua sắm trang thiết bị hay đồ dùng trang trí nội thất đảm bảo tuân theo các tiêu chuẩn (xem Chương 12 và 13). |
|
Back to Chapter index | |
| 3.23. | Hướng dẫn thêm |
| Hiện nay chính phủ đã thành lập Ủy ban Bảo vệ người tàn tật để hướng dẫn cách áp dụng đạo luật. Ủy ban này đã phát hành Bộ quy định thực hành mới (2002). (Xem mục 6.2.6).
|
|
Back to Chapter index | |
| 3.24. | Chính sách và luật pháp của Việt Nam đối với người khuyết tật |
Pháp lệnh về người tàn tật Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 11 năm 1998 gồm 8 chương 35 điều được ban hành nhằm để “bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn tật hòa nhập cộng đồng”. Pháp lệnh này quy định trách nhiệm của gia đình, xã hội và Nhà nước đối với người tàn tật và quyền lợi của người tàn tật.
Chuơng I gồm 9 điều quy định chung: - Điều 1 định nghĩa về người tàn tật: nguồn gốc , biểu hiện, khả năng hoạt động của người tàn tật - Điều 2: chỉ ra những điều khoản áp dụng cho thương bệnh binh trong Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng tại điều 12 và 13, ngoài việc được hưởng chế độ ưu đãi riêng của Nhà nước theo pháp luật, còn được hưởng những quyền lợi trong Pháp lệnh này mà chế độ ưu đãi riêng chưa quy định. - Điều 3: trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và bản thân người tàn tật: khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, khắc phục khó khăn hòa nhập cộng đồng - Điều 4: trách nhiệm của gia đình, người giám hộ: nuôi dưỡng, chăm sóc, giúp đỡ người tàn tật tham gia sinh hoạt xã hội. Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa. Đối với người tàn tật nặng có người thân nhưng già yếu, không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc thì được hưởng trợ cấp xã hội. - Điều 5: Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện trợ giúp người tàn tật: dành 1 khoản ngân sách; kêu gọi các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động xã hội – từ thiện giúp đỡ người tàn tật. - Điều 6: các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân,… và mọi công dân thực hiện các biện pháp phòng ngừa tàn tật, hạn chế nguy cơ phát sinh tàn tật. - Điều 7: Người tàn tật được tham gia vào các tổ chức xã hội, hiệp hội sản xuất và được bảo trợ theo quy định của pháp luật. - Điều 8: trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt - Điều 9: quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, ngược đãi người tàn tật; việc lợi dụng tổ chức của người tàn tật để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật.
Chương 2 gồm 5 điều quy định việc chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ và nuôi dưỡng người tàn tật: - Điều 10: đối với người tàn tật, người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không có nơi nương tựa, người tàn tật nghèo, người mắc bệnh tâm thần thể nặng được khám chữa bệnh và được điều trị bắt buộc ở các cơ sở y tế. - Điều 11: đối với người tàn tật được phục hồi chức năng và cung cấp dịch vụ chỉnh hình; người tàn tật nghèo được cấp phát miễn phí hoặc hỗ trợ một phần kinh phí; gia đình người tàn tật được cơ quan y tế hướng dẫn chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, sử dụng các dụng cụ chỉnh hình. - Điều 12: quy định đối với trợ cấp và kinh phí nuôi dưỡng người tàn tật. Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp với các tổ chức xã hội tổ chức các hình thức nuôi dưỡng để thu nhận những người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập, không nơi nương tựa; trợ cấp hàng tháng đối với người tàn tật nặng; kinh phí nuôi dưỡng người tàn tật nặng trích từ ngân sách các cấp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân; người chăm sóc người tàn tật nặng trong các cơ sở xã hội được hưởng phụ cấp bằng 30% mức lương theo ngạch, bậc. - Điều 13: nhà nước hỗ trợ các dự án nghiên cứu khoa học về người tàn tật; các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị trợ giúp người tàn tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi. - Điều 14: nhà nước với việc sản xuất và nhập khẩu các dụng cụ, tài liệu và trang thiết bị chuyên dùng: khuyến khích sản xuất và miễn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật thuế.
Chương 3 gồm 3 điều quy định việc học văn hóa đối với người tàn tật: - Điều 15 đối với học sinh là người tàn tật thì được nhà trường xét giảm hoặc miễn học phí và các khoản đóng góp khác; được hưởng trợ cấp và xét học bổng. - Điều 16: việc học tập của trẻ em tàn tật được tổ chức bằng các hình thức hòa nhập trong các trường phổ thông, trường chuyên biệt: học sinh có năng khiếu được ưu tiên tiếp nhận vào các trường năng khiếu tương ứng; giáo viên dạy các trường lớp chuyên biệt được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi theo quy định. - Điều 17: học sinh là người tàn tật trong các cơ sở giáo dục, nuôi dưỡng nội trú được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định. Nhà nước tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân mở trường lớp; giúp đỡ về tài chính, kỹ thuật, chuyên môn.
Chương 4 quy định việc học nghề và việc làm đối với người tàn tật gồm 6 điều: - Điều 18: trách nhiệm của nhà nước, các cơ sở dạy nghề, tổ chức kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật chọn nghề phù hợp với khả năng lao động; miễn giảm học phí. Tổ chức cá nhân thu nhận người tàn tật được hưởng chế độ ưu đãi. - Điều 19 cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật được xét miễn giảm thuế; vay vốn ưu đãi, chi phí hỗ trợ ngân sách xây dựng trường lớp - Điều 20: người tàn tật tự tạo việc làm tại nhà được vay vốn với lãi suất ưu đãi; được chính quyền địa phương giúp đỡ chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm. Các trung tâm dịch vụ việc làm giảm hoặc miễn phí đối với người tàn tật có nhu cầu hướng nghiệp, tìm việc làm. - Điều 21: trách nhiệm của cơ quan hành chính, sự nghiệp không được từ chối nhận người tàn tật; sử dụng lao động là người tàn tật được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động. - Điều 22: cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho người tàn tật được miễn thuế, vay vốn với lãi suất thấp, được xét hỗ trợ vốn từ Quỹ việc làm dành cho người tàn tật. - Điều 23: vốn của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho người tàn tật sử dụng nhằm phục vụ lợi ích chung của tập thể những người tàn tật, không được chia cho cá nhân.
Chương 5 quy định về hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và sử dụng công trình công cộng của người tàn tật: - Điều 24: nhà nước và xã hội tạo điều kiện để người tàn tật phát huy các tiềm năng sáng tạo về văn học, nghệ thuật, thể thao… phù hợp với khả năng và sức khỏe. - Điều 25: các cơ sở văn hóa, thể dục thể thao phải tạo điều kiện, ưu tiên trợ giúp người tàn tật: nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tập luyện thể dục,… những môn thể thao dành riêng cho người tàn tật. - Điều 26: việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, công trình công cộng… phải tính đến nhu cầu sử dụng của người tàn tật.
Chương 6 gồm 5 điều nói về quản lý nhà nước đối với việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật: - Điều 27: những quy định về quản lý nhà nước đối với việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật. Ban hành, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật; chính sách, chế độ đối với người tàn tật. Phân loại các dạng tật, mức độ và nguyên nhân tàn tật để hoạch định chính sách và các biện pháp phòng ngừa và trợ giúp người tàn tật. Lập và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, hợp tác quốc tế về trợ giúp người tàn tật. Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về người tàn tật. Khen thưởng, xử lý vi phạm pháp luật về người tàn tật. - Điều 28 trách nhiệm của chính phủ, Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật. - Điều 29: chính phủ chỉ đạo các ngành, các cấp lập chương trình phòng ngừa tàn tật và trợ giúp người tàn tật: không có nguồn thu nhập, người tàn tật nghèo, ở nông thôn, miền núi và nơi xa xôi hẻo lánh - Điều 30: Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật được hình thành dưới nhiều hình thức, tăng thêm nguồn kinh phí trợ giúp người tàn tật. Mặt trận Tổ quốc Việt - Điều 31: quy định ngày 18 tháng 4 là ngày bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.
Chương 7 quy định chế độ khen thưởng và xử lý vi phạm, gồm 2 điều: - Điều 32: khen thưởng những tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật; có công phát hiện, ngăn chặn các hành vi phạm pháp. - Điều 33: xử lý vi phạm đối với các hành vi: xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tàn tật, lợi dụng người tàn tật, thoái thác trách nhiệm hoặc người tàn tật lợi dụng sự tàn tật của mình.
Chương 8 là những điều khoản thi hành: - Điều 34: đối với người tàn tật là người nước ngoài sinh sống tại Việt - Điều 35: quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh.
Năm 1992, Chính phủ Việt
Tại Điều 6 Khoản 4 của Pháp lệnh Thư viện ban hành ngày
Nghị định của Chính phủ số 72/2002/NĐ-CP ngày
Tại khoản 4, “Thư viện công cộng có trách nhiệm phối hợp với Hội người mù xây dựng bộ phận sách, báo bằng chữ nổi và các dạng tài liệu đặc biệt khác phục vụ cho người khiếm thị”.
Tại khoản 2 “Thư viện công cộng ở địa phương có trách nhiệm xây dựng tài liệu tiếng dân tộc thiểu số phù hợp vời đặc điểm dân cư trên địa bàn để phục vụ đối tượng bạn đọc này”.
Tại khoản 3 “Thư viện công cộn ở địa phương, thư viện các trường phổ thông và cơ sở giáo dục khác, cung văn hóa thiếu nhi, nhà văn hóa thiếu nhi có trách nhiệm xây dựng bộ phận tài liệu phù hợp với khả năng, tâm sinh lý, lứa tuổi của trẻ em; tổ chức phòng đọc, mượn tài liệu dành riêng để phục vụ trẻ em.”
Tại khoản 6 “Trong thư viện hoạt động bằng ngân sách nhà nước, người cao tuổi quy định tại Pháp lệnh Người cao tuổi ngày 28 tháng 4 năm 2000, người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998, do điều kiện sức khỏe không có khả năng đến thư viện thì được phục vụ miễn cước phí tài liệu thư viện tại nhà bằng hình thức gửi qua bưu điện hoặc thư viện lưu động khi có đơn đề nghị được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận. Tổng cục Bưu điện chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa – Thông tin và Bộ Tài chính quy định chế độ miễn cước phí đối với việc gửi sách, báo của thư viện qua bưu điện tới các đối tượng bạn đọc trên.”
Trong chương 5 của Nghị định về chính sách đầu tư của nhà nước đối với thư viện, tại khoản 6 của điều 14 quy định: “Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc viết, xuất bản các sách, báo dành cho trẻ em, sách, báo bằng tiếng dân tộc thiểu số, tài liệu dành cho người khiếm thị để phục vụ cho các đối tượng bạn đọc.” |
|
Back to Chapter index | |
| References. | Tài liệu tham khảo |
|
BS 8300. (2001). Design of buildings and their approaches to meet the needs of disabled people. British Standards Institute. (The government has indicated that these standards are to be incorporated into the next edition of The Building Regulations, Part M.)
Department for Education and Employment. (1999). Disability Directory for LEA awards officers. 2nd ed. SKILL. Available on www.dfee.gov.uk/disdir
Department for Education and Employment. (1996). Disability Discrimination Act 1995: code of practice for the elimination of discrimination in the field of employment against disabled persons or persons who have had a disability.
Department for Education and Employment. (1999). Disability Discrimination Act 1995. Access to goods, facilities and services. Regulatory Impact Assessment.
Department for Education and Employment. (1999). Disability Discrimination Act 1995. Code of practice. Rights of access: goods, facilities, services and premises.
Department of the Environment, Transport, and the Regions. (1999 edition). The Building Regulations 1991. Approved Document M: access and facilities for disabled people.
Department of Social Security. (1996). Guidance on matters to be taken into account in determining questions relating to the definition of disability.
Disability Rights Commission. (2002). Code of Practice relating to Part lll of the DDA 2004 implementation.
RNIB. (1997). Clearprint guidelines.
Việt Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh. Báo cáo tham luận công tác phục vụ người khiếm thị |
|
Back to Chapter index | |