Contents : Nội dung
Skip to Navigation
1. Phần giới thiệu
2. Mục đích của dự án
  2.1. Giới thiệu
  2.2. Tại sao cần có cẩm nang
  2.3. Đạo luật chống phân biệt đối xử (D.D.A.)
  2.4. Nhu cầu cải thiện
  2.6. Số liệu thống kê theo dân số học
  2.7. Phạm vi các thông tin thực hành
  2.8. Dịch vụ hợp tác
  2.9. Thực hành tốt
  References. Tài liệu tham khảo
3. Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật và những gợi ý cho các dịch vụ thư viện
  3.1. Cơ sở phát triển đạo luật
  3.4. Nghĩa vụ của cơ quan cung ứng dịch vụ
  3.5. Quy định thực hành dịch vụ
  3.6. Những hoạt động gây cản trở
  3.8. Dịch vụ và trang thiết bị hỗ trợ
  3.14. Điều kiện sử dụng thư viện
  3.15. Phục vụ bình đẳng
  3.16. Khái niệm bình đẳng trong phục vụ
  3.18. Tiêu chuẩn bình đẳng của dịch vụ
  3.20. Phân phối dịch vụ thay thế
  3.22. Giải thích các trường hợp ngoại lệ
  3.23. Hướng dẫn thêm
  3.24. Chính sách và luật pháp của Việt Nam đối với người khuyết tật
  References. Tài liệu tham khảo
4. Các dạng khiếm thị: các nguyên nhân và ảnh hưởng đến khả năng và nhu cầu đọc
  4.2. Các nguyên nhân gây khiếm thị
  4.5. Mù hoàn toàn
  4.6. Người trẻ tuổi
  References. Thông tin chi tiết
5. Khảo sát nhân khẩu học về tình hình khiếm thị ở Anh quốc
  5.1. Mở đầu
  5.4. Tuổi khởi phát khiếm thị
  5.5. Giới tính
  References. Tham khảo
6. Chính sách và quản lý dịch vụ thư viện
  References. Tài liệu tham khảo
7. Dịch vụ thư viện cho thiếu nhi
  7.1. Giới thiệu
  7.4. Hoạt động tăng cường và phát triển đọc
  7.5. Câu lạc bộ hướng dẫn làm bài tập
  7.6. Quảng bá dịch vụ
  7.7. Thiết kế và trưng bày trong thư viện
  7.8. Tập huấn nhân viên
  7.10. Bổ sung tài liệu
  7.11. Chọn tài liệu thông thường cho trẻ khiếm thị
  7.12. Xây dựng hình ảnh tích cực
  7.13. Sách có hình nổi
  7.14. Sách khổ lớn
  7.15. Băng truyện
  7.16. Băng hình có thuyết minh mô tả hình ảnh
  7.17. Sách chữ lớn
  7.18. Tài liệu chữ Braille
  7.19. Tài liệu hình thức đôi
  7.20. Tài liệu chữ Moon
  7.21. Tài liệu điện tử
  7.22. Thông tin cho phụ huynh
  7.23. Địa chỉ nhà cung ứng
  7.24. Tài liệu tham khảo
  7.25. Sách thiếu nhi
8. Các hình thức tài liệu thay thế
  8.5. Thuyết minh mô tả hình ảnh trong băng hình
  8.8. Tài liệu thiếu nhi
  8.13. Tài liệu tham khảo
9. Các nhà cung ứng tài liệu dạng thay thế
  9.2. Sách phát âm (Khu vực thương mại)
  9.3. Sách phát âm (Khu vực tình nguyện)
  9.4. CD và CD Rom
  9.5. Báo và tạp chí chữ lớn
  9.6. Báo và tạp chí nói
  9.7. Thông tin (phát thanh)
  9.9. Sách thiếu nhi
  9.11. Băng hình có thuyết minh mô tả hình ảnh
10. Mục lục liên hợp quốc gia cho tài liệu chuyển dạng: từ NUCAF đến REVEAL:
  10.5. Tài liệu tham khảo
11. Dịch vụ mượn liên thư viện đối với tài liệu chuyển dạng
  11.1. Giới thiệu
  11.4. Các tổ chức quốc gia
12. Thiết kế và điều chỉnh dịch vụ và thư viện
  12.5. Độ tương phản màu sắc
  12.8. Trưng bày
  12.11. Công nghệ hỗ trợ
  references. Tài liệu tham khảo
13. Công nghệ và trang thiết bị hỗ trợ
  13.10. Địa chỉ các thư viện
  13.11. Nhà cung ứng
  References. Tài liệu tham khảo
14. Thiết kế trang web thư viện cho mọi người truy cập
  14.1. “Thiết kế cho mọi người” là gì?
  14.5. Nghiên cứu khả năng ứng dụng
  References. Tài liệu tham khảo
15. Quảng bá dịch vụ thư viện
  15.1. Truy cập công bằng
  15.2. Quảng bá là gì ?
  15.3. Ý tưởng quảng cáo
  15.4. Mật độ phân bố người khiếm thị
  15.8. Kết luận
  References. Tài liệu tham khảo
16. Tiêu chuẩn và hướng dẫn thực hiện dịch vụ thư viện
  16.1. Giới thiệu
  16.2. Tiêu chuẩn quốc gia
  16.4. Hướng dẫn của quốc tế
  References. Tài liệu tham khảo
17. Nguồn thông tin tư vấn hỗ trợ
  17.3. Tập huấn về phục vụ công bằng và nhận thức về người khuyết tật
  17.4. Công nghệ hỗ trợ
  17.5. Phương tiện thông tin không rào cản
  References. Tài liệu tham khảo

1.1.

Trong chương trình đánh giá việc chi tiêu toàn diện, Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao đã nhận thấy rõ nhu cầu phát triển dịch vụ thư viện cho người khiếm thị và đã trích 200,000 bảng trong kinh phí “để đảm bảo người mù và khiếm thị hưởng được nhiều lợi ích thông qua các dịch vụ đọc và hoạt động của thư viện”

 

Nguồn quỹ này do Ủy ban Thông tin và Thư viện (LIC) và ban hợp tác giữa LIC và Share the Vision (là một cơ quan hoạt động nhằm cải thiện dịch vụ thư viện cho người khiếm thị) điều phối để phát triển và quản lý chương trình dự án hướng đến mục tiêu trên.


Back to Chapter index
1.2.

Cách tiếp cận để kết hợp các dịch vụ thư viện cho người khiếm thị với hoạt động chung bất cứ nơi nào có thể là việc làm đồng hành với cam kết của chính phủ trong việc tạo điều kiện cho người tàn tật hoà nhập vào xã hội và sử dụng được các dịch vụ.


Back to Chapter index
1.3.

Vì thế chương trình hoạt động bao gồm nhiều đề án bắt đầu bằng việc sắp xếp những khối công việc thiết yếu để đạt những mục tiêu này, cụ thể:

 

-  Có thêm những tài liệu chuyển dạng thay thế thích hợp phục vụ nhu cầu đọc đa dạng của người khiếm thị.

-  Tăng cường phạm vi hoạt động của mạng mục lục quốc gia cho tài liệu chuyển dạng.

-  Hình thành hệ thống mượn liên thư viện cho tài liệu chuyển dạng.

-  Đảm bảo các thư viện thực hiện các dịch vụ không rào cản ở cấp địa phương.

-  Đảm bảo Mạng thông tin mới và các chủ trương chính sách công nghệ thông tin của chính phủ phải quan tâm đầy đủ các cơ hội để cải thiện dịch vụ cho người khiếm thị


Back to Chapter index
1.4.

Xác định và phát triển những thực hành nghiệp vụ tốt nhất là yếu tố quan trọng trong việc cải thiện các dịch vụ của địa phương. Vì thế tôi rất hài lòng về dự án biên soạn và phân phối Cẩm nang thực hành này nhằm để hướng dẫn nghiệp vụ và hỗ trợ các nhà quản lý và nhân viên ở thư viện công cộng cơ sở và thư viện trường đại học. Sử dụng được dịch vụ hay không còn phụ thuộc vào hiện trạng của từng địa phương và quan trọng hơn cả là cách nhân viên thư viện phục vụ khách hàng của họ. Cẩm nang này được thiết kế để tư vấn nghiệp vụ thiết thực cho tất cả nhân viên có nhiệm vụ gặp gỡ và phục vụ người khiếm thị.


Back to Chapter index
1.5.

Cẩm nang được đúc kết từ kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực người khiếm thị và của các cán bộ thư viện, quản lý thư viện trong cả khối thư viện công cộng và trường đại học. Các hướng dẫn thực hành này được xem xét và thực hiện tùy theo tình hình thực tế của địa phương và chỉ dẫn thêm nhiều nguồn lực và hỗ trợ khác. Tài liệu cũng thể hiện nhu cầu phối hợp tốt hơn việc cung cấp dịch vụ của các tổ chức và chỉ ra tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các cơ quan tổ chức tại địa phương và trên toàn quốc.


Back to Chapter index
1.6.

Tôi hy vọng các bạn sẽ nhận thấy giá trị của tài liệu này trong việc xem xét và đánh giá lại dịch vụ của thư viện mình cho thành phần người sử dụng này. Với việc áp dụng rộng rãi Đạo luật chống phân biệt đối xử thì điều quan trọng là tất cả các dịch vụ thư viện phải thể hiện được chính sách và kế hoạch hoạt động một cách đầy đủ để đảm bảo việc sử dụng các dịch vụ cho mọi thành phần độc giả là điều hết sức quan trọng.


Back to Chapter index
1.7.

Dĩ nhiên kết quả quan trọng nhất phải là sự cải thiện dịch vụ thật sự và chính phủ cần lập ra những tiêu chuẩn và cách thức thích hợp để đánh giá theo tiêu chí. Ủy ban Thông tin và Thư viện LIC đã giao trách nhiệm cho phòng Thống kê Thông tin và Thư viện tại trường đại học Loughborough thực hiện cuộc khảo sát hiện trạng hoạt động trong giới chuyên gia về thư viện công cộng và từ đó sẽ định ra các tiêu chí theo dõi sự phát triển. Ở khu vực trường đại học, nhiều nghiên cứu tương tự do Mạng lưới Thông tin phục vụ người tàn tật ở bậc đại học (D.I.S.inH.E) – chương trình do Ủy ban các hệ thống thông tin phối hợp cấp kinh phí.


Back to Chapter index
1.8.

Tôi rất hài lòng giới thiệu cẩm nang này cho tất cả cán bộ thư viện ở mọi khu vực sử dụng làm công cụ thực hành. Trung tâm nguồn lực của Hội đồng Bảo tàng Lưu trữ và Thư viện vui lòng tiếp nhận những ý kiến phản hồi, nhận xét để hiệu đính phiên bản lần sau tốt hơn. Các bạn có thể gửi ý kiến đóng góp thông qua trang web Diễn đàn thảo luận.

Alan Howarth, M.P.

Bộ trưởng Bộ Nghệ thuật


Back to Chapter index
2.1. Giới thiệu

Mục đích của cẩm nang này là hướng dẫn các nhà quản lý và nhân viên thư viện biết cách thực hiện dịch vụ thông tin cho người mù và khiếm thị. Cẩm nang cũng hướng dẫn cách đánh giá nhu cầu, xây dựng chính sách và thực hành cho các dịch vụ thư viện và là tài liệu tư vấn về phạm vi của các loại hình tài liệu, các dịch vụ hỗ trợ cho người khiếm thị đã có tại Anh Quốc.


Back to Chapter index
2.2. Tại sao cần có cẩm nang

Nhiệm vụ của thư viện công cộng đã được xác định là phục vụ cho tất cả mọi người cần đến nó theo các khoản mục mà Pháp lệnh Thư viện công cộng và bảo tàng năm 1964 và phần 163(2) của Đạo luật chính quyền địa phương (Xcốt-len) năm 1973. Ở khu vực trường đại học, cũng dần dần được hình thành nhận thức về nhu cầu của sinh viên và nhân viên, bao gồm cả đối tượng người khuyết tật. Nhận thức này dựa trên cơ sở là người khiếm thị phải có quyền hưởng thụ các dịch vụ thư viện công cộng như mọi mọi công dân đóng thuế khác. Trong những năm gần đây các thư viện công cộng ngày càng nhận thức rõ hơn về trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng, coi đó là một vấn đề trong việc thực hành quản lý tốt.


Back to Chapter index
2.3. Đạo luật chống phân biệt đối xử (D.D.A.)

Quyền lợi của người khiếm thị và khuyết tật hiện nay đã được làm rõ trong luật pháp, thông qua việc ban hành DDA năm 1995, đặc biệt là Mục Sản phẩm và Dịch vụ của Đạo luật này có hiệu lực từ năm 1999 và Đạo luật Người khuyết tật và Nhu cầu giáo dục đặc biệt năm 2001. Dưới những điều khoản này, mọi nhà cung cấp dịch vụ phải có trách nhiệm không được từ chối phục vụ, không được phục vụ kém chất lượng, không được hạ thấp chất lượng của dịch vụ dành cho người khuyết tật. Tiến hành hợp lý để thay đổi các chính sách, ứng dụng, quy trình thực hành, gỡ bỏ những rào cản làm người khuyết tật không thể hoặc gặp nhiều khó khăn khi sử dụng các dịch vụ của thư viện.


Back to Chapter index
2.4. Nhu cầu cải thiện

Trong khi nhiều thư viện đã từng bước cải thiện dịch vụ cho người khiếm thị, vẫn còn nhiều thiếu sót đáng kể để đạt được cơ hội thực hiện quyền sử dụng dịch vụ bình đẳng trong xã hội. Những thiếu sót đó xuất phát từ nhu cầu về nhiều loại hình tài liệu thay thế cho tài liệu in thông thường mà vốn dĩ nhiều thư viện công cộng chỉ mua sách chữ lớn và băng cassette truyện của khu vực thương mại. Đối với các dạng tài liệu khác, các cơ quan từ thiện quốc gia trở thành những nhà cung ứng chính và điều này gây ra tình trạng là dịch vụ cho người khiếm thị bị tản mác rải rác và tách biệt nhau. Cũng như các độc giả khác, người mù thường không thể coi thư viện địa phương có tất cả các tài liệu đáp ứng được mọi nhu cầu của họ. Khu vực thư viện đại học cũng thế, khảo sát dự án REVIEL (Brophy và Craven, 1999) xác định cần có nhiều thay đổi để cải thiện mức độ và khả năng phục vụ cho người mù và khiếm thị.


Back to Chapter index
2.5. Khu vực tình nguyện

Dịch vụ cho người khiếm thị của các tổ chức tình nguyện thường phải đăng ký để trả phí chuyển dạng tài liệu. Độc giả phải trả tiền để hưởng dịch vụ trừ phi lãnh đạo địa phương và thư viện đại học có chuẩn bị kinh phí hoạt động cho các khoản này. Hậu quả là nhiều nhà lãnh đạo thư viện công cộng bị đánh giá là không phục vụ mọi người một cách công bằng như các điều khoản của DDA yêu cầu.


Back to Chapter index
2.5.1.

Vì vậy, một đòi hỏi quan trọng đối với các thư viện là phải xem xét lại việc cung cấp dịch vụ của mình để đảm bảo cho người mù và khiếm thị được hưởng dịch vụ ngang bằng với những độc giả bình thường khác. Cẩm nang này cung cấp thông tin và hướng dẫn để các thư viện biết cách tổ chức việc khảo sát đánh giá.


Back to Chapter index
2.6. Số liệu thống kê theo dân số học

Vì những người khiếm thị không phải là một nhóm đồng nhất nên thư viện phải có trách nhiệm đánh giá nhu cầu của họ theo các khía cạnh của dân số học tại địa phương. Số liệu thống kê của quốc gia có thể cung cấp cơ cấu và phương án phát triển thích hợp theo các yếu tố thực tế của địa phương, vì vậy mà trong cẩm nang này có phần trình bày về số liệu liên quan đến dân số học.


Back to Chapter index
2.7. Phạm vi các thông tin thực hành

Các chương khác sẽ cung cấp thông tin căn bản có thể được sử dụng để tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ năng cho nhân viên, nguyên nhân gây ra bệnh khiếm thị và ảnh hưởng của các chứng tật đến việc đọc của cá nhân, cách chọn tài liệu, giới thiệu nhà cung ứng trang thiết bị hỗ trợ và việc ứng dụng công nghệ hỗ trợ thích hợp.


Back to Chapter index
2.8. Dịch vụ hợp tác

Nguyên tắc chủ đạo của cẩm nang này là thông tin về nhu cầu hợp tác để phục vụ người khiếm thị hòa nhập. Toàn bộ các chương nói về quản lý hệ thống mục lục hay mượn liên thư viện đều dựa trên tiền đề hợp tác trong điều kiện thực tế ở chừng mực nào đó mang tính khả thi.


Back to Chapter index
2.9. Thực hành tốt

Cẩm nang không nhắm vào mục đích hướng dẫn chi tiết từng hoạt động phục vụ người mù và khiếm thị mà nhắm đến việc nhận ra nhu cầu và cơ cấu của từng địa phương sẽ tạo ra các loại hình phục vụ khác nhau. Cẩm nang chỉ ra những thành tố chính cần thiết để xây dựng và phát triển dịch vụ theo đúng “Hướng dẫn hoạt động của quốc gia” do Tổ chức Share the Vision và Hội Thư viện chỉ đạo. Bảng tóm tắt các đề nghị này được trình bày ở Phụ lục A2


Back to Chapter index
2.10.

Cẩm nang này giới thiệu một cách cụ thể các dịch vụ cho người khiếm thị và tìm cách xác định các chính sách, các thực hành và quy trình thực hiện để tạo nên những ứng dụng tốt trong thực tế. Hy vọng là các nguyên tắc và phương pháp luận này cũng có thể dung hòa, hỗ trợ trong mối quan tâm chung đối với các nhu cầu của các nhóm độc giả khác.


Back to Chapter index
2.11.

Cẩm nang sẽ tiếp tục giới thiệu thêm nhiều mô hình dịch vụ cho người khiếm thị đạt hiệu quả cao. Vì thế nó sẽ phải được cập nhật định kỳ. Phiên bản hiệu đính lần đầu sẽ được thực hiện vào tháng 3 năm 2002. Ban biên soạn hoan nghênh các đóng góp bổ sung cho các phiên bản hiệu đính sau; để tiện cho việc đóng góp, phiên bản dạng web của cẩm nang có bản tin để mời các thư viện trao đổi thông tin về việc phát triển những đề xướng mới.


Back to Chapter index
References. Tài liệu tham khảo

Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999). Thư viện tích hợp truy cập được; mô hình phát triển dịch vụ trong thế kỷ 21.  Báo cáo tổng kết về dự án REVIEL (Nguồn lực thư viện điện tử cho người khiếm thị). Báo cáo nghiên cứu và cải thiện dịch vụ thư viện Anh quốc số 168. Manchester: Trung tậm nghiên cứu Quản lý thông tin và thư viện, Đại học Thủ đô Manchester.

 

Anh quốc. Đạo luật. (1995). Đạo luật chống phân biệt đối xử 1995. Chương 50. London: HMSO.

 

Anh quốc. Đạo luật. (1973). Đạo luật chính quyền địa phương (Xcốt-len) 1973. Chương 65. London: HMSO.

 

Anh quốc. Đạo luật. (1964). Đạo luật Bảo tàng và thư viện công cộng 1964. Chương 75. London: HMSO.

 

Anh quốc. Đạo luật. (2001). Đạo luật khuyết tật và nhu cầu giáo dục đặc biệt 2001. Chương 10. London: Stationery Office.

 

Machell, Jean. (1996). Dịch vụ thông tin và thư viện cho người khiếm thị: hướng dẫn của quốc gia. Tổ chức Share the Vision / Hội thư viện. London: LA Publishing.


Back to Chapter index
3.1. Cơ sở phát triển đạo luật

Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 1995 (DDA) qui định bất cứ hành vi phân biệt đối xử nào với người khuyết tật trong việc tuyển dụng hay trong việc sử dụng sản phẩm dịch vụ, trụ sở, dù miễn phí hay phải trả tiền đều là phạm luật. Đạo luật Người khuyết tật và Nhu cầu Giáo dục đặc biệt (SEND) 2001 bãi bỏ các hình thức giáo dục miễn trừ tiền lệ và áp dụng liên quan mật thiết với các điều khoản về trụ sở trang thiết bị và dịch vụ được nêu trong DDA. Ngoài ra, đạo luật này còn giao trách nhiệm cho các tổ chức giáo dục tiên đoán các nhu cầu của sinh viên khuyết tật, nghĩa là thậm chí nếu không có sinh viên khuyết tật thì tổ chức vẫn lên kế hoạch để có thể sẵn sàng phục vụ khi cần.


Back to Chapter index
3.2. Nội dung chính

D.D.A có bốn phần chính:


Back to Chapter index
3.2.1.

Phần I và II đưa ra định nghĩa về khuyết tật cho mục đích của đạo luật này, việc tuyển dụng và nghĩa vụ của các tổ chức kinh doanh và cơ quan chuyên môn. Phần tuyển dụng đã có hiệu lực từ năm 1996.


Back to Chapter index
3.2.2.

Phần lll đề cập đến việc cung cấp trang thiết bị và dịch vụ. Bước thứ hai để ứng dụng Phần III đã có hiệu lực từ năm 1999. Bước cuối cùng cho phép nhà cung ứng có thời gian để gỡ bỏ các rào cản vật lý để dễ dàng sử dụng, ví dụ lắp đặt thang máy hoặc các phần phải xây dựng lại trước khi đạo luật có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 10 năm 2004.


Back to Chapter index
3.2.3. Phần lV kết hợp với Đạo luật Người khuyết tật và Nhu cầu Giáo dục đặc biệt (SEND) 2001 bãi bỏ các trường hợp miễn trừ giáo dục từ DDA. Các cơ quan giáo dục được phép chuẩn bị cho đến ngày 1 tháng 9 năm 2002 để đảm bảo chính sách, thủ tục và thực hành không phân biệt đối xử đối với sinh viên khuyết tật ở bất kỳ lứa tuổi nào; vào tháng 9 năm 2003 phải cung cấp các dịch vụ và trang thiết bị phụ trợ; và đảm bảo khả năng tiếp cận về mặt vật lý vào năm 2005.


Back to Chapter index
3.3. Định nghĩa
Áp dụng kiến thức y học để xác định khuyết tật, nhưng cần nhận định thêm về các ảnh hưởng kinh tế và xã hội của khuyết tật đến các thay đổi trong cuộc sống của cá nhân. Một người khuyết tật được định nghĩa là “một người có khiếm khuyết về thể chất, tinh thần, giác quan với tác động xấu lâu dài đến khả năng thực hiện các sinh hoạt hàng ngày…”


Back to Chapter index
3.3.1. Điều kiện xác nhận khuyết tật gồm khả năng vận động, sử dụng tay chân bình thường, khả năng nhấc chân, nói, nghe, thị lực và khả năng tập trung, hiểu và học.


Back to Chapter index
3.3.2. Khuyết tật trong khoảng thời gian dưới 12 tháng thường không kể theo định nghĩa của DDA trừ phi là tái đi tái lại, một số người bị khuyết tật kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi được phục hồi hoàn toàn.


Back to Chapter index
3.3.3. Thông tin thêm liên quan đến ý nghĩa về người khuyết tật đề cập trong đạo luật có trong phần Hướng dẫn của Vụ An ninh xã hội... (1996)


Back to Chapter index
3.4. Nghĩa vụ của cơ quan cung ứng dịch vụ
Từ năm 1996 mọi nhà cung ứng có nhiệm vụ: không được từ chối dịch vụ, không cung cấp dịch vụ có tiêu chuẩn và điều kiện kém hơn so với người bình thường. Đến 1 tháng 10 năm 1999 (đối với các tổ chức giáo dục thì hạn cuối là 1 tháng 9 năm 2002) họ phải từng bước điều chỉnh để thay đổi thực hành, chính sách và thủ tục quy trình, gây khó khăn hay bất khả thi cho người khuyết tật. Phải từng bước trang bị các công cụ phương tiện phụ trợ để giúp người khuyết tật sử dụng dịch vụ dễ dàng hơn và nơi nào có trở ngại thì phải từng bước tìm cách gỡ bỏ và thay thế.


Back to Chapter index
3.5. Quy định thực hành dịch vụ
DDA có kèm theo tài liệu Quy chế thực hiện (Codes of Practice) với các ví dụ áp dụng vào trường hợp cụ thể trong luật và Các Qui định của các bang đề ra và được coi là các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành cụ thể. Quy chế thực hiện liên quan đến Phần lll được chính phủ phê duyệt, công tác thực hiện năm 2004 được thông qua vào đầu năm 2002. Ủy ban bảo vệ quyền lợi người khuyết tật (DRC) đã đệ trình lên chính phủ 2 bản dự thảo về các quy định thực hành được đề cập trong phần lV của DDA, một phần cho các trường phổ thông và một phần cho việc giáo dục bổ túc và giáo dục ở bậc đại học. 


Back to Chapter index
3.6. Những hoạt động gây cản trở
Ban đầu có nhiều dịch vụ bị ngăn chặn (tuyển dụng thì chưa bao giờ bị loại trừ) nhưng dần dần sẽ giảm bớt đi. Đáng kể là các thư viện cung cấp các trang thiết bị phụ trợ, các nhà thiết kế và nhà sản xuất hiện nay được miễn thực hiện DDA vì luật pháp Châu Âu bãi bỏ mọi hạn chế thương mại tự do, kể cả việc hạn chế sản xuất ở một số nước. Cách duy nhất để khắc phục là phải thông qua một chỉ thị của Châu Âu. Không có một chỉ thị như vậy thì sự thiếu chuẩn của các trang thiết bị hỗ trợ sẽ tiếp tục gây khó khăn cho người khiếm thị và người bị khuyết tật khác.


Back to Chapter index
3.7. Điều chỉnh hợp lý
Thuật ngữ “hợp lý” được dùng rộng rãi trong Đạo luật SEND và DDA. ‘Quy chế thực hiện. Quyền sử dụng' trang thiết bị, sản phẩm, dịch vụ và cơ sở vật chất (DfEE, 1999) cung cấp nhiều ví dụ về các trường hợp điều chỉnh nên được các nhà cung ứng hay người sử dụng lao động quan tâm, như trong ‘Đánh giá ảnh hưởng của việc điều chỉnh’ (DfEE, 1999) cũng như xác định các điều chỉnh được coi là hợp lý, cân nhắc chi phí thực hiện các điều chỉnh này.


Back to Chapter index
3.7.1. Việc điều chỉnh hợp lý cũng liên quan đến chính sách, thủ tục và các thực hành đề cập đến cách thức cung cấp dịch vụ. Những điều này cần được thay đổi để đảm bảo người khuyết tật không bị phân biệt đối xử, các thay thế không phải cơ bản là thay đổi bản chất của hàng hóa, trang thiết bị và dịch vụ hoặc làm cho chất lượng và mức độ phục vụ cho các đối tượng phục vụ khác bị giảm sút.


Back to Chapter index
3.8. Dịch vụ và trang thiết bị hỗ trợ

Nhà cung ứng cũng phải cung cấp thiết bị hoặc giúp đỡ người khuyết tật sử dụng các dịch vụ dễ dàng hơn.


Back to Chapter index
3.9. Cơ sở vật chất

Bất cứ trở ngại, rào cản nào gây khó khăn một cách bất hợp lý hay làm cho người khuyết tật không thể sử dụng dịch vụ cần phải được loại bỏ hay tìm cách thay thế, hạn cuối là trước năm 2004 (2005 đối với các tổ chức giáo dục).


Back to Chapter index
3.9.1. Hiện tại, nếu các rào cản vẫn tồn tại, DDA yêu cầu nhà cung ứng phải phân phối dịch vụ ở các hình thức thay thế. Đến hạn hiệu lực thi hành thì nhà cung ứng phải đảm bảo là việc thiết kế và xây dựng nhà mới; lối ra vào, các trang trí nội thất, các tiện nghi mới lắp đặt hay chỉnh sửa, thiết bị hay vật liệu và các yếu tố vật lý khác phải được kiểm tra theo nội dung của đề nghị BS 8300 (2001) vì trong đó đã đề cập đến những tiêu chuẩn này sẽ được đưa vào phiên bản kế tiếp của Phần M về Tiêu chuẩn xây dựng (DETR).


Back to Chapter index
3.10. Đạo luật cho phép nhà cung ứng dịch vụ linh động quyết định cách thức thích hợp nhất để đảm bảo là người khuyết tật có thể sử dụng dịch vụ. Ví dụ, một độc giả khiếm thính sẽ không thể nằng nặc đòi cung cấp một thiết bị hỗ trợ mà các bộ cảm biến không thể đảm nhận nổi thì họ phải dùng các thiết bị khác hay chuyển qua một dạng dịch vụ thay thế.


Back to Chapter index
3.11. Bản thân Đạo luật không chỉ rõ các yếu tố làm cơ sở để xác định việc đánh giá chất lượng dịch vụ của nhà cung ứng, quy định chỉ đế cập đến các yếu tố cần phải xem xét để từng bước khắc phục những trở ngại cho khách hàng khuyết tật và nêu lên bản chất của những hậu quả khiến họ không thể sử dụng được dịch vụ, cũng như các giải pháp cho nhà cung ứng. Nó cũng làm rõ tầm quan trọng của việc xem xét nên thực hiện các bước thế nào để không ảnh hưởng đến các dịch vụ cho đối tượng khác, những người bình thường, cân nhắc thời gian, nỗ lực và chi phí thực hiện các điều chỉnh này. Cũng cần phải nhấn mạnh về tầm quan trọng của việc tư vấn của nhà cung ứng cho người khuyết tật và việc tập huấn cho nhân viên các thiết bị đặc biệt, hiểu rõ nhu cầu và quyền lợi của người khuyết tật.


Back to Chapter index
3.12. Toàn bộ các điều khoản của DDA và SEND đều muốn nhấn mạnh là khách hàng và sinh viên khuyết tật phải được ưu tiên đối xử như các khách hàng khác. Những ngoại lệ chính đối với trường hợp này là những nơi mà sức khỏe và sự an toàn có thể gặp rủi ro, những chấp thuận xây dựng theo yêu cầu, cho phép qui hoạch hoặc phê duyệt của sở cứu hỏa bị từ chối, hoặc những chi phí bổ sung không hợp lý cho một dịch vụ đặc biệt cho người khuyết tật, nếu việc thực hiện chúng sẽ gây giảm sút hoặc ngưng trệ nghiêm trọng toàn bộ các dịch vụ.


Back to Chapter index
3.13. D.D.A và dịch vụ thư viện cho người khiếm thị
Vì khiếm thị thường là loại khuyết tật dài hạn, nên bất cứ ai không thể đọc được chữ in kể cả khi đeo kính điều chỉnh, đều là người khiếm thị theo định nghĩa về thuật ngữ người khuyết tật mà Đạo luật đã đề cập đến. Bất cứ một ai đã bị khiếm thị trước đó, đã qua phẫu thuật điều trị thì vẫn còn ở diện hưởng các chế độ mà luật pháp đã ban hành.


Back to Chapter index
3.13.1. Điều này có nghĩa là độc giả khiếm thị theo đạo luật DDA đã được cung cấp tài liệu ở dạng thay thế thì sẽ tiếp tục có những tài liệu dạng này, ngay cả khi thị lực đã được hồi phục, họ cũng được sử dụng dịch vụ như những người khiếm thị của các thư viện khác, thậm chí họ có thị lực bình thường đi chăng nữa.


Back to Chapter index
3.14. Điều kiện sử dụng thư viện
Thư viện nào chưa có đủ các điều kiện vật chất cho người khiếm thị sử dụng và khuyết tật sử dụng thì bây giờ phải chuẩn bị điều chỉnh thay thế. Thư viện có cửa quay gây phiền phức cho người kém thị lực hay cả người đi xe lăn sẽ bị coi là phạm luật nếu không chịu điều chỉnh.


Back to Chapter index
3.15. Phục vụ bình đẳng
Trách nhiệm không được từ chối phục vụ, không được phục vụ kém chất lượng hay cung cấp các dịch vụ bị coi là chưa tốt, phải được đưa vào cam kết hoạt động của thư viện. Thông tin về dịch vụ và vốn tài liệu phải được cung cấp ở dạng thích hợp. Người khiếm thị phải được sử dụng mục lục như người bình thường. Mục lục dạng chữ lớn và có độ tương phản màu sắc rõ ràng, hay ở dạng âm thanh thường được coi là đã đầy đủ chiếu theo các điều khoản ràng buộc của DDA, nhưng nên có thêm một máy tính in chữ nổi để có thể phục vụ được cho độc giả vừa mù vừa điếc.


Back to Chapter index
3.16. Khái niệm bình đẳng trong phục vụ
Nếu có dịch vụ thu phí thì độc giả khiếm thị cũng được tính phí như đối với độc giả bình thường, nhưng có một số ý kiến cho rằng cũng chỉ tính giá thành in phóng to trên giấy khổ A3 cho người khiếm thị bằng với giá in giấy khổ A4.


Back to Chapter index
3.17. Thực hành, chính sách và thủ tục
Nếu người khiếm thị gặp khó khăn hay không thể sử dụng thư viện thì bắt buộc phải thay đổi các quy tắc thực hành. Ví dụ nếu đề nghị một giấy phép lái xe làm bằng chứng nhận dạng và không cho phép dùng bất cứ vật chứng nào khác là điều đòi hỏi vô lý. Hay khi yêu cầu người mù ký vào thẻ bạn đọc thì cũng là điều bất hợp lý. Thư viện trường đại học thường từ chối chấp nhận gia hạn thẻ hay yêu cầu làm thẻ qua email thì nên có chính sách cho người mù làm được những việc đó bằng cách thay thế để có thể tránh được những trường hợp độc giả không truy cập được.


Back to Chapter index
3.17.1. Thư viện cũng cần có các mẫu đơn hay các tờ quảng cáo ở những hình thức mà người khiếm thị có thể đọc được theo bản “Hướng dẫn cách in rõ” của RNIB. Hoặc có thể sử dụng loại máy ghi âm để thu lại các ấn phẩm của thư viện dành cho những người không đọc được tài liệu chữ lớn


Back to Chapter index
3.17.2. Luật lệ địa phương cũng phải được kiểm tra lại để bảo đảm các cơ quan không từ chối cho phép chó dẫn đường đi vào, hay có cơ quan nào mà người khiếm thị không sử dụng được.


Back to Chapter index
3.18. Tiêu chuẩn bình đẳng của dịch vụ
Vốn tài liệu là yếu tố quan trọng trong dịch vụ của thư viện, nhưng tài liệu ở dạng thay thế thì có rất ít. Rất cần thiết để nhân viên biết là các thư viện chuyên cung cấp tài liệu cho người khiếm thị và biết mục lục liên hợp quốc gia về tài liệu thay thế (REVEAL). Bất cứ sự chuyển dạng tài liệu in ấn nào cho người khiếm thị đều nên dựa vào các thỏa thuận hay giấy phép dùng riêng trong thư viện công cộng hay các tổ chức trường học (xem 6.8). 


Back to Chapter index
3.19. Trang thiết bị hỗ trợ
Đặc điểm của người khiếm thị rất khác nhau nên các thư viện phải chuẩn bị nhiều loại trang thiết bị hỗ trợ. Tùy theo điều kiện kinh phí và phạm vi phục vụ mà sẽ cung cấp các dạng máy từ công nghệ thấp đến công nghệ cao một cách hợp lý như thiết bị hỗ trợ nhược thị, máy CCTV hay máy photocopy phóng lớn tài liệu gốc, máy quét chuyển thành giọng nói nhân tạo hay chữ Braille, máy trạm truy cập có phát âm thanh hay máy in chữ Braille.


Back to Chapter index
3.19.1. Phương tiện hỗ trợ thường giúp người khiếm thị truy cập tài liệu trong thư viện, nhưng chúng cũng thường được sử dụng để sao chép thông thường (tuân theo luật bản quyền). Ví dụ có thể dùng máy quét để chuyển tài liệu sang dạng âm thanh thu vào băng.


Back to Chapter index
3.20. Phân phối dịch vụ thay thế
Nếu không thể tháo bỏ các trở ngại về mặt vật lý làm cản trở người khiếm thị sử dụng các dịch vụ tại thư viện (ví dụ các điều chỉnh về xây dựng bị từ chối), thì thư viện phải thay thế cách phục vụ tại chỗ bằng dịch vụ phân phối nhưng không được kém chất lượng. Nếu là thư viện công cộng phân phối dịch vụ của mình đến tận nhà của người đọc khiếm thị thì họ phải truy cập được mục lục và các thông tin khác về dịch vụ thư viện như họ đang ngồi tại thư viện


Back to Chapter index
3.21. Chi phí và điều chỉnh thích hợp
Do phạm vi ứng dụng công nghệ và trang thiết bị hỗ trợ rộng rãi, có thể coi là hợp lý ngay cả đối với một thư viện nhỏ nhất mua sắm trang thiết bị hỗ trợ như máy quét, loa, những máy in chữ Braille cùng với chi phí cho phụ tùng và cho toàn bộ hoạt động phục vụ lại có thể bị coi là cao quá mức. Vì vậy các thư viện phải sáng suốt cân đối dịch vụ và kinh phí. Một thư viện có thể bị coi là vi phạm các yêu cầu của DDA khi chi phí nói trên không gây giảm sút nghiêm trọng chất lượng phục vụ cộng đồng độc giả nói chung.


Back to Chapter index
3.21.1. Thư viện cũng có thể linh động quyết định mua sắm trang thiết bị hỗ trợ bởi vì DDA chỉ yêu cầu thông tin phục vụ người khiếm thị phải được cung cấp ở dạng thích hợp. Từ quy định thực hành này mà các nhà cung ứng dịch vụ có thể chọn cách thức phù hợp nhất, nếu một độc giả thích đọc chữ Braille hơn là nghe băng cassette thì cũng không thể đòi hỏi thông tin phải được cung cấp ở dạng chữ Braille nếu như khả năng nghe của họ bình thường. Tốt hơn cả là nên mua sắm trang thiết bị hỗ trợ đã được liệt kê trong tài liệu DfEE,1999.


Back to Chapter index
3.22. Giải thích các trường hợp ngoại lệ
Đối với đạo luật SENDS, thư viện là trường hợp ngoại lệ, họ chỉ bị chi phối riêng bởi DDA. Tuy nhiên, nếu họ trưng bày hay triển lãm nơi công cộng, cho dù họ có thu hay miễn phí, thì cũng phải tuân theo Phần III và cung cấp thông tin ở dạng thay thế được, cũng như đảm bảo đến năm 2004 nhữngngười khuyết tật không bị từ chối sử dụng. Vì các nhà thiết kế và cung ứng không bị ràng buộc vào các đạo luật nên thư viện phải xem xét cẩn thận trong việc mua sắm trang thiết bị hay đồ dùng trang trí nội thất đảm bảo tuân theo các tiêu chuẩn (xem Chương 1213).


Back to Chapter index
3.23. Hướng dẫn thêm
Hiện nay chính phủ đã thành lập Ủy ban Bảo vệ người tàn tật để hướng dẫn cách áp dụng đạo luật. Ủy ban này đã phát hành Bộ quy định thực hành mới (2002). (Xem mục 6.2.6).

 

Chú ý: Thông tin trong chương này không thể được coi là toàn bộ các điều khoản của DDA và sự diễn giải đạo luật có thể thay đổi, sớm nhất là cho đến thời điểm có một cơ quan chuyên trách giám sát. Trong trường hợp thư viện bị khiếu kiện thì tốt nhất là tìm đến luật sư tư vấn.

 


Back to Chapter index
3.24. Chính sách và luật pháp của Việt Nam đối với người khuyết tật

Pháp lệnh về người tàn tật

Có hiệu lực từ ngày 01 tháng 11 năm 1998  gồm 8 chương 35 điều được ban hành nhằm để “bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện cho người tàn tật hòa nhập cộng đồng”. Pháp lệnh này quy định trách nhiệm của gia đình, xã hội và Nhà nước đối với người tàn tật và quyền lợi của người tàn tật.

 

Chuơng I gồm 9 điều quy định chung:

-          Điều 1 định nghĩa về người tàn tật: nguồn gốc , biểu hiện, khả năng hoạt động của người tàn tật

-          Điều 2: chỉ ra những điều khoản áp dụng cho thương bệnh binh trong Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng tại điều 12 và 13, ngoài việc được hưởng chế độ ưu đãi riêng của Nhà nước theo pháp luật, còn được hưởng những quyền lợi trong Pháp lệnh này mà chế độ ưu đãi riêng chưa quy định.

-          Điều 3: trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và bản thân người tàn tật: khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, khắc phục khó khăn hòa nhập cộng đồng

-          Điều 4: trách nhiệm của gia đình, người giám hộ: nuôi dưỡng, chăm sóc, giúp đỡ người tàn tật tham gia sinh hoạt xã hội. Trách nhiệm của Nhà nước và xã hội đối với người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không nơi nương tựa. Đối với người tàn tật nặng có người thân nhưng già yếu, không đủ khả năng kinh tế để chăm sóc thì được hưởng trợ cấp xã hội.

-          Điều 5: Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện trợ giúp người tàn tật: dành 1 khoản ngân sách; kêu gọi các tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động xã hội – từ thiện giúp đỡ người tàn tật.

-          Điều 6: các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân,… và mọi công dân thực hiện các biện pháp phòng ngừa tàn tật, hạn chế nguy cơ phát sinh tàn tật.

-          Điều 7: Người tàn tật được tham gia vào các tổ chức xã hội, hiệp hội sản xuất và được bảo trợ theo quy định của pháp luật.

-          Điều 8: trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, tổ chức xã hội khác: vận động nhân dân thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật; giám sát việc thi hành pháp luật; kiến nghị với các cơ quan nhà nước về việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.

-          Điều 9: quy định nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, ngược đãi người tàn tật; việc lợi dụng tổ chức của người tàn tật để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật.

 

Chương 2 gồm 5 điều quy định việc chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ và nuôi dưỡng người tàn tật:

-          Điều 10: đối với người tàn tật, người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập và không có nơi nương tựa, người tàn tật nghèo, người mắc bệnh tâm thần thể nặng được khám chữa bệnh và được điều trị bắt buộc ở các cơ sở y tế.

-          Điều 11: đối với người tàn tật được phục hồi chức năng và cung cấp dịch vụ chỉnh hình; người tàn tật nghèo được cấp phát miễn phí hoặc hỗ trợ một phần kinh phí; gia đình người tàn tật được cơ quan y tế hướng dẫn chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, sử dụng các dụng cụ chỉnh hình.

-          Điều 12: quy định đối với trợ cấp và kinh phí nuôi dưỡng người tàn tật. Ủy ban nhân dân các cấp phối hợp với các tổ chức xã hội tổ chức các hình thức nuôi dưỡng để thu nhận những người tàn tật nặng không có nguồn thu nhập, không nơi nương tựa; trợ cấp hàng tháng đối với người tàn tật nặng; kinh phí nuôi dưỡng người tàn tật nặng trích từ ngân sách các cấp, tài trợ của các tổ chức, cá nhân; người chăm sóc người tàn tật nặng trong các cơ sở xã hội được hưởng phụ cấp bằng 30% mức lương theo ngạch, bậc.

-          Điều 13: nhà nước hỗ trợ các dự án nghiên cứu khoa học về người tàn tật; các cơ sở sản xuất dụng cụ, thiết bị trợ giúp người tàn tật được vay vốn với lãi suất ưu đãi.

-          Điều 14: nhà nước với việc sản xuất và nhập khẩu các dụng cụ, tài liệu và trang thiết bị chuyên dùng: khuyến khích sản xuất và miễn thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật thuế.

 

Chương 3 gồm 3 điều quy định việc học văn hóa đối với người tàn tật:

-          Điều 15 đối với học sinh là người tàn tật thì được nhà trường xét giảm hoặc miễn học phí và các khoản đóng góp khác; được hưởng trợ cấp và xét học bổng.

-          Điều 16: việc học tập của trẻ em tàn tật được tổ chức bằng các hình thức hòa nhập trong các trường phổ thông, trường chuyên biệt: học sinh có năng khiếu được ưu tiên tiếp nhận vào các trường năng khiếu tương ứng; giáo viên dạy các trường lớp chuyên biệt được hưởng chế độ phụ cấp ưu đãi theo quy định.

-          Điều 17: học sinh là người tàn tật trong các cơ sở giáo dục, nuôi dưỡng nội trú được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định. Nhà nước tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân mở trường lớp; giúp đỡ về tài chính, kỹ thuật, chuyên môn.

 

Chương 4 quy định việc học nghề và việc làm đối với người tàn tật gồm 6 điều:

-          Điều 18: trách nhiệm của nhà nước, các cơ sở dạy nghề, tổ chức kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho người tàn tật chọn nghề phù hợp với khả năng lao động; miễn giảm học phí. Tổ chức cá nhân thu nhận người tàn tật được hưởng chế độ ưu đãi.

-          Điều 19 cơ sở dạy nghề dành riêng cho người tàn tật được xét miễn giảm thuế; vay vốn ưu đãi, chi phí hỗ trợ ngân sách xây dựng trường lớp

-          Điều 20: người tàn tật tự tạo việc làm tại nhà được vay vốn với lãi suất ưu đãi; được chính quyền địa phương giúp đỡ chuyển giao công nghệ, tiêu thụ sản phẩm. Các trung tâm dịch vụ việc làm giảm hoặc miễn phí đối với người tàn tật có nhu cầu hướng nghiệp, tìm việc làm.

-          Điều 21: trách nhiệm của cơ quan hành chính, sự nghiệp không được từ chối nhận người tàn tật; sử dụng lao động là người tàn tật được thực hiện theo quy định của pháp luật lao động.

-          Điều 22: cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho người tàn tật được miễn thuế, vay vốn với lãi suất thấp, được xét hỗ trợ vốn từ Quỹ việc làm dành cho người tàn tật.

-          Điều 23: vốn của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dành riêng cho người tàn tật sử dụng nhằm phục vụ lợi ích chung của tập thể những người tàn tật, không được chia cho cá nhân.

 

Chương 5 quy định về hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và sử dụng công trình công cộng của người tàn tật:

-          Điều 24: nhà nước và xã hội tạo điều kiện để người tàn tật phát huy các tiềm năng sáng tạo về văn học, nghệ thuật, thể thao… phù hợp với khả năng và sức khỏe.

-          Điều 25: các cơ sở văn hóa, thể dục thể thao phải tạo điều kiện, ưu tiên trợ giúp người tàn tật: nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tập luyện thể dục,… những môn thể thao dành riêng cho người tàn tật.

-          Điều 26: việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, công trình công cộng… phải tính đến nhu cầu sử dụng của người tàn tật.

 

Chương 6 gồm 5 điều nói về quản lý nhà nước đối với việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật:

-          Điều 27: những quy định về quản lý nhà nước đối với việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật. Ban hành, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thi hành các văn bản pháp luật; chính sách, chế độ đối với người tàn tật. Phân loại các dạng tật, mức độ và nguyên nhân tàn tật để hoạch định chính sách và các biện pháp phòng ngừa và trợ giúp người tàn tật. Lập và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, hợp tác quốc tế về trợ giúp người tàn tật. Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về người tàn tật. Khen thưởng, xử lý vi phạm pháp luật về người tàn tật.

-          Điều 28 trách nhiệm của chính phủ, Bộ Lao động,Thương binh và Xã hội, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.

-          Điều 29: chính phủ chỉ đạo các ngành, các cấp lập chương trình phòng ngừa tàn tật và trợ giúp người tàn tật: không có nguồn thu nhập, người tàn tật nghèo, ở nông thôn, miền núi và nơi xa xôi hẻo lánh

-          Điều 30: Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật được hình thành dưới nhiều hình thức, tăng thêm nguồn kinh phí trợ giúp người tàn tật. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên vận động xây dựng Quỹ nhân đạo trợ giúp người tàn tật trên nguyên tắc tự nguyện.

-          Điều 31: quy định ngày 18 tháng 4 là ngày bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.

 

Chương 7 quy định chế độ khen thưởng và xử lý vi phạm, gồm 2 điều:

-          Điều 32: khen thưởng những tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật; có công phát hiện, ngăn chặn các hành vi phạm pháp.

-          Điều 33: xử lý vi phạm đối với các hành vi: xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người tàn tật, lợi dụng người tàn tật, thoái thác trách nhiệm hoặc người tàn tật lợi dụng sự tàn tật của mình.

 

Chương 8 là những điều khoản thi hành:

-          Điều 34: đối với người tàn tật là người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam được áp dụng một số điều trong pháp lệnh này theo qui định của chính phủ, Pháp lệnh có hiệu lực từ ngày 01/11/1998.

-          Điều 35: quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh.

 

Năm 1992, Chính phủ Việt Nam đã ký vào tuyên bố chung về quyền tham gia đầy đủ và bình đẳng của người tàn tật khu vực Châu Á – Thái Bình Dương.

 

Tại Điều 6 Khoản 4 của Pháp lệnh Thư viện ban hành ngày 28/10/2000 có đề cập đến dịch vụ thư viện phải hướng đến người khiếm thị “Người mù phải có điều kiện sử dụng các tài liệu thư viện bằng chữ Braille hoặc dưới dạng những vật mang tin khác”.

 

Nghị định của Chính phủ số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/8/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện. Điều 2 chương 2 về trách nhiệm của thư viện đối với người sử dụng vốn tài liệu thư viện quy định:

 

Tại khoản 4, “Thư viện công cộng có trách nhiệm phối hợp với Hội người mù xây dựng bộ phận sách, báo bằng chữ nổi và các dạng tài liệu đặc biệt khác phục vụ cho người khiếm thị”.

 

Tại khoản 2 “Thư viện công cộng ở địa phương có trách nhiệm xây dựng tài liệu tiếng dân tộc thiểu số phù hợp vời đặc điểm dân cư trên địa bàn để phục vụ đối tượng bạn đọc này”.

 

Tại khoản 3 “Thư viện công cộn ở địa phương, thư viện các trường phổ thông và cơ sở giáo dục khác, cung văn hóa thiếu nhi, nhà văn hóa thiếu nhi có trách nhiệm xây dựng bộ phận tài liệu phù hợp với khả năng, tâm sinh lý, lứa tuổi của trẻ em; tổ chức phòng đọc, mượn tài liệu dành riêng để phục vụ trẻ em.”

 

Tại khoản 6 “Trong thư viện hoạt động bằng ngân sách nhà nước, người cao tuổi quy định tại Pháp lệnh Người cao tuổi ngày 28 tháng 4  năm 2000, người tàn tật ngày 30 tháng 7 năm 1998, do điều kiện sức khỏe không có khả năng đến thư viện thì được phục vụ miễn cước phí tài liệu thư viện tại nhà bằng hình thức gửi qua bưu điện hoặc thư viện lưu động khi có đơn đề nghị được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận. Tổng cục Bưu điện chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa – Thông tin và Bộ Tài chính quy định chế độ miễn cước phí đối với việc gửi sách, báo của thư viện qua bưu điện tới các đối tượng bạn đọc trên.”

 

Trong chương 5 của Nghị định về chính sách đầu tư của nhà nước đối với thư viện, tại khoản 6 của điều 14 quy định: “Nhà nước có chính sách đầu tư cho việc viết, xuất bản các sách, báo dành cho trẻ em, sách, báo bằng tiếng dân tộc thiểu số, tài liệu dành cho người khiếm thị để phục vụ cho các đối tượng bạn đọc.”


Back to Chapter index
References. Tài liệu tham khảo

BS 8300. (2001). Design of buildings and their approaches to meet the needs of disabled people. British Standards Institute. (The government has indicated that these standards are to be incorporated into the next edition of The Building Regulations, Part M.)

 

Department for Education and Employment. (1999). Disability Directory for LEA awards officers. 2nd ed. SKILL. Available on www.dfee.gov.uk/disdir

 

Department for Education and Employment. (1996). Disability Discrimination Act 1995: code of practice for the elimination of discrimination in the field of employment against disabled persons or persons who have had a disability. London: HMSO.

 

Department for Education and Employment. (1999). Disability Discrimination Act 1995. Access to goods, facilities and services. Regulatory Impact Assessment. London: Stationery Office.

 

Department for Education and Employment. (1999). Disability Discrimination Act 1995. Code of practice. Rights of access: goods, facilities, services and premises. London: Stationery Office.

 

Department of the Environment, Transport, and the Regions. (1999 edition). The Building Regulations 1991. Approved Document M: access and facilities for disabled people.
London: Stationery Office.

 

Department of Social Security. (1996). Guidance on matters to be taken into account in determining questions relating to the definition of disability. London: HMSO.

 

Disability Rights Commission. (2002). Code of Practice relating to Part lll of the DDA 2004 implementation. London: Stationery Office.
It can also be found on the DRC website
www.drc-gb.org/drc/informationandlegislation/page331a.asp

 

Great Britain. Acts. (1995). Disability Discrimination Act 1995. London: HMSO.

 

Great Britain. Acts. (2001). Special Education Needs and Disability Act 2001. London: Stationery Office.

 

RNIB. (1997). Clearprint guidelines. London: RNIB.

 

Việt Nam. Pháp lệnh về người tàn tật

Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh. Báo cáo tham luận công tác phục vụ người khiếm thị

 


Back to Chapter index
4.1. Khái niệm
Thuật ngữ “khiếm thị” dùng để mô tả tình trạng thị lực không thể điều chỉnh bằng kính thuốc hay phẫu thuật. Nó bao gồm những người mắc bệnh thị lực chỉ còn một phần và những người bị mù hoàn toàn. Một số người khiếm thị khó nhìn thấy những vật ngay trước mặt nhưng có thể nhìn thấy những vật trên sàn nhà hoặc ở hai bên, một số người khác lại có thể thấy rõ ràng những vật ngay trước mắt nhưng không thấy gì ở hai bên. Một số trường hợp bệnh lý có thể gây thị lực chỉ nhìn lốm đốm từng vùng, một số bệnh lý khác ảnh hưởng đến sự nhận biết màu sắc hoặc khả năng nhận biết khoảng cách. Cũng có một số người thì rất khó khăn khi gặp ánh nắng chói chang và một số người khác có thể không nhìn thấy gì cả khi gặp ánh sáng yếu.


Back to Chapter index
4.1.1.

Mất thị lực, ngay cả khi cùng một nguyên nhân, nhưng có thể có tốc độ thoái hóa khác nhau. Hai người cùng tuổi và cùng loại bệnh với cùng mức độ giống nhau, có thể có tốc độ thoái hóa khác nhau; một người có thể bị mù vào lúc 40 tuổi, trong khi người kia có thể không bị mất phần thị lực còn lại cho đến khi 60 hoặc 65 tuổi. Do đó, không thể tiên đoán được khi nào mỗi người trong số họ sẽ phải bắt đầu cần đọc sách báo chữ to, hoặc khi nào việc đọc sách báo chữ to không còn thích hợp nữa. Do đó, điều quan trọng là phải phỏng vấn người bị khiếm thị thường xuyên hơn xem những hình thức họ đang sử dụng có còn thoả đáng nữa hay không.


Back to Chapter index
4.2. Các nguyên nhân gây khiếm thị

Có một số nguyên nhân gây khiếm thị mà mỗi nguyên nhân có thể gây ảnh hưởng khác nhau lên khả năng và nhu cầu đọc sách của họ. Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng di truyền, tai nạn, các bệnh lý liên quan đến bệnh tật và tuổi tác như đục thủy tinh thể và thoái hoá hoàng điểm. Ở Anh quốc, hiện nay thoái hoá do tuổi già là nguyên nhân gây khiếm thị thường gặp nhất.


Back to Chapter index
4.3. Cấu trúc của mắt

Kết quả của các tình trạng và bệnh lý ở mắt tùy thuộc rất lớn vào phần nào của mắt bị ảnh hưởng. Các phần chính của mắt được trình bày trong sơ đồ dưới đây.

Hình minh họa 4a: Cấu trúc của mắt
Bản quyền Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.3.1.

Phần trước của mắt (giác mạc, đồng tử và mống mắt) có chức năng để truyền ánh sáng vào phần sau của mắt. Tổn thương bất kỳ bộ phận nào của phần này đều có thể dẫn đến các mức độ khiếm thị khác nhau. Thủy tinh thể tập trung các tia sáng vào võng mạc.


Back to Chapter index
4.3.2.

Phần sau của mắt (võng mạc, hoàng điểm và thần kinh thị giác) xử lý hình ảnh ánh sáng và truyền đến não. Hoàng điểm đặc biệt quan trọng cho việc đọc, do đây là vùng cho phép chúng ta thấy được chi tiết tinh vi. Tổn thương bất kỳ bộ phận nào của phần này cũng dẫn đến các mức độ mất thị lực khác nhau. Thủy dịch là chất trong suốt dạng thạch chứa đầy trong phần giữa của mắt. Áp lực trong thủy dịch quá cao cũng có thể ảnh hưởng đến thị lực.


Back to Chapter index
4.4.1. Thoái hoá hoàng điểm

Thường được quy cho là bệnh mù do tuổi già - đây là nguyên nhân thường gặp nhất của việc mất khả năng đọc sách báo tại Anh Quốc. Vùng thị lực trung tâm được sử dụng để nhìn chi tiết trong khi việc tập trung vào thị trường ngoại vi thì kém rõ ràng hơn. Kính đeo mắt không thể bù trừ cho thoái hoá hoàng điểm, mặc dù kính lúp có thể giúp một số người trong giai đoạn sớm của thoái hóa và sách báo chữ to sẽ gíup kéo dài được khả năng đọc.

 

Như trình bày trong hình dưới đây, những người bị thoái hoá hoàng điểm có thể nhìn thấy những vật trên sàn nhà, nhưng không thể thấy những vật ngay trước mắt họ. Do đó, việc đảm bảo môi trường không có nguy hiểm cho họ như được nêu trong Chương 12 rất quan trọng. 

 

illus4b.jpg

 

Hình. 4b: Thoái hóa hoàng điểm
Bản quyền bởi Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.4.2. Đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể là nguyên nhân thường gặp khác của bệnh khiếm thị ở tuổi già và là kết quả khi thủy tinh thể của một hoặc cả hai mắt trở nên đục hay mờ đi. Người bị đục thủy tinh thể nặng có thể thấy ánh sáng và nhận ra được các tương phản mạnh về màu sắc, nhưng không thể đọc sách báo. Khi tình trạng tăng đến mức độ nặng, điều trị laser và đặt thủy tinh thể nhân tạo có thể giúp ích cho đa số bệnh nhân, những người sau đó thường là có thể đọc sách báo chữ to. Minh họa sau đây cho thấy cách thức mà thủy tinh thể ảnh hưởng đến khả năng nhìn thấy rõ ràng.

 

illus4c.jpg

Hình. 4c: Đục thủy tinh thể
Bản quyền Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.4.3. Ống thị giác

Thị giác đường ống là một thuật ngữ tổng quát mô tả một số tình trạng bệnh lý võng mạc trong đó thị lực ngoại vi bị mất đi. Chính vùng thị trường ngoại vi cho phép người ta nhìn được dưới sánh sáng yếu, do đó nhiều người bị ống thị giác hay tự gọi mình là "quáng gà". Hai nguyên nhân thường gặp nhất của ống thị giác là viêm võng mạc sắc tố, là nguyên nhân thường gặp của các vấn đề trầm trọng về thị lực ở người trẻ tuổi và Glaucoma (bệnh tăng nhãn áp), có khuynh hướng bắt đầu xuất hiện vào khoảng 40 tuổi và bệnh này có thể được kiểm soát. Do vùng trung tâm thị trường không bị ảnh hưởng. Người bị bệnh ống thị giác thường có thể tiếp tục đọc ấn phẩm in ấn thông thường cho đến độ tuổi trung niên - cũng có thể kéo dài lâu hơn khi tình trạng của họ có thể kiểm soát được - sau đó dần dần họ sẽ phải đọc sách báo chữ to và rồi phải cần đến các biện pháp thay thế khác. Hình minh họa dưới đây cho thấy biểu hiện bệnh lý, do người bị ống thị giác hầu như dễ té xấp lên các vật như ghế hay đá vào ghế đẩu là những vật nằm ngoài thị trường của họ, đặc biệt là trong điều kiện ánh sáng yếu.

 

illus4d.jpg

Hình. 4d: Ống thị giác
Bản quyền Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.4.4. Bệnh lý võng mạc do tiểu đường

Bệnh lý võng mạc do tiểu đường là một nguyên nhân chủ yếu khác của các vấn đề về mắt ở người trong độ tuổi lao động. Nó dẫn đến thị trường bị lốm đốm và gây tình trạng khó định hướng. Điều này là do những phần mà người nhìn bị mất đi và não lắp ráp thu thập lại những phần dường như là một bức tranh tổng thể - chẳng hạn như một bức tường trơn thay vì một bức tường có cửa. Một số người bị thị lực loang lổ bị mất thị trường khá bằng nhau qua toàn bộ thị trường và do đó có thể cần màu tương phản rõ ràng và sách báo chữ to, trong khi những người khác đầu tiên chỉ mất đị thị trường ngoại vi, do đó có thể đọc chữ in ấn thông thường trong một khoảng thời gian dài hơn.

 

illus4e.jpg

Hình. 4e: Bệnh lý võng mạc do tiểu đường
Bản quyền Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.5. Mù hoàn toàn

Mù hoàn toàn có thể là hệ quả của tất cả các loại khiếm thị được ghi nhận trên đây, cũng như từ các nguyên nhân khác, như tai nạn, võng mạc bị tách ra ở cả hai mắt và các bệnh khác. Những người bị mất thị lực một cách đột ngột, đặc biệt là nếu họ đã từng sử dụng thư viện và đọc các loại sách và ấn phẩm thông thường thì họ vẫn muốn được tiếp tục đọc vì mục đích công việc, nghiên cứu hoặc giải trí. Một số người sẽ học ngôn ngữ Braille hay Moon; một số khác sẽ dựa vào sách nói. Đó là một thử thách lớn cho tất cả các loại thư viện trong việc đáp ứng đầy đủ các hình thức tài liệu nói trên cho những người khiếm thị có nhu cầu đọc ngoài mục tiêu giải trí.


Back to Chapter index
4.6. Người trẻ tuổi

Một số nhỏ người trẻ tuổi bị các vấn đề về mắt sẽ là những độc giả thường xuyên của tài liệu chữ Braille. Nhu cầu về thư viện và thông tin của họ sẽ nhiều và thay đổi như những người khác trong cùng độ tuổi và họ có quyền được hưởng dịch vụ của thư viện công cộng địa phương như mọi người khác. Nhiều cơ quan giáo dục đã có kinh nghiệm rộng rãi trong việc mang đến nhu cầu học tập cho những người trẻ tuổi bị các vấn đề về thị lực nặng, nhưng nhu cầu tiêu khiển thường do các cơ quan làm việc từ thiện tự nguyện giúp đỡ họ.


Back to Chapter index
References. Thông tin chi tiết

Hành động vì Người Mù (www.demon.co.uk/afbp) là trang web cung cấp thông tin về các tình trạng khác nhau và có kết nối trực tiếp với nhiều tổ chức quốc gia và quốc tế trong lĩnh vực nhãn khoa và khiếm thị.

 

Viện Quốc Gia Hoàng Gia Cho Người Mù (www.rnib.org.uk) cung cấp thông tin về tất cả các tình trạng bệnh lý thông thường của mắt.


Back to Chapter index
5.1. Mở đầu

Chương này tổng kết kết quả khảo sát đặc điểm xã hội - nhân khẩu và những thói quen đọc của người khiếm thị ở Anh quốc. Mô tả kết quả khảo sát và các công trình nghiên cứu được thực hiện trong hơn 10 năm vừa qua, trong đó đa số là các nghiên cứu của RNIB. Để biết thêm chi tiết của các đề án này, xin xem thêm phần tham khảo. [Ghi chú: Các số liệu thu thập trong các nghiên cứu chỉ có giá trị căn cứ nhằm ước lượng tình hình thực tế].

Chương này phản bác một số nhận thức không đúng về bệnh lý rối loạn thị lực. Chẳng hạn chương này dẫn chứng rằng người khiếm thị đọc được nhiều chủng loại, kể cả (mặc dầu có thể là rất khó khăn) các tài liệu in ấn. Và người khiếm thị có thể còn đọc nhiều hơn cả khi họ chưa bị các vấn đề về mắt. Chương này còn đưa ra những vấn đề khác biệt đáng kể trong cuộc sống của người khiếm thị so với người bình thường. Chẳng hạn, người khiếm thị thường có thu nhập thấp hơn mức thu nhập trung bình, thường gặp những khó khăn trong tiếp cận thông tin, tạp chí, sách vở và có thể không được thu nhận khi xin việc hay đi học. Những ghi nhận này có thể giúp ích trong việc lên kế hoạch hỗ trợ cho người khiếm thị trưởng thành cũng như trẻ em.

(Thông tin về người tàn tật và người khiếm thị Việt Nam được giới thiệu ở cuối chương - BBS)

 


Back to Chapter index
5.2. Định nghĩa về mù, giảm thị lực và rối loạn thị lực

Có nhiều từ ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ người bị giảm hoặc mất khả năng nhìn. Phần này sẽ định nghĩa sơ lược về một số từ ngữ có liên quan.


Back to Chapter index
5.2.1. Mù và giảm thị lực một phần

Đa số thông tin trong chương này nói về những người bị khiếm thị, có nghĩa là những người bị mù hoàn toàn hay bị giảm thị lực một phần.

Người khiếm thị có thể bị mù hay giảm thị lực một phần. Những tiêu chuẩn đánh giá dựa vào chất lượng của thị lực, do bác sĩ chuyên khoa mắt khám và kết luận. Các chi tiết cụ thể và kỹ thuật đánh giá được nêu trong tài liệu của RNIB - Cẩm nang kiểm tra thị lực người khiếm thị (1977).

Bị khiếm thị không hẳn là bị mất hoàn toàn khả năng nhìn. Chẳng hạn, một số người giảm thị lực một phần vẫn có khả năng đọc sách có kích thước chữ bình thường mà không cần sử dụng bất kỳ dụng cụ phóng to nào.

Cần lập hồ sơ y khoa và danh sách người khiếm thị để có chế độ trợ cấp và giúp đỡ. Chính quyền địa phương cần có những chế độ trợ cấp hay dịch vụ dành cho người khiếm thị. Tuy nhiên theo khảo sát thì dường như không có sự khác biệt về chế độ ưu đãi giữa người khiếm thị và người bình thường (Ford & Heshel, 1994).

 


Back to Chapter index
5.2.2. Rối loạn thị lực và những vấn đề về khả năng nhìn

Những thuật ngữ này được dùng để chỉ những người bị giới hạn khả năng nhìn mà không thể điều chỉnh được bằng mắt kính, bao gồm những người đã được xác nhận là bị mù hoàn toàn hay giảm thị lực một phần, cũng như những người chưa được kết luận nhưng gặp khó khăn khi đọc báo có kích thước chữ bình thường hay không nhận ra người quen thân đi ngược đường mặc dù có mang mắt kính (Martin et al, 1988). Những thuật ngữ này cũng có thể dùng để chỉ những người không đủ thị lực để lái xe, khả năng nhìn hai bên bị hạn chế, chậm thích ứng với những thay đổi về độ sáng.


Back to Chapter index
5.3. Số lượng và tuổi tác của cộng đồng người khiếm thị

RNIB ước lượng có trên 2 triệu người bị khiếm thị ở Anh quốc. [Ghi chú: Đó là ước lượng gần đây nhất của RNIB. RNIB cũng ước lượng rằng có khoảng 1.1 triệu người (chiếm 2% dân số) được kết luận rằng bị mù và giảm thị lực trong dân số vẫn không thay đổi. Tổng số được tính từ các kết quả của một thăm dò được công bố năm 1988 (Martin và cộng sự, 1988) để dự đoán cho năm 2001].

Chỉ có một phần ba trong số 1.1 triệu người khiếm thị là được lập danh sách (Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992). Đa số người khiếm thị (khoảng 801,000 người) có tuổi trên 75 tuổi.

Bảng 5A cho thấy ước tính có khoảng 18% người khiếm thị từ 75 tuổi trở lên, so với 2.5% người khiếm thị từ 65 đến 74 tuổi, 0.4% từ 15 đến 64 tuổi và 0.2% từ 14 tuổi trở xuống

Bảng 5A: Ước tính prevalence1 của người khiếm thị ở Anh quốc (2001)

 

Nhóm tuổi

 

0-14

15-64

65-74

75+

Tất cả các tuổi

Tỉ lệ phần trăm
trong cộng đồng người
khiếm thị ở Anh quốc

0.2

0.4

2.5

18

2

Ước tính số
người khiếm thị
ở Anh quốc (x1000)

22.5

156

123

801

1,103

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992 và thống kê của Chính phủ

Ghi chú: Các số liệu này cho thấy tỉ lệ % của tuổi tác ở người khiếm thị vẫn tương tự như các số liệu ghi nhận được trong khảo sát của RNIB trong các năm 1986-1987 (Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992).


Back to Chapter index
5.3.1. Số lượng người khiếm thị phân theo từng vùng địa lý

Do chính quyền địa phương công bố - được tổng kết trong phụ lục A1. Thông tin này được lấy từ trang web của RNIB www.rnib.org.uk/wesupply/fctsheet/statistics.htm. [Ghi chú: Có một khác biệt nhỏ giữa tổng số người khiếm thị trong bảng 5A và con số trong trang web của RNIB. Đó là do bảng 5A dựa trên số liệu năm 2001 còn trang web thì sử dụng số liệu năm 1996. Trang web của RNIB sẽ sớm được cập nhật].

Bộ Y tế của Anh quốc cũng có trang web trong đó có các số liệu thống kê về tổng số người khiếm thị tại Anh quốc: www.doh.gov.uk/public/blindandpartiallysighted.

 


Back to Chapter index
5.3.2. Dự đoán số lượng người khiếm thị

Theo dự đoán này thì trong 50 năm tới, số lượng trẻ em khiếm thị từ 14 tuổi trở xuống sẽ giảm, số lượng người khiếm thị từ 15 đến 64 tuổi sẽ không đổi và số lượng người khiếm thị trên 65 tuổi (nhất là những người trên 75 tuổi) sẽ tăng.

Cho là tỉ lệ khiếm thị không thay đổi, bảng 5B cho thấy những dự đoán của chính phủ rằng số lượng trẻ khiếm thị dưới 14 tuổi giảm từ 22,500 năm 2001 xuống còn 20,000 vào năm 2051. Trong cùng giai đoạn đó, số lượng khiếm thị độ tuổi 15 đến 64 vẫn giữ trong khoảng 160,000 người.

Bảng 5B cũng cho thấy rằng số lượng người khiếm thị độ tuổi 65-74 dự đoán sẽ tăng từ 122,925 năm 2001 lên đến 137,100 vào năm 2011; 166,225 vào năm 2021 và 196,350 vào năm 2031. Sau đó, số lượng sẽ hơi giảm còn 189,000 vào năm 2041 và 175,475 vào năm 2051.

Số lượng người khiếm thị trên 75 tuổi sẽ tăng đáng kể và sẽ tăng đến gấp đôi sau 50 năm. Các số liệu cho thấy từ 801,360 năm 2001 sẽ tăng lên đến 854,820 vào năm 2011; 1,008,360 vào năm 2021; 1,257,300 vào năm 2031; 1,535,940 vào năm 2041 và 1,605,420 vào năm 2051. Hình 5a cho thấy đường biểu diễn rất rõ nét.

 

Bảng 5B: Dự đoán số lượng người khiếm thị 2001-2051

 

Năm

Nhóm
tuổi

2001

2011

2021

2031

2041

2051

0-14

22,480

20,622

20,820

20,924

20,148

20,044

15-64

156,320

165,644

165,768

161,068

158,620

157,572

65-74

122,925

137,100

166,225

196,350

189,000

175,475

75+

801,360

854,820

1,008,360

1,257,300

1,535,940

1,605,420

 

Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Y tế và RNIB

 

Hình 5a:

 

Dự đoán số lượng người khiếm thị 2001-2005


Back to Chapter index
5.4. Tuổi khởi phát khiếm thị

Khảo sát của RNIB trên những người khiếm thị về tuổi khởi phát bệnh, 31% người trả lời nói rằng khởi phát khi còn ở độ tuổi lao động (17-59 tuổi), nhưng đa số (56%) cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau. Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi còn dưới 16 tuổi. (Ibid).


Back to Chapter index
5.5. Giới tính

Hình 5b: Phân bố giới tính theo tuổi

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992

Trẻ nam khiếm thị hơn nhiều hơn trẻ nữ khiếm thị. Thật vậy, 70% trẻ bị khiếm thị 12-15 tuổi là nam. Trong độ tuổi lao động, tỉ lệ nữ bị khiếm thị hơi cao hơn so với nam. Còn sau 60 tuổi thì tỉ lệ nữ bị khiếm thị cao hơn đáng kể so với nam giới.

 


Back to Chapter index
5.6.1. Các yếu tố kinh tế - xã hội

Ước tính chỉ có khoảng 25% người khiếm thị độ tuổi lao động là có việc làm (được trả lương). 46% những người khiếm thị không có thu nhập nói rằng họ muốn được làm việc (Ibid).

 

Khảo sát của RNIB (Ibid) cho thấy có 31% người khiếm thị độ tuổi lao động có thu nhập thấp hơn 1/3 thu nhập trung bình. 

 

40% người lớn khiếm thị sống trong viện dưỡng lão địa phương. Độ tuổi 60-74 có tỉ lệ sống ở viện dưỡng lão địa phương cao (58%) và thấp hơn ở độ tuổi 16-59 (40%) và trên 75 tuổi (43%) (Ibid). Ở người khiếm thị hoàn toàn thì tỉ lệ sống ở viện dưỡng lão địa phương gấp 1.75 lần so với những người sống ở nhà (Grundy và cộng sự, 1999).

 

45% người lớn khiếm thị sống ở nhà (Bruce và cộng sự, 1991) so với 11% trong dân số nói chung (Số liệu của Cơ quan thống kê quốc gia).

 

Người khiếm thị cao tuổi thích sống ở nhà của mình. 50% người khiếm thị trên 75 tuổi sống tự lo, so với 44% người khiếm thị độ tuổi 60-74 tuổi và 19% ở độ tuổi 16-59 tuổi.


Back to Chapter index
5.6.2. Đa khuyết tật

22% người khiếm thị tuổi từ 60 trở lên có sử dụng máy trợ thính. 35% người lớn khiếm thị bị rối loạn khả năng nghe (Bruce và cộng sự, 1991).

45% người khiếm thị cho biết họ thường hay đau ốm và bệnh tật (ngoài những vấn đề về mắt) nên thường gặp khó khăn khi làm những công việc hàng ngày trong nhà hay khi ra đường. Tỉ lệ này tương tự ở người lớn khiếm thị và ở tất cả các độ tuổi. (Ibid).

 


Back to Chapter index
5.6.3. Khả năng đi lại

32% người lớn khiếm thị nói rằng họ bị giới hạn rất nhiều trong việc đi lại khi ra đường và 26% nói rằng họ bị giới hạn hoàn toàn khả năng đi lại ngoài đường (Ibid). Chỉ có 48% tự tin khi đi bộ một mình trong khu vực mà họ sinh sống (Ibid).

Chỉ một tỉ lệ nhỏ người lớn khiếm thị dùng phương tiện hỗ trợ đi lại. 22% người khiếm thị từ 16 tuổi trở lên dùng gậy trắng và 1% có chó dẫn đường (Ibid).

 


Back to Chapter index
5.6.4. Nguồn thông tin

Hình 5c: Những nguồn chính cung cấp thông tin cho người lớn khiếm thị

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

85% người lớn khiếm thị tiếp cận thông tin qua nói chuyện trực tiếp. Ngoài ra nguốn tiếp cận thông tin quan trọng khác là các phương tiện truyền thông. Tivi chiếm 64%, radio chiếm 63% và báo, tạp chí chiếm 41% là các nguồn tiếp cận thông tin quan trọng. Ngoài ra, băng đĩa hay sách nói chiếm 13%, báo nói chiếm 7% và sách viết bằng chữ Braille chiếm 1% cũng là những nguồn quan trọng.

Ngoài ra, hiện nay máy vi tính cũng được sử dụng rộng rãi và trở thành một phương tiện cung cấp thông tin quan trọng cho người khiếm thị.

 


Back to Chapter index
5.6.5.1. Nhu cầu đọc lớn hơn sau khi bị giảm thị lực

Một khảo sát từ các khách hàng của 2 cửa hàng sách nghe dành cho người khiếm thị (Chartres, 1998), trên 2/3 người trả lời (68%) rằng họ đọc nhiều hơn sau khi bị khiếm thị.

Trong nhóm những người cho biết rằng họ đọc nhiều hơn sau khi bị khiếm thị, 67% cho rằng lý do chính là do có nhiều thời gian rảnh. 14% cho rằng đọc là một điều thích thú mới sau khi bị khiếm thị.

Nói chung, 82% trả lời cho rằng đọc là một phần rất quan trọng trong thời gian rỗi của họ. 63% dành thời gian đọc trên 2 giờ mỗi ngày.

 


Back to Chapter index
5.6.5.2. Các thể loại đọc

Dữ liệu trong bảng 5C cho rằng việc giảm thị lực làm giảm đọc báo, tạp chí nhưng lại tăng đọc sách.

 

Về báo và tạp chí, chỉ có báo địa phương và chương trình tivi/ radio là còn được trên 10% người đọc sau khi bị khiếm thị. Giảm nhiều nhất là số người đọc nhật báo, giảm từ 70% xuống còn 9%. Số người đọc chuyện trinh thám tăng 11% và các loại sách không phải thể loại trinh thám tăng 8%.

 

Bảng 5C: Các thể loại đọc trước và sau khi bị khiếm thị

 

 

Nguồn: Chartres, 1998

 

Ghi chú 2: Từ một thăm dò trên 1,067 khách đến 2 cửa hàng sách dành cho người khiếm thị. Tóm lại, sau khi giảm thị lực, số người đọc tăng lên nhưng giảm thể loại đọc.


Back to Chapter index
5.6.5.3. Hình thức đọc

Hình 5d: Hình thức đọc thường được người lớn khiếm thị chọn

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

 

Ghi chú 3: Người trả lời được quyền chọn từ 1 hình thức trở lên, cho nên tổng số cộng lại không đủ 100% 

 

Cần lưu ý rằng những người đọc sách báo chữ bình thường có thể sử dụng kính lúp hay những dụng cụ phóng to khác. Chẳng hạn, 60% người trên 60 tuổi có sử dụng kính lúp cầm tay (Bruce và cộng sự, 1991). 

 

Gần phân nửa (48%) đọc sách báo chữ bình thường, 24% thường đọc sách báo chữ to và 13% thường nghe băng đĩa. Chỉ có 1% thường đọc chữ Braille. 21% thường có người đọc cho nghe.

 

  • Sách báo : 58% người khiếm thị có thể đọc với số lượng nhỏ các tài liệu với loại phông chữ 16 và in đậm. Trong đó có 36% được xác nhận và có thẻ “khiếm thị” và 75% hội đủ các yếu tố để được xem là khiếm thị (Ibid). Khoảng 25% người khiếm thị đọc các loại sách chữ bình thường và chữ to. Như được mô tả trong bảng 5D, có khoảng 1/3 (31%) trong số đó có tuổi 16-59 tuổi và ¼ (24%) trong số đó có tuổi dưới 60 tuổi đọc sách chữ bình thường (31% so với 23%). Sách có chữ to có tỉ lệ đọc tương tự giữa 2 nhóm tuổi (21% và 23%).

    Bảng 5D: Tỉ lệ % người lớn khiếm thị đọc sách in

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991.

Bảng 5E: Số lượng sách chữ to được đọc-theo nhóm tuổi

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

  • Băng cassette : 46% người khiếm thị có máy nghe băng đĩa (Ibid). Một nghiên cứu năm 2001 cho thấy có 78% người lớn khiếm thị có máy cassette (Bruce và Baker, 2001). Chỉ có 3% người lớn khiếm thị nghe sách qua băng cassette, nhưng có 13% xem đó như mà một trong những phương tiện để đọc mà họ sử dụng thường xuyên nhất (Bruce và cộng sự, 1991).

    Gần đây, tổ chức LISU (Library and Information Statistics Unit) khảo sát và nhận thấy rằng 83% người lớn khiếm thị dùng máy cassette và CD để đọc (Davies và cộng sự, 2001). 

    Hiện nay các loại sách nói ngày càng phổ biến và rẻ hơn và do đó nhu cầu về thể loại này ngày càng gia tăng kể từ nghiên cứu của Bruce và cộng sự tiến hành năm 1991 và điều này có thể được phản ánh bởi sự gia tăng số người khiếm thị có sở hữu máy cassette từ năm 1991 đến năm 2001. Kết quả của một nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng băng cassette là thể loại sách đọc phổ biến của người khiếm thị (Moore, 2000). 

    25% người mù và 4% người khiếm thị một phần có máy nghe sách nói (RNIB Talking Books player) mặc dù cũng tương đối ít người biết đến dịch vụ này – 47% người mù và 59% người khiếm thị một phần không biết đến dịch vụ sách nói và chỉ có 13% biết rằng nhà sách có thể cung cấp cho họ những thông tin về sách nói (Bruce và Baker, 2001). LISU cho biết có ít người sử dụng máy nghe sách nói (RNIB Talking Books) (13%) nhưng con số này có thể tăng lên do cách lấy mẫu khác nhau. (Davies và cộng sự, 2001).
  • CD
    33% người khiếm thị có máy nghe CD nhưng tỉ lệ này thay đổi giữa các nhóm tuổi: 66% dưới 60 tuổi, so với 32% ở độ tuổi 60-74 tuổi và 12% từ 75 tuổi trở lên (Bruce và Baker, 2001). Một khảo sát của LISU thấy rằng có ít người sử dụng máy CD để đọc (Davies và cộng sự, 2001). Ví dụ, chỉ có 7% người khiếm thị độ tuổi 25-64 tuổi thích sử dụng máy CD để đọc. [Ghi chú: LISU đã đánh giá sự ưa thích sử dụng máy CD để đọc và RNIB đã đánh giá có bao nhiêu người có sử dụng máy nghe CD].
  • Chữ Braille
    Chỉ có 4% người mù và 0.4% người khiếm thị một phần đọc sách Braille (Bruce và Baker, 2001). Nghiên cứu trước đó cho thấy có sự khác biệt đáng kể theo tuổi tác. Ví dụ, 14% người độ tuổi 16-59 và 1% người trên 60 tuổi có thể đọc chữ Braille (Bruce và cộng sự, 1991).
  • Máy vi tính
    Máy vi tính đang trở thành một phương tiện quan trọng để tiếp cận thông tin cho người khiếm thị với các thiết bị hỗ trợ như màn hình phóng to hay thiết bị chuyển văn bản thành lời nói, qua đó người khiếm thị có thể tra cứu thông tin trên đĩa hay truy cập thông tin trên internet.
  •  
  • 11% người khiếm thị nói rằng họ có sử dụng máy vi tính, nhưng có sự khác biệt đáng kể theo tuổi tác. 31% có tuổi 16-59 và chỉ có khoảng 2% trên 60 tuổi sử dụng máy vi tính (Bruce và Baker, 2001). Hiện nay, số người sử dụng máy vi tính sẽ tăng nhiều hơn so với số liệu trong nghiên cứu này thực hiện từ năm 1998 đến 2000. Trong những người sử dụng máy vi tính, 78% sử dụng màn hình bình thường, 20% sử dụng thiết bị phóng to màn hình và 14% sử dụng thiết bị chuyển bản văn thành lời nói (Ibid). LISU cho rằng số người sử dụng máy vi tính nhiều hơn (Davies và cộng sự, 2001). Ví dụ, họ tổng kết có 53% người khiếm thị 25-64 tuổi sử dụng máy vi tính. [Ghi chú: Có một số khác nhau giữa ước lượng của RNIB và LISU do số lượng mẫu nghiên cứu khác nhau (n=134 trong nghiên cứu của LISU và n=418 trong nghiên cứu của RNIB. Mẫu nghiên cứu càng ít thì tính chính xác thấp hơn so với nghiên cứu có số mẫu nghiên cứu nhiều hơn].

    Back to Chapter index
    5.6.6. Sử dụng thư viện tại chỗ

    Tỉ lệ người khiếm thị là thành viên của các thư viện có sự khác nhau đáng kể giữa các địa phương. Một số vùng chỉ có 2% người khiếm thị là thành viên của thư viện, trong khi đó có vùng tỉ lệ người khiếm thị là thành viên của thư viện chiếm đến 55%. Số liệu này so sánh với tỉ 58% ở toàn thể nước Anh. (Kinnell và cộng sự, 2000). 

     

    Số liệu ghi nhận từ 2 địa phương ở Anh quốc cho thấy rằng có khoảng 6% sách cho mượn ở thư viện thuộc loại chữ to (số liệu không công bố được cung cấp bởi Hội đồng thành phố của 2 địa phương Gloucestershire và Essex). Ngành thư viện ở Anh quốc ước tính rằng ở Anh quốc có khoảng 9% - tương đương với 46 triệu sách – thuộc loại chữ to hàng năm. 

     

    Có 2 thư viện sách nói lớn ở Anh quốc là thư viện sách nói RNIB có khoảng 50,000 thành viên và Calibre có khoảng 15,000 thành viên. Đa số các thông tin trong phần này được lấy từ khảo sát của Chartres (1998) trên các thành viên của các thư viện kể trên. Cần lưu ý rằng các số liệu này không thể đại diện cho toàn bộ cộng đồng người lớn khiếm thị trên khắp nơi.


    Back to Chapter index
    5.6.6.1. Tỷ lệ người khiếm thị đến thư viện

    Chartres (Ibid) tổng kết có khoảng 42% người sử dụng sách nói  có đến thư viện sách của địa phương. Trong số đó, đa số tự đi, 38% nhờ người thân đi thay và 15% tự đi hoặc nhờ người thân. Còn theo nghiên cứu LISU thì có khoảng 31% người khiếm thị đến thư viện trong 6 tháng gần nhất (Davies và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.6.6.2. Tần số của việc sử dụng thư viện

    Bảng 5F cho thấy tần số của những người tự đi thư viện. 34% đi mỗi tuần, khoảng 49% đi mỗi tuần hay mỗi tháng một lần và 17% đi dưới 1 lần mỗi tháng.

     

    Bảng 5F: Tần số sử dụng thư viện địa phương
    (Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.6.3. Chọn sách

    Người khiếm thị thường nhờ giúp đỡ của nhân viên thư viện hoặc người thân khi chọn lựa sách nói cũng như sách in. Tuy nhiên 23% trong số họ thường tự mình chọn lựa và 9% chọn lựa thông qua danh mục sách niêm yết. LISU cũng nhận thấy rằng có khoảng 60% người khiếm thị đến thư viện có người khác đi chung (Davies và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.6.6.4. Đánh giá chất lượng thư viện

    Bảng 5G cho kết quả đánh giá của người khiếm thị sử dụng thư viện về chất lượng thư viện trên nhiều khía cạnh khác nhau. Thuận tiện đi lại trong thư viện chiếm 85%, chất lượng phục vụ tốt của nhân viên thư viện chiếm 93%. Nhưng LISU nhận thấy có 50% người khiếm thị đến thư viện gặp khó khăn khi đi lại trong thư viện (Davies và cộng sự, 2001). [Ghi chú: Sự khác biệt này là do Chartres lấy mẫu không điển hình]. Sử dụng các phương tiện di chuyển công cộng được đánh giá không cao so với số chủng loại sách và hình thức tiếp cận thông tin. 

     

    Một tỉ lệ lớn người trả lời cho rằng họ không biết làm thế nào để đánh giá chất lượng ánh sáng ở bên trong và bên ngoài thư viện, số chủng loại sách có trong thư viện và danh mục tựa sách dưới nhiều dạng trình bày khác nhau. Lý do của sự do dự khi trả lời không rõ lắm.

     

    Bảng 5G: Đánh giá của người được phỏng vấn trên chất lượng của dịch vụ ở thư viện (Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.6.5. Nguyên nhân người khiếm thị không sử dụng thư viện địa phương

    58% trả lời trong thăm dò của Chartres rằng họ không sử dụng thư viện địa phương. Họ được yêu cầu cho biết những nguyên nhân chính (xem Bảng 5H).

     

    "Nguyên nhân chính" là do khó khăn khi đến thư viện (41%). Điều này phù hợp với việc đi lại khó khăn của người khiếm thị (xem (5.6.3).

     

    Hai nguyên nhân chính nữa là do có ít loại sách chữ to hay sách nói (19%) và họ thích đến thư viện chuyên về sách nói hơn (11%).

     

    Bảng 5H: Lý do tại sao người khiếm thị ít đến thư viện của địa phương

     

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.7. Giáo dục bổ túc

    Có khoảng 4,500 người khiếm thị theo học tại các trường giáo dục bổ túc ở Anh quốc (Simkiss và cộng sự, 1998).


    Back to Chapter index
    5.6.7.1. Các hình thức đọc ưa chuộng của học sinh khiếm thị theo hệ bổ túc

    Có 30% chọn học bằng chữ Braille, tuy nhiên tỉ lệ rất khác nhau giữa các nhóm tuổi, chẳng hạn như chỉ có 14% người khiếm thị ở độ tuổi 16-59 là có thể đọc được chữ Braille- xem phần 5.6.5.3. ; 5% thích học bằng máy vi tính (Ibid). 

     

    Học sinh khiếm thị tại các trường giáo dục bổ túc thích học bằng chữ Braille hơn (49%) so với học sinh khiếm thị tại các trường đào tạo chính qui (21%). Ngược lại, học sinh khiếm thị tại các trường đào tạo chính qui thì lại thích học bằng máy vi tính hơn (43%) so với học sinh khiếm thị tại các trường giáo dục bổ túc.

     

    Bảng 5I: Các phương tiện đọc được học sinh khiếm thị ưa chuộng tại các trường giáo dục bổ túc

     

     

    Nguồn: Simkiss và cộng sự, 1998, trang 17

     

    Ghi chú 4: Dành cho các trường Giáo dục bổ túc và Trung cấp dành riêng cho những người có nhu cầu đặc biệt.

     


    Back to Chapter index
    5.6.8. Giáo dục đại học

    Có khoảng 2,800 học sinh khiếm thị đang theo các chương trình giáo dục đại học, trong đó có khoảng 750 là sinh viên của Đại học mở (Ibid).

    Sinh viên khiếm thị theo các chương trình giáo dục bậc đại học thường lớn tuổi hơn các sinh viên khác. Có 66% từ 26 tuổi trở lên khi bắt đầu chương trình học, so với 40% sinh viên ở độ tuổi này theo học các chương trình giáo dục cao hơn nói chung (Ibid).

     


    Back to Chapter index
    5.7. Trẻ em bị khiếm thị

    Ước tính có khoảng 22,500 trẻ em bị khiếm thị ở Anh quốc, tuy nhiên số thực tế có thể khác do cách lấy mẫu. Ở các trẻ em này, có ít nhất 36% bị thêm bệnh khác ngoài bệnh mắt. Những trẻ em này có những nhu cầu phức tạp để bổ sung cho sự suy giảm thị lực. 2/3 còn lại ít có nhu cầu đặc biệt hơn thì có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản. Phần này mô tả những bệnh lý chính, việc đọc và học trong 2 nhóm trẻ nêu trên.


    Back to Chapter index
    5.7.1.1. Trẻ bị thêm bệnh khác

    Trong nhóm trẻ bị thêm bệnh khác ngoài bệnh mắt, ước tính có khoảng 29% bị bại não, 26% bị bệnh lý khác có ảnh hưởng đến hoạt động của cơ thể như viêm khớp hay có vấn đề ở tủy sống, và 26% bị bệnh khác như hen phế quản, động kinh, tiểu đường (Crofts và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.7.1.2. Trẻ khiếm thị còn có khả năng học các chương trình giáo dục cơ bản

    Ở các trẻ khiếm thị tuổi từ 5 đến 16 tuổi có khả năng theo học các chương trình giáo dục cơ bản thì có khoảng 30% bị thêm một hoặc nhiều bệnh lý khác. Trong nhóm này, có khoảng 37% bị bệnh phải dùng thuốc, 20% bị khó khăn trong việc vận động, 19% bị khó khăn khi tiếp thu bài vở, 12% bị giảm thính lực và 10% bị bệnh lý di truyền phức tạp (Crofts và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.7.2. Khả năng đọc

    Nhiều trẻ khiếm thị vần còn khả năng nhìn được. Có 51% có thể nhặt đồng xu mà không phải mò mẫm, và ¼ có thể nhận ra người quen đi ngang qua mặt ở ngoài đường (Walker và cộng sự, 1992). 

     

    Đa số trẻ khiếm thị trong nhóm còn có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản có thể đọc và viết chữ to nếu có đủ ánh sáng. Nhiều trẻ sử dụng thiết bị phóng to để phóng to chữ lên. 34% có thể đọc được chữ in bình thường, 27% đọc được chữ in to và 18% có thể đọc được cả hai (Franklin và cộng sự, 2001). Chỉ có 4% trẻ khiếm thị đọc được chữ Braille (Clunies-Ross và cộng sự, 1999).


    Back to Chapter index
    5.7.3. Trường học

    Hình 5e: Các loại trường ở Anh quốc có trẻ khiếm thị theo học

     

    Nguồn: Clunies-Ross và cộng sự, 1999

     

    Hình 5e cho thấy rằng đa số (60%) trẻ khiếm thị theo học tại các trường bình thường. Chỉ có 7% trẻ khiếm thị ở Anh quốc theo học tại các trường đặc biệt dành cho trẻ khiếm thị, so với 22% ở năm 1988. Có 31% theo học tại các loại trường đặc biệt khác. Điều này có nghĩa là nhiều trường học có trang bị thư viện sách dành cho người khiếm thị để học tập và giải trí.

     


    Back to Chapter index
    5.8.1. Tình trạng bệnh tật

    Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết hiện nay ở Việt Nam có trên 5,1 triệu người tàn tật và trẻ mồ côi, chiếm 7% dân số. Điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra vả lại hậu quả mấy chục năm chiến tranh còn kéo dài nên số lượng người tàn tật ở Việt Nam là khá lớn.

    Thực ra, Việt Nam chưa có một cuộc điều tra có quy mô toàn quốc đủ lớn và toàn diện về vấn đề người tàn tật để có những số liệu đáng tin cậy: tổng số người tàn tật, độ tuổi, giới tính, nguyên nhân, các dạng tàn tật, những thông tin về đặc tính của người tàn tật, các dạng dịch vụ mà những người tàn tật được thụ hưởng cũng như nhu cầu của người tàn tật…

    Trong những năm gần đây, với chức năng, nhiệm vụ được giao, nhiều tổ chức, cơ quan Việt Nam đã tiến hành một số cuộc điều tra, khảo sát về vấn đề người tàn tật. Song các cuộc điều tra này với quy mô hạn hẹp chỉ phục vụ cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ hoặc yêu cầu cụ thể của ngành hay địa phương. Đó là chưa kể đến sự thiếu nhất quán, không rõ ràng ngay từ những khái niệm, định nghĩa, cho tới các tiêu chí phân loại, các chỉ tiêu đánh giá, nội dung và phương thức tiến hành của các cuộc khảo sát về vấn đề người tàn tật đã dẫn đến kết quả là nhiều số liệu còn thiếu, hoặc trùng lặp, các kết quả điều tra khảo sát chưa phản ánh đầy đủ về hiện trạng vấn đề người tàn tật Việt Nam, nhiều khi các số liệu khác biệt nhau quá lớn và không thể so sánh với nhau được…

    Tham khảo các báo cáo kết quả điều tra (1994 – 1995, 1998) của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; các tài liệu khảo sát của Bộ Giáo dục, Bộ Y tế, các số liệu báo cáo của mạng lưới chỉnh hình phục hồi chức năng; ý kiến của cộng đồng; các tài liệu nghiên cứu, khảo sát của một số tổ chức Quốc tế đã tiến hành tại Việt Nam, thực trạng về người tàn tật trong đó có người khiếm thị ở Việt Nam có thể được phản ánh theo các điểm sau đây:

    Các dạng tật chủ yếu và các nguyên nhân:

    Các dạng tật:

    Dạng tật

    Vận động

    Thị giác

    Thính giác

    Ngôn ngữ

    Trí tuệ

    Thần kinh

    Tỉ lệ %

    35,46

    15,70

    9,21

    7,92

    9,11

    13,93

    Nguyên nhân của các dạng tật:

    Thứ tự

    Nguyên nhân

    Tỉ lệ  % so với người tàn tật

    Tỉ lệ %

    Nam %

    Nữ %

    1

    Bẩm sinh

    34,15

    30,44

    40,61

    2

    Bệnh tật

    35,75

    29,75

    46,11

    3

    Tai nạn lao động

    1,98

    2,36

    1,32

    4

    Tai nạn giao thông

    5,52

    6,75

    3,38

    5

    Tai nạn chiến tranh

    19,07

    27,07

    5,14

    6

    Nguyên nhân khác

    3,55

    3,63

    3,44

     

     

    100

    100

    100

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Các bảng trên đây cho thấy người tàn tật cơ quan vận động chiếm tỉ lệ cao nhất: 35,46% sau đó là thị giác: 15,70% và thần kinh chiếm 13,93%. Nguyên nhân dẫn tới tàn tật là do: bẩm sinh chiếm 34,15%, bệnh tật chiếm 35,75% và tai nạn chiến tranh là 19,07%. Riêng nguyên nhân tai nạn chiến tranh tỉ lệ nam tàn tật cao hơn nhiều so với tỉ lệ của nữ. Tỉ lệ người đa tật chiếm khá cao: 20,22% trong tổng số nguời tàn tật.

    Nói về hiện trạng người tàn tật có liên quan tới mắt; hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 45 triệu người mù và 135 triệu người khiếm thị. Trong số những người mù và khiếm thị, có đến 90% số người mù lòa sống ở các quốc gia nghèo nhất thế giới, Việt Nam được xếp trong nhóm các nước này. Mặt khác, số lượng người mù trên thế giới có xu hướng gia tăng. Dự tính do sự gia tăng dân số, tăng tuổi thọ và một số nguyên nhân khác, số người mù trên thế giới sẽ tăng gấp 2 lần vào năm 2020 nếu như chúng ta không có những biện pháp phòng chống mù lòa hữu hiệu. Theo cách tính này, đến năm 2020 ở Việt Nam sẽ có hơn một triệu người mù và hơn ba triệu người khiếm thị. Có thể thấy gánh nặng mù lòa ngày càng gia tăng sẽ gây trở ngại lớn trong quá trình thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội.

    Theo thống kê của Viện Mắt Trung ương, nước ta hiện có khoảng 900.000 người khiếm thị, trong đó có khoảng hơn 600.000 thuộc đối tượng mù chiếm 1,2% dân số cả nước.

    Kết quả điều tra về tình hình mù lòa (năm 2002):

    Bảng 3: Nguyên nhân gây mù ở Việt Nam qua điều tra:

    Nguyên nhân mù

    Điều tra 2000-2002  (8 vùng sinh thái)

    Số khám điều tra

    13,896

    1. Đục thể thuỷ tinh

    2. Bệnh đáy mắt

    3. Glôcôm

    4. Mắt hột (CO)

    5. Sẹo giác mạc khác

    6. Tật khúc xạ

    7. Mổ TTT không chỉnh kính

    8. Biến chứng phẫu thuật

    9. Nguyên nhân khác

    71,3

    11,5

    5,7

    2,7

    2,3

    0,8

    1,7

    1,8

    2,3

                    Cộng

    100 %

    Tỷ lệ mù 2 mắt (ở người > 50 tuổi)

    4,76%

     Tỷ lệ mù 2 mắt (toàn dân)    

    0,63% (ước tính)

    Theo kết quả của điều tra trên, tỷ lệ mù 2 mắt do mọi nguyên nhân ở người từ 50 tuổi trở lên qua điều tra ở miền Bắc là 4,34%, thấp hơn có ý nghĩa so với ở miền Nam là 5,17%, trong đó tỷ lệ mù 2 mắt do đục thể thuỷ tinh trong suốt thời gian 2 thập kỷ qua vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây mù ở nước ta, chiếm tới 71,3%, sau đó đến các bệnh bán phần sau nhãn cầu ( dịch kính, võng mạc, thị thần kinh, màng bồ đào) chiếm 11,5%. Glocom là nguyên nhân gây mù thứ 3, chiếm tới 5,7%.

    Như vậy, ước tính theo tỷ lệ mù ở dân số, thì hiện nay cả nước ta có ít nhất 482,700 người bị mù 2 mắt và 891,000 người mù 1 mắt. Trong số đó có khoảng 344,000 người mù 2 mắt (chiếm 71,3%) và 504,500 người bị mù 1 mắt (chiếm 56,6%) do đục thể thuỷ tinh cần được mổ.


    Back to Chapter index
    5.8.2. Hoàn cảnh sống, việc làm và học tập

    Hoàn cảnh sống và việc làm

    Báo cáo của Tiến sĩ Ôn Tuấn Bảo, Giám đốc văn phòng điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật ở Việt Nam, về tổng quan tình hình người tàn tật Việt Nam và sự hỗ trợ của chính phủ cho biết:

    Phần lớn người tàn tật sống cùng với gia đình, chiếm tỉ lệ: 95,85%. Số người tàn tật sống độc thân chiếm 3,31%. Tỉ lệ người tàn tật sống trong trại bảo trợ xã hội của nhà nước là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi: 15 – 55 chiếm 54,17% và nhóm tuổi dưới 15 chiếm 28,85%). Người tàn tật sống lang thang là 0,62%.

    Vẫn còn khó khăn khi người tàn tật đi ra ngoài một mình vì thành phố thiếu những đường đi và phương tiện giao thông có thiết kế đặc biệt dành cho người khuyết tật. Việt Nam chưa có cơ sở hạ tầng như là những lối đi trong công viên công cộng dành cho người khuyết tật và hệ thống giao thông hữu ích để người khuyết tật có thể đi ra ngoài mà không cần nhiều đến sự trợ giúp của người nhà. Theo Vietnamnet về chương trình người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng thì phần lớn các công trình đang xây dựng và sử dụng đều thiếu phương tiện và trang thiết bị cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội.

    Cả nước có 58,18% số người tàn tật có việc làm, tự nuôi sống mình và tham gia đóng góp cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau. Tỉ lệ người tàn tật có nhu cầu song chưa có việc làm là 30,43%. Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ là hai vùng có số người tàn tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương ứng là 41,86% và 35,77%. Đây là một nhiệm vụ cấp bách cần được đề cập trong các chương trình, dự án hỗ trợ người tàn tật để giúp họ có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng.

    Người bị tàn tật đa số là do bẩm sinh, bệnh tật và tai nạn lao động. Đặc biệt, có tới 20% bị đa tàn tật (vừa câm, vừa điếc hoặc bị khiếm khuyết cả về vận động, thị giác, trí tuệ...). Sức khoẻ yếu, lại không được học hành đầy đủ (chỉ gần 6% người tàn tật học hết trình độ trung học phổ thông, trên 20% có trình độ trung học cơ sở), nên cơ hội kiếm việc làm của họ gần như không có. Đây là nguyên nhân chính khiến họ không tìm được việc làm, phải sống dựa vào gia đình và trợ cấp xã hội.

    Một nguyên nhân khác theo ông Đoàn Soát, Chủ tịch Hội người mù Việt Nam, quy định tỷ lệ 2% người tàn tật vào làm việc ở các cơ quan hành chính, doanh nghiệp chưa được thực hiện. Nhà nước cũng chưa có chế tài, chưa có cơ quan nào được phân công giám sát các cơ quan hành chính, doanh nghiệp thực hiện quy định này. Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có 5 triệu người tàn tật, chiếm 6,4% dân số. Người ở độ tuổi lao động chiếm 69% và 50% số này đang tham gia sản xuất. Hơn 400 cơ sở của người tàn tật đã tạo việc làm cho 20.000 người khuyết tật. Luật pháp VN quy định các doanh nghiệp trên lãnh thổ có trách nhiệm nhận lao động là người tàn tật vào làm việc với tỉ lệ 2% - 3% so với tổng số lao động. Doanh nghiệp nào không thực hiện được thì phải trích một phần lợi nhuận để đóng góp vào quỹ hỗ trợ việc làm cho người tàn tật. VN hiện có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh doanh của người tàn tật

    Học tập

    Dự án giáo dục tiểu học lớn nhất của Việt Nam mang tên ''Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn'' sẽ bắt đầu được thực thi từ ngày 12/10. Điều này có nghĩa là 200 triệu USD do các nhà tài trợ cung cấp đã sẵn sàng để đến với hơn 4.200 trường học chính và gần 15 nghìn điểm trường ở Việt Nam. Mục tiêu đến năm 2009, các hướng dẫn chỉ đạo ngành sẽ được hoàn thiện nhằm tạo điều kiện hỗ trợ giáo dục cho trẻ khuyết tật và nhóm trẻ có nguy cơ thiệt thòi cao (trẻ đường phố, trẻ di cư, trẻ em gái dân tộc thiểu số và trẻ em sống ở các làng chài...). Theo Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đặng Huỳnh Mai, Ủy ban chuyên trách về việc đưa trẻ khuyết tật tới trường học sẽ được thành lập. Thứ trưởng phát biểu: “Chúng tôi muốn đưa các em khuyết tật đi học, những em mà theo chúng tôi nên tới trường học sẽ tốt hơn là ở trong các trung tâm y tế. Có thể các em không xuất sắc lắm trong lớp học nhưng các em sẽ có cơ hội hòa nhập vào cộng đồng”. Thống kê đã chỉ ra rằng có tới 1 triệu trẻ khuyết tật ở Việt Nam, tương ứng với 3% số trẻ em trên toàn quốc. Sáu dạng tật chính là khiếm thính, khiếm thị, khuyết tật tinh thần, khuyết tật vận động và không có khả năng nói. Trẻ khuyết tật tập trung nhiều nhất tại các tỉnh miền Trung như Quảng Trị, Quảng Nam và Quảng Ngãi. Theo các chuyên gia về giáo dục, nước ta cần khoảng 640.000 giáo viên để giảng dạy cho tổng số trẻ em khuyết tật trên. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã mở khoa giáo dục trẻ khuyết tật nhưng hiện tại thì đây là đơn vị duy nhất có khoa chuyên môn này. Khoa được thành lập năm 2000 và hiện có gần 90 sinh viên đang theo học. Vừa qua tại Tp.HCM đã khai trương Trường Mẫu giáo và Tiểu học cho trẻ em khuyết tật. Đây là môi trường giáo dục đầu tiên trên toàn quốc cung cấp cách giảng dạy thích hợp cho trẻ khuyết tật với chương trình giảng dạy do Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn. Ngôi trường này đã đón nhận 26 trẻ em khuyết tật trong độ tuổi từ 5 – 18 và sẽ được cung cấp chương trình học cơ bản với những kiến thức về kĩ năng sống, quan hệ giữa con người, sức khỏe và hòa nhập vào cộng đồng. Chỉ có thiểu số trẻ khuyết tật tiếp cận được với hệ thống trường học. Số trẻ còn lại được nhận thấy là khó có thể sống một cuộc sống bình thường và còn thiếu cả những yếu tố cần thiết cho cuộc sống.

    Đa số, khi phải hòa nhập với trường học của người sáng, các em phải nhờ bạn bè đọc giúp tài liệu rồi ghi âm vào băng, sau đó mở ra nghe và tự mình đánh máy bằng phần mềm dành cho người khiếm thị. Hiện nay có 3 tổ chức chính hỗ trợ cho chương trình giáo dục hòa nhập(GDHN), đó là Radda Barnen (RB), Tổ chức quốc tế Pearl S Buck (PSBI) và Tổ chức cứu trợ và phát triển (CRS). Theo thống kê của Trung tâm Tật học, Viện khoa học và giáo dục, GDHN hiện đang được triển khai thực hiện tại 51 trong tổng số 61 tỉnh/ thành phố trong cả nước với sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế và phi chính phủ khác.

    Tổ chức RB đã thực hiện chương trình GDHN từ nhiều năm trước đây. Những năm gần đây, dự án hỗ trợ tập trung ở hai tỉnh là Vĩnh Phúc và Tiền Giang. Trọng tâm của chương trình trong những năm gần đây là nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong các trường hoà nhập và huy động sự tham gia và hỗ trợ của cộng đồng để đẩy mạnh chương trình giáo dục hoà nhập. Đối tượng là tất cả học sinh khuyết tật 0 - 16 tuổi tại vùng thực hiện dự án từ năm 1999, RB hỗ trợ việc xây dựng chương trình đào tạo giáo viên có trình độ cao đẳng về giáo dục hoà nhập. Chương trình này đã được thử nghiệm ở hai trường CĐSP Vĩnh Phúc và Trường CĐSP Tiền Giang (năm học 1999 - 2000) và bốn trường (Vĩnh Phúc, Tiền Giang, Thừa Thiên Huế và Phú Thọ) trong năm học 2000 - 2001.

    Tổ chức PSBI hỗ trợ thực hiện chương trình GDHN cho trẻ khiếm thính tại tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Đồng Tháp, Long An, Đồng Nai. Tỉnh Thái Nguyên có khoảng 4200 trẻ khuyết tật trong đó trẻ câm điếc là 1350, cho đến nay đã có 3 huyện tham gia dự án GDHN trẻ khiếm thính và đã đưa được 138 trẻ câm điếc ra lớp. Trong năm học 2000 - 2001 ngành giáo dục tỉnh Thái Nguyên tiếp tục triển khai thêm 2 huyện nữa. Phú Thọ có 4923 trẻ khuyết tật, tính đến tháng 4 năm 2001 đưa được 1865 trẻ ra lớp học.

    Tổ chức CRS bắt đầu thực hiện chương trình hoà nhập từ năm 1995 với 2 dự án thí điểm ở Từ Liêm (Hà Nội) và Thường Tín (Hà Tây). Từ năm 1998 đã mở rộng thêm tới 3 huyện Yên Khánh (Ninh Bình) Hoà bình và Quảng Ninh với khoảng trên 3000 trẻ khuyết tật được hưởng lợi.

    Bộ Giáo dục đặt ra chủ trương đưa 100% trẻ khuyết tật được đến trường, sử dụng công nghệ thông tin cho trẻ khiếm thị nói riêng và trẻ khuyết tật nói chung. Bộ Giáo dục xúc tiến đề nghị Chính phủ công nhận hệ thống chữ Braille là chữ viết chính thức được phép lưu hành rộng rãi trong cả nước và sớm cấp phép xuất bản sách giáo khoa cho người mù ở tất cả các cấp học. Nhưng theo bà Đặng Huỳnh Mai,Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo, Trưởng ban chỉ đạo giáo dục trẻ khuyết tật, thủ tục cấp phép và xuất bản thường là rất lâu nên phải ít nhất 1 năm nữa người mù Việt Nam mới có thể có trong tay những cuốn sách giáo khoa mới này. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng vừa mới kiến nghị Chính phủ về hình thức giáo dục tự chọn cho trẻ khiếm thị với 3 cách: hòa nhập; bán hòa nhập và biệt lập để xây dựng chính sách chủ trương hành động cụ thể cho các trường khi tiếp nhận học sinh khiếm thị vào học tại trường.

    Một số kiến nghị được thông qua tại Diễn đàn giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại Việt Nam vào năm 2001 như: chỉ đạo sử dụng thống nhất trong nhà trường hệ thống chữ nổi cho người mù và hệ thống ngôn ngữ học ký hiệu cho người điếc; nghiên cứu xuất bản sách giáo khoa chữ nổi, đồ dùng dạy và họ cho trẻ khuyết tật học hoà nhập. Hiện nay một số trẻ khuyết tật nặng về thị giác, thính giác, ngôn ngữ chỉ học được hết tiểu học và không được học lên trung học cơ sở vì các trường đó không có các giáo viên dạy chữ nổi hay ngôn ngữ ký hiệu và kiến nghị Bộ Giáo Dục và Đào tạo có kế hoạch triển khai ở các bậc học cao hơn.

    Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Văn Nhung ký công văn số 4801/ĐH&SĐH ngày 14 tháng 6 năm 2004 cho Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, các Đại học, Học viện, các Trường Đại học, Cao đẳng về Đào tạo học sinh khiếm thị.

    Trong những năm qua, một số học sinh khiếm thị tốt nghiệp THPT hoặc tương đương có nguyện vọng xin học các trường đào tạo (đại học, cao đẳng, THCN, dạy nghề). Tuy chưa có quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhưng để tạo điều kiện cho học sinh khiếm thị hoà nhập cộng đồng, một số trường đã tiếp nhận đào tạo.

    Nay, để bảo đảm quyền lợi cho học sinh khiếm thị và để các trường có cơ sở xem xét giải quyết, Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn như sau:

    ·         Trường đào tạo nào, ngành học nào có điều kiện đào tạo học sinh khiếm thị thì được tiếp nhận đào tạo theo các điều kiện do trường quy định phù hợp với thực tế của trường và yêu cầu đào tạo của ngành học (thi tuyển hay xét tuyển, cam kết của gia đình học sinh bảo đảm điều kiện đi lại, sinh hoạt, học tập của học sinh...).

    ·         Trong quá trình đào tạo, tuỳ theo khả năng học tập thực tế của học sinh, sinh viên khiếm thị, các trường quyết định về chế độ học bổng, học phí, môn học và việc cấp văn bằng, chứng chỉ phù hợp với các quy định hiện hành của Nhà nước và của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    Trình độ văn hóa và chuyên môn:

    Một bộ phận không nhỏ người tàn tật chưa biết chữ với tỉ lệ 35,58% chung cho toàn quốc. Riêng khu vực nông thôn là 36,9%.

    Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp I chiếm tỉ lệ 25,36%. Người tàn tật có trình độ văn hóa cấp II chiếm tỉ lệ 21,46% và cấp III là 5,64% (đặc biệt người tàn tật ở khu vực đô thị có trình độ cấp III có tỉ lệ khá cao: 15,98%; so với khu vực nông thôn là 4,31%).

    Phần lớn người tàn tật không có trình độ chuyên môn kỹ thuật chiếm 97,64%. Chỉ có một bộ phận nhỏ người tàn tật được đào tạo (công nhân kỹ thuật: 1,22%; trung học chuyên nghiệp: 90,53%; cao đẳng và đại học 0,61%).

    Vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho người tàn tật, khâu quan trọng nhất để tạo điều kiện cho người tàn tật có thể tham gia hòa nhập với cộng đồng ở Việt Nam còn là một nhiệm vụ rất lớn và nặng nề. Hiện nay, cả nước có khoảng 1 triệu trẻ em khuyết tật, chiếm 3% trẻ em nói chung ở lứa tuổi dưới 18. Mục tiêu của Việt Nam là sẽ đưa 50% trẻ em khuyết tật tới trường vào năm 2005 và 70% vào năm 2010 so với mức hiện nay là 20 – 30%.

    Nguyện vọng của người tàn tật:

    Theo kết quả điều tra, trong tổng số người tàn tật được hỏi ý kiến thì

    48,5% số người tàn tật mong muốn nhà nước trợ cấp vốn để tự tạo việc làm

    23,9% có nguyện  vọng phục hồi chức năng;

    13,56% có nhu cầu được bố trí việc làm;

    9,98% mong muốn nhà nước thu hút vào các cơ sở bảo trợ xã hội

    4,08% có nguyện vọng được học nghề.

    Nếu tính gộp các nhu cầu được trợ cấp vốn để tự tạo việc làm và có nguyện vọng được đào tạo thì tỉ lệ này lên tới 66,14%. Điều này chứng minh đa số người tàn tật có ý chí vươn lên để có cuộc sống tự lập, độc lập về kinh tế và hòa nhập với cộng đồng.


    Back to Chapter index
    5.9.1. Nhu cầu

    Thông qua việc thu nhận ý kiến phản hồi từ các hoạt động mở rộng trong phạm vi cả nước như Hội thảo, tập huấn, hợp tác chia sẻ nguồn lực và nhất là việc tìm hiểu bạn đọc khiếm thị tại Thư viện KHTH Tp HCM trong nhiều năm và gần đây là một số thư viện Tỉnh, thành, Hội người mù, Trường cho người mù, các Trung tâm và mái ấm nhà mở cho người khiếm thị… có thể tóm tắt nhu cầu đọc của người khiếm thị như sau:

    Về nội dung: Cũng đa dạng như các thành phần độc giả khác, tuy vậy yêu cầu nhiều nhất vẫn là sách giáo khoa phổ thông và sách học ngoại ngữ, rồi đến sách Văn học, sách về Xã hội – Chính trị, Âm nhạc, Y học cổ truyền, Tài liệu tham khảo như Từ điển, Bách khoa toàn thư, Sách giáo khoa chương trình đại học, các ngành nghề thủ công, khoa học ứng dụng như Tin học cho người mù, Tin tức nói chung.

    Về loại hình: Tài liệu in thông thường như sách, báo, tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ cho những người mắt kém nhưng cố gắng vẫn có thể tiếp cận được.

    Sách chữ nổi thường là dành cho người khiếm thị bẩm sinh, còn trẻ, rất cần thiết cho các em học sinh khiếm thị học đọc và học viết. Nhìn chung số người sử dụng chữ nổi không nhiều. Muốn đọc được chữ nổi thì phải học. Trong khi đó những người hoàn toàn khiếm thị chủ yếu là do tuổi tác, họ không học chữ nổi nữa. Người nhược thị - chiếm đa số - vẫn còn nhìn thấy được nên không cần đến chữ nổi và người mắc chứng khó đọc thì hoàn toàn không cần. Sách nói (CD, cassettes) phù hợp cho mọi người có vấn đề về mắt. Trình duyệt Web để người mù có thể đọc thông tin trên Website.

    Phương tiện hỗ trợ đọc: Máy tính và các Phần mềm chuyên dụng đọc tiếng Việt như NDC, VCL, Mata, đọc tiếng nước ngoài như Jaws, Máy đọc sách nói kỹ thuật số Victor Reader, Máy cassettes, Máy trợ thị SmartView.

    Cơ hội: - Hiện nay có rất nhiều lựa chọn để người khiếm thị có thể truy cập được thông tin. Bên cạnh chữ Braille truyền thống đã có chữ Braille được máy tính hoá (Computerised Braille) Bên cạnh sách nói dạng analog là băng cassettes đã có sách nói kỹ thuật số (Digital Talking books) và rất nhiều hỗ trợ công nghệ khác.

    Trở ngại: - Tình hình đã được cải thiện rất nhiều nhưng người khiếm thị trên thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng còn gặp nhiều trở ngại trong việc truy cập tài liệu, chủ yếu là:

    - Một tỉ lệ rất nhỏ tài liệu trên toàn thế giới (khoảng 2%-5%) được chuyển sang các dạng khác nhau cho người khiếm thị. Ở Việt nam, tỉ lệ này là không đáng kể.

    - Sách chữ nổi ít người sử dụng vì những lí do đã nêu trên, chiếm nhiều diện tích và khó chia sẻ.

    - Sách chữ lớn, chữ đại chưa được các nhà xuất bản ở nước ta quan tâm, trong khi đó máy trợ thị CCTV lại rất đắt, cá nhân không thể trang bị được.

    - Sách nói là băng cassetes khó tìm các đoạn cần nghe.

    - Máy tính và các ứng dụng của nó tương đối phức tạp. Cần một số mức độ tập huấn nhất định. Đọc Web hiện nay cũng còn nhiều điểm cần khắc phục. Hầu hết các Website đều thiết kế cho người sáng mắt.

    - Cơ hội sử dụng công nghệ cho người nghèo còn rất hạn chế


    Back to Chapter index
    5.9.2. Đáp ứng thông tin

    Tài liệu chữ Braille

    Hệ thống chữ Braille được đưa vào Việt Nam từ cuối thế kỉ thứ XIX. Mẫu kí hiệu Braille cho người mù ở nước ta sử dụng từ trước đến nay có sự không thống nhất giữa các miền và các trường. Nguyên nhân là do mẫu chữ Braille vào Việt Nam nguyên bản là tiếng La-tinh. Vì thế có những chữ có trong bảng chữ cái tiếng Việt mà tiếng La-tinh không có như chữ Â, Đ, Ê, Ô cho nên các trường khiếm thị ở các địa phương tự nghĩ ra cách kí hiệu theo đặc thù riêng để dùng cho trường mình. Điều đó dẫn đến việc người khiếm thị của miền Bắc thì không đọc được chữ trong sách của miền Trung, miền Nam và ngược lại gây nhiều khó khăn cho người khiếm thị ̀ trong việc giao lưu, hội nhập

    Cho đến nay, sách braille chỉ được xuất bản và lưu hành “nội bộ”! Lý do thì có nhiều. Nước ta chưa có một nhà xuất bản chính thống nào xuất bản và in ấn sách braille cho người khiếm thị. Những cuốn sách chữ nổi hiếm hoi có được là do các cơ sở có nhu cầu tự “xuất bản”, tất nhiên được sự cho phép của Nhà nước. Đó là Hội Người mù Việt Nam và hệ thống các trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu ở ba miền Bắc, Trung, Nam. Hội Người mù Việt Nam khi có nguồn kinh phí, Hội có chủ trương ra sách Braille để gửi về các địa phương miễn phí với số lượng rất hạn chế.

    Trên thực tế, sách braille chủ yếu là sách giáo khoa phục vụ cho học sinh khiếm thị. Các sách tham khảo, sách văn hóa, giải trí thông thường rất ít và hầu như không có. Hình thức xuất bản thực chất là dịch từ sách giáo khoa thông thường sang chữ braille. Theo chủ trương của Bộ GDĐT, các em khiếm thị học hòa nhập cùng các em sáng mắt chung một chương trình phổ thông, nhưng do chưa có một chương trình học biên soạn riêng cho đối tượng đặc biệt này nên các trường đã tự tổ chức dịch từ sách giao khoa thường thành sách chữ nổi. Hiện, trường Nguyễn Đình Chiểu – Hà Nội đã có sách braille các môn cơ bản như Toán, Văn, Tiếng Việt, Ngoại ngữ, Sử, Địa, Lý, Hóa… từ lớp 1-9. Số lượng bản in không nhiều và thực tế cũng chưa đủ đáp ứng nhu cầu học của các em trong trường. Sách braille cho các bậc học cao hơn hầu như không có.

    Việc dịch sách này không hề đơn giản, nhất là đối với các môn tự nhiên và thậm chí vất vả hơn nhiều so với việc dịch sách ngoại ngữ. Dịch các công thức, thuật ngữ chuyên biệt trong các môn tự nhiên là rất khó: ví dụ như sin, cos, tang… do không có sự thống nhất cụ thể về cách dịch các công thức nên mỗi trường lại có một cách dịch khác nhau. Điều đó dẫn đến tình trạng, sách Toán chữ nổi của trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội không thể đọc được ở trường Nguyễn Đình Chiểu TP HCM. Thêm vào đó, xu hướng cải cách trong giảng dạy tiểu học là tăng phần quan sát hình họa, giảm lời diễn đạt nên đòi hỏi người dịch phải có trình độ, có kỹ năng mô tả, diễn giải cụ thể từ hình họa sang lời văn thật dễ hiểu để các em khiếm thị hình dung được. Chi phí cho việc dịch sách vì thế rất tốn kém. Còn việc đóng sách thành từng quyển chữ nổi thì nguyên liệu giấy sử dụng rất đắt tiền. Giấy phải cứng, dày, dai và giá thành cao. Trung bình, 5 trang chữ braille mới bằng một trang chữ thường. Máy in chữ Braille cũng thuộc dạng đặc biệt với giá thành khá đắt. Theo ông Phạm Anh Dũng - Hiệu trưởng trường Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội, chi phí cho bộ sách braille lớp 1 khoảng hơn 2 triệu đồng, gấp hơn 20 so với giá thành một bộ sách lớp 1 chữ thường! Mặt khác, sách braille không bền như sách thường và phải được bảo quản cẩn thận, không được để nằm gây bẹp các điểm nổi, tay sờ có mồ hôi sẽ dễ làm nhòe chữ.

    Viện Nghiên cứu chiến lược giáo dục đã trình duyệt dự án thống nhất ký hiệu chữ braille cho các lớp có cải tiến. Tuy nhiên, những cố gắng to lớn đó vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu khổng lồ về sách của người khiếm thị. Thiết nghĩ, nhà nước cần có chính sách cụ thể hơn cho việc xuất bản loại sách này đi vào quy cũ và nhất quán giữa các miền Nam, Trung, Bắc. Trung tâm nghiên cứu giáo dục trẻ khuyết tật thuộc Viện khoa học giáo dục với sự hỗ trợ của tổ chức CRS (Tổ chức cứu trợ và phát triển) đã tổ chức hội thảo lần thứ 3 về đề tài " Xây dựng và thống nhất hệ thống kí hiệu Braille cho người mù Việt Nam" để thống nhất xây dựng hệ thống kí hiệu Braille tiếng Việt cho cả ba miền và thống nhất các nguyên tắc xây dựng kí hiệu, trong đó có 68 quy tắc cho các môn như Tiếng Việt, Toán học, Vật Lý, Hoá học, Sinh học. Tiến tới thay thế cái bảng và dùi viết của người mù bằng một phần mềm để người mù Việt Nam có điều kiện học tốt hơn. Bên cạnh đó các lĩnh vực như tin học, âm nhạc, ngoại ngữ... cũng cần có một hệ thống kí hiệu hoàn chỉnh, thống nhất để người mù có thể dễ dàng sử dụng, tiếp cận được với khoa học kĩ thuật, với các phương tiện hiện đại phục vụ cho cuộc sống hằng ngày. Người mù ở Việt Nam ít có cơ hội để có thể học cao hơn do thiếu kí hiệu trong hệ thống các môn học. Hiện nay nhu cầu học lên các bậc cao hơn như Đại học của người mù ngày càng nhiều hơn. Đề tài "Xây dựng và thống nhất kí hiệu Braille cho người mù Việt Nam" qua 3 lần hội thảo. Song ở các bộ môn hoá học và toán học có nhiều ý kiến cho rằng các kí hiệu còn dài và khó đối với người học. Bản thân các môn học này cũng có quá nhiều các kí hiệu rất phức tạp nên việc học các môn này đối với người khiếm thị khi học các môn này lại càng khó khăn hơn.

    Trung ương Hội Người mù Việt Nam đã tiếp nhận và khai trương Thư viện chữ nổi cho người mù với vốn đầu tư 10 triệu yên do Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam tài trợ, đặt tại Trung tâm đào tạo, phục hồi chức năng cho người mù (Hà Nội). Dự án thư viện chữ nổi cho người mù Việt Nam ngoài việc cung cấp sách báo cho độc giả mượn và đọc tại chỗ, còn có nhiệm vụ biên soạn, in sách bằng chữ nổi. Qua gần 1 năm triển khai, thư viện đã biên soạn và in 500 cuốn sách, với 40.000 trang in bằng chữ nổi, phục vụ nhu cầu học tập, nâng cao trình độ văn hóa của người khiếm thị như sách giáo khoa tiếng Việt lớp 1 tập một và hai, sách phục hồi chức năng, sách dạy xoa bóp, bấm huyệt, tập sách "Những tấm gương phụ nữ mù" tập một và giáo trình tiếng Anh Headway.

    Trung tâm Sao Mai tại Thành phố Hồ Chí Minh được tài trợ xây dựng Dự Án Thiết Lập Phòng In Chữ Nổi được tài trợ với số tiền 4,000 đô la. Dự án này sẽ giúp cho các học viên khiếm thị những kỹ năng cơ bản về in ấn tài liệu chữ nổi.

    Ngoài một số tài liệu chữ nổi, Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh cũng có dịch vụ chuyển dạng tài liệu sang chữ Braille theo yêu cầu của bạn đọc

    Báo chữ nổi

    Từ trước đến này, người mù chỉ có một tờ báo chuyên dụng có tên là "Đời mới". Tờ báo được phát đến tận tỉnh hội, phường hội, tới tay từng hội viên và những người mù, giúp họ hoà nhập hơn với đời sống cộng đồng, tạo cho họ một... cuộc sống mới". Báo ra đời đã được 33 năm. Ban đầu chỉ là tờ nội san lưu hành nội bộ với số lượng rất nhỏ do kinh phí hạn hẹp. Đến năm 1988, "Đời mới" chính thức được đăng ký như một tờ tạp chí trong hệ thống báo chí. Năm 1992 ra thêm bản in chữ thường và "tờ" "Đời mới" truyền thanh (được in sao ra băng cát-sét). Có những dịp kỷ niệm quan trọng cần tuyên truyền và cần có tiếng nói ủng hộ của các cấp ngành, tờ bản in chữ thường mới được xuất bản. Còn định kỳ, tháng chẵn các hội viên có "tờ" chữ nổi, tháng lẻ có "tờ" truyền thanh.

    Băng sách nói 

    Có nhiều tổ chức nhà nước hay cơ quan từ thiện trên cả nước tổ chức phát hành sách nói nhằm giải quyết phần nào nhu cầu học tập và giải trí cho người mù và khiếm thị trong cộng đồng như các thư viện tỉnh thành, mái ấm, nhà mở, trung tâm đặc biệt. Nổi bật nhất là Hội Người mù Việt Nam đã liên hệ với Hội Phụ nữ phối hợp với Đài Tiếng nói  Việt Nam xây dựng phòng băng sách nói, sản xuất băng (sách nói). Hội Phụ nữ từ thiện TP Hồ Chí Minh đã khắc phục bằng cách “xuất bản” sách nói: đọc SGK thường thu vào băng casset và sao nhiều bản đối với bộ sách từ lớp 1 đến lớp 11. Các loại tài liệu khác thì có một số nhà kinh doanh băng đĩa phát hành, đa số là sách giải trí cho trẻ em như chuyện cổ tích.

    Tin tức trên đài phát thanh, truyền hình

    Đa số người mù và khiếm thị theo dõi tin tức trên đài phát thanh truyền hình để cập nhật thông tin hàng ngày.

    Có thể nói, sách báo cho người khiếm thị là một vấn đề nan giải không chỉ của riêng ngành giáo dục. Trong khó khăn chung, do điều kiện kinh tế xã hội, các cơ sở đã chủ động khắc phục theo cách riêng. Ngành tài chính và giáo dục nên có thêm sự hỗ trợ về nguồn kinh phí cho các cơ sở dịch sách braille hiện nay bởi với người khiếm thị, “không được đọc sách chẳng khác nào lại thêm một lần bị mù”.

    Một vài năm gần đây với xu hướng ứng dụng công nghệ thông tin vào dịch vụ và sản phẩm phục vụ cuộc sống; Đã có những gương điển hình hiệp sĩ công nghệ thông tin thiết kế những chương trình ứng dụng mới để hỗ trợ cho người mù và khiếm thị. Có nhiều dự án đem công nghệ kỹ thuật mới để cải thiện chương trình phục vụ người mù và khiếm thị

    Ứng dụng công nghệ phục vụ nhu cầu thông tin của người khiếm thị

    Sách nói kỹ thuật số

    Từ tháng 10 năm 2003, Thư viện KHTH Thành phố đã phát hành và phân phối sản phẩm sách nói dạng DAISY – dạng sách nói giúp người mù sử dụng như cách đọc của người sáng, có thể dừng, chọn lại, định vị bất cứ câu, dòng, đoạn hay phần chương nào của nột cuốn sách. Tính đến nay đã có 75 nhan đề và xuất ra dưới hai dạng sản phẩm, là băng cassette và đĩa CD, chia sẻ phân phối 3524 CD và 413 băng cassette cho 200 đơn vị với 20 lượt. Chủ đề tài liệu về khoa học thường thức, khoa học xã hội, sách thiếu nhi, văn học hiện đại, văn học dân gian, y học, tâm lý, giáo dục, nông nghiệp, văn hóa xã hội. Sản phẩm được phân phối cho toàn bộ hệ thống thư viện tỉnh thành trên toàn quốc, hội người mù. Sắp tới, một studio mới được thành lập hướng vào mục tiêu sản xuất chuyển dạng sách giáo khoa và giáo trình cho học sinh, sinh viên. (Tham khảo danh mục sách nói DAISY ở Phụ lục A7)

    Mục lục truy cập được

    Thư viện Thành phố cũng đã thiết kế trình tra cứu VIOPAC để người mù và khiếm thị có thể truy cập cơ sở dữ liệu nguồn lực chung của thư viện và mục lục điện tử này có phân hệ hỗ trợ người khiếm thị dễ dàng tiếp cận thông tin thư mục để tự chọn bất kỳ tài liệu nào họ quan tâm và cần sử dụng.

    Các phần mềm chuyển dạng tài liệu hay từ điển điện tử, trình duyệt web dành cho người mù

    Đã có những ứng dụng khác như bộ từ điển điện tử Matta Anh Việt – Việt Anh, phần mềm Jaws, Duxbury giúp xử lý thông tin tiếng Anh; phần mềm NDC, VCL… giúp xử lý thông tin tiếng Việt đã được thiết kế và ứng dụng phổ biến trong các trung tâm tin học phục vụ người mù và khiếm thị.

    Gần đây, phần mềm Vì người mù Việt Nam (VMV) được trình làng. Phần mềm này có một số chương trình ứng dụng dành cho người khiếm thị như: Máy tính điện tử, Đồng hồ điện tử, Lịch âm dương, Xplayer (giúp nghe nhạc), Thông tin hệ thống, Quản lý tập tin... và một số tài liệu hướng dẫn việc học tin học, sử dụng máy tính, sách, truyện... VMV cũng là phần mềm miễn phí, bổ sung thêm nhiều ứng dụng vào danh sách các ứng dụng công nghệ thông tin dành cho người khiếm thị.

    Năm 2003, Dự án "Thiết kế Trình Duyệt Web cho Người Mù Việt Nam" của Trung Tâm Sao Mai được tài trợ $10.000 USD của Ngân Hàng Thế Giới  và $1.750 USD từ tổ chức Enfant Du Vietnam và của  Hội Cứu Trợ Trẻ em tàn tật Tp. HCM hơn $2.200. Công ty Scitec chịu trách nhiệm thiết kế kỹ thuật cho phần mềm này. Toàn bộ chi phí cho dự án là $14000 USD. Vào tháng 10/2003 các phiên bản đầu tiên của trình duyệt đã hoàn tất, kỷ nguyên tiếp cận web đã mở ra cho người mù Việt Nam. Hiện nay các chức năng bao gồm: Đọc các trang html tiếng Việt, đọc phần nội dung và cả một số chi tiết về cấu trúc trang như thông báo các thành phần liên kết (link), bảng (table), biểu mẫu (form), danh sách (list), tiêu đề (heading). Trình duyệt Sao Mai có thể đọc đủ các phần tử (item) của một biểu mẫu. Tuy nhiên việc điền thông tin vào biểu mẫu vẫn còn hạn chế. Người dùng có thể tiện lợi khi điền các biểu mẫu có ít phần tử. Với các biểu mẫu có nhiều phần tử hiện thời trình duyệt hỗ trợ chưa thuận tiện lắm; Thứ hai là Nhận dạng mã chữ: trình duyệt hỗ trợ các trang viết bằng mã VNI và Unicode dựng sẵn, hiện chưa hỗ trợ mã unicode tổ hợp.

    Dự Án Đào Tạo Tin Học Từ Xa Cho Người Khiếm Thị của Trung âm Sao Mai đã tham dự trong cuộc thi với chủ đề "Hãy Sống Với Ước Mơ Của Bạn" do SamSung tổ chức và đã đạt được giải thưởng trị giá 40,475 đô la. với ba giai đoạn thực hiện, bao gồm công tác đào tạo giáo viên trợ giảng; xây dựng giáo trình, các trang web, lắp đặt thiết bị sao cho phù hợp với khả năng sử dụng của người khiếm thị và giai đoạn cuối cùng là tổ chức các khoá đào tạo.

    Dự án đào tạo "Thiết lập mạng lưới đào tạo tin học từ xa" của Trung tâm Sao Mai đạt giải nhất chương trình "Samsung - niềm hy vọng kỹ thuật số". Sau một năm triển khai với tổng số tiền tài trợ hơn 40.000 USD, dự án đã mở rộng mạng lưới đào tạo tin học cho người mù tại các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, Bến Tre và An Giang. Ngay trong lượt đào tạo đầu tiên, dự án đã xây dựng được đội ngũ cán bộ nguồn và chính họ đang trở thành cầu nối, giúp nhân rộng số người khiếm thị biết sử dụng tin học.

    Một số thông tin dạng khác

    Nhạc nổi, Sách có hình nổi (tactile), đồ họa nổi (Tactile graphic),… và một số dạng sản phẩm khác nữa đã được đưa vào sản xuất thử nghiệm tại Thư viện TP.Hồ Chí Minh và trông chờ vào các dự án để có thể sản xuất đại trà phục vụ được tính đa dạng của việc đọc và nhu cầu thông tin của các đối tượng có nhu cầu đặc biệt này

    Trang web truy cập được

    Đã có một vài trang web được chú ý thiết kế theo tiêu chuẩn của W3C và WAI theo ý tưởng “dành cho mọi người”, như

    Trang web của Diễn đàn Người khuyết tật Việt Nam (www.forum.wso.net). Diễn đàn người khuyết tật của Trung tâm dữ liệu các tổ chức phi chính phủ - Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam bao gồm tất cả các tổ chức liệt kê trong website này. Hoạt động này nhằm thúc đẩy việc hợp tác cùng làm việc và hiểu biết hơn nữa giữa các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức của người khuyết tật và các cơ quan bộ trực thuộc chính phủ, những vấn đề như các dịch vụ phục hồi chức năng và chăm sóc sức khoẻ, lao động việc làm, giáo dục hội nhập, nâng cao nhận thức và tiếp cận những địa điểm công cộng không rào cản. Khoảng 6 tháng một lần tổ chức các hội thảo mang tính toàn quốc và chương trình hoạt động hàng tháng được cung cấp tới các thành viên của Diễn đàn và những đơn vị, cá nhân quan tâm qua đường thư điện tử. Nguồn dữ liệu được phát triển theo các mục đa dạng khác nhau dựa vào các mối quan tâm chung, bao gồm nguồn nhân lực sẵn có để đào tạo và thảo luận, danh sách. Đây là trang web khá chuẩn và có bộ sưu tập thông tin chuyên biệt dành cho người khuyết tật khá đầy đủ từ luật pháp, tin tức hoạt động, việc làm và cơ hội giáo dục đào tạo…

    Diễn đàn Người khuyết tật khuyến khích mọi người chia sẻ thông tin. Diễn đàn là một trung tâm thông tin phi lợi nhuận và xin lưu ý là chúng tôi chỉ nhận thông tin do mọi người cung cấp và không chịu trách nhiệm về bản quyền hoặc thẩm định thông tin.

     

    Nguyễn Hồng Hà, Điều phối viên chương trình
    Khách sạn ATS, 33B Phạm Ngũ Lão, Hà Nội, Việt Nam
    Tel/ fax: (84 4) 9333 -1239
    E-mail: forum@hn.vnn.vn

    Website: Forum.wso.net © 2001

     

    Thiết kế và cập nhật website:
    Lê Nguyên Bình
    42A, Lê Hồng Phong, Hội An, Quảng
    Nam, Việt Nam
    Tel: (84) 510-862460
    E-Mail: tienbo_ha@yahoo.com

    Trang web của Trung tâm tin học Sao Mai giới thiệu về hoạt động cơ quan tổ chức của trung tâm cùng với các dự án (www.saomaicenter.org)

    Trung Tâm Tin Học Vì Người Mù Sao Mai (viết tắt là SMCC) được ra đời với ý nghĩa là một Trung tâm đào tạo học và hỗ trợ tin học dành cho người khiếm thị tại Việt Nam. Trung Tâm được thành lập vào năm 2001 (dựa trên sự thỏa thuận ký kết giữa Hội Cứu Trợ Trẻ Em Tàn Tật Thành Phố Hồ Chí Minh và Hiệp Hội Mantovan Ý) như là một thành qủa mang tính xã hội của dự án đào tạo tin học với sự tài trợ của Hội Liên Hiệp Châu Âu trong suốt hai năm. Hiện tại, Trung Tâm hoạt động như là một chi nhánh của Hội Cứu Trợ Trẻ Em Tàn Tật Thành Phố Hồ Chí Minh. (viết tắt là HSDCA). Trung Tâm Tin Học Vì Người Mù - Sao Mai vừa thành lập diễn đàn Khả Năng Tiếp Cận Web tại địa chỉ Diễn Đàn. Diễn đàn này nhằm tạo ra một nơi cho các người thiết kế và phát triển web trao đổi các vấn đề liên quan đến việc tạo ra các trang web mang tính tiếp cận cho người khuyết tật. Các chủ đề chính của diễn đàn sẽ là các chuẩn tiếp cận của W3 và điều khỏan 508 của Mỹ. Nếu các bạn gặp vấn đề khi đăng ký tham gia diễn đàn, bạn có thể gửi email cho webmaster@saomaicenter.org để được giúp đỡ thêm.

    Trang web của Hội Internet Việt NamISOC Viêt Nam (www.isoc-vn.org)

    Society - "ISOC" là một tổ chức quốc tế hoạt động phi lợi nhuận, phi chính phủ và bao gồm các thành viên có trình độ chuyên ngành. Tổ chức này chú trọng đến: tiêu chuẩn, giáo dục và các vấn đề về chính sách. Với trên 150 tổ chức thành viên và 8.600 thành viên cá nhân, ISOC bao gồm những con người cụ thể trong cộng đồng Internet.

    "Nhằm đảm bảo sự phát triển và sử dụng Internet rộng rãi vì lợi ích của người dân, doanh nghiệp và Nhà nước Việt Nam". Các thành viên ISOC tại Việt Nam đã bắt đầu gặp gỡ và thảo luận những vấn đề liên quan đến Internet nói chung. Cùng với UNDP tại Hà Nội, chúng tôi đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo bàn tròn về nhiều vấn đề. Đây là một hoạt động thường xuyên. Chúng tôi có ý định liên kết hợp tác với văn phòng UNESCO tại đây để có thể tạo được hiệu quả cao hơn cho cả 2 bên và đồng thời sử dụng ví thê vốn có của ISOC là một tổ chức phi chính phủ toàn cầu được UNESCO công nhận. Một số các đặc tính của trang web như:

    -  Độ phân giải màn hình thấp
    Màn hình 14 inch với độ phân giải 640x480 có thể xem được website này.
    -  Tốc độ tải về chậm:
    Chúng tôi sử dụng các file đồ hoạ đơn giản để việc tải các trang về đạt tốc độ nhanh nhất.

    -  Các trang không để khung:
    Các trang chia thành khung thường rất khó lưu lại, đồng thời cũng sẽ gây nhiều trở ngại cho những người dùng chương trình chuyển văn bản sang giọng nói.

    Dịch vụ Thư viện

    Trước năm 1998, hầu như không có dịch vụ thư viện cho nguời khiếm thị do nhiều nguyên nhân. Trong đó phải kể đến sự thiếu nhận thức và và hiểu biết của cán bộ và nhân viên thư viện về những khó khăn và nhu cầu của người khiếm thị, thiếu trang thiết bị và vật tư cần thiết.

    Tình hình này được cải thiện sau khi Thư viện Hà nội và Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (TV KHTH TP HCM) thành lập phòng đọc cho người khiếm thị dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Bộ VH-TT và chính quyền địa phương. Tiếp theo là các thư viện tỉnh thành Phía Nam và Tây nguyên. Sau Hội thảo “Hỗ trợ các thư viện công cộng mở rộng khả năng phục vụ cho người khiếm thị” do Vụ Thư viện, TV KHTH TP HCM phối hợp với Quĩ FORCE tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh từ 15 đến 17 tháng 11 năm 2004, hàng loạt các thư viện công cộng ở miền Trung và Phía Bắc đã bắt đầu hoạt động này. Đặc biệt là Pháp lệnh thư viện (2001), Khoản 4 điều 6 qui định rõ việc phục vụ độc giả khiếm thị buộc các thư viện phải thực thi nhiệm vụ của mình. Các dịch vụ thư viện cho người khiếm thị tại các thư viện công cộng hiện nay bao gồm:

    -          Hướng dẫn bạn đọc sử dụng máy tính

    -          Phục vụ bạn đọc tại chỗ và mượn về

    -          Scan tài liệu để đưa ra các dạng thay thế

    -          Đọc sách báo theo yêu cầu

    -          Truy cập Internet

    -          In tài liệu chữ nổi

    -          Đồ hoạ nổi

    -          Website truy cập được

    -          Sách nói (băng cassette, CD)

    Từ năm 2000, Thư viện KHTH TP HCM bắt đầu hợp tác với Quĩ Force, một tổ chức phi lợi nhuận của Hà lan có nhiệm vụ hỗ trợ các hoat động phục vụ người khiếm thị ở các nước đang phát triển và Liên xô cũ. Hội thảo đầu tiên về DAISY ở Việt nam được tổ chức vào tháng 12 cùng năm. Như thành quả của Hội thảo này, TV KHTH đã đề xuất với Quĩ Force hỗ trợ thành lập Studio sản xuất sách nói kỹ thuật số. Đề xuất được chấp thuận và việc sản xuất bắt đầu từ tháng 10/2004. Ý thức được việc hợp tác để quản lí và chia sẻ nguồn lực tốt hơn hay ít nhất cũng tránh được những nỗ lực lặp lại, TV KHTH TP HCM đã mở rộng hoạt động này và trở thành nơi cung cấp sách nói kĩ thuật số cho các TVCC trong cả nước, Hội người mù và các trường Nguyễn Đình Chiểu. Ngoài tài liệu tiếng Việt, Thư viện đã sản xuất tài liệu tiếng Khmer, Êđê và Xơ-đăng cho các thư viện phục vụ đối tượng này. Từ tháng 10 năm 2004, Thư viện KHTH Tp. Hồ Chí Minh đã phát hành và phân phối sản phẩm sách nói dạng DAISY – giúp người mù sử dụng như cách đọc của người sáng, có thể dừng, chọn lại, định vị bất cứ câu, dòng, đọan hay phần chương nào của một cuốn sách. Tính đến nay đã có 75 nhan đề và xuất ra dưới hai sản phẩm là băng cassette và đĩa CD, chia sẻ phân phối 3698 CD và 503 băng cassette cho hơn 100 đơn vị thuộc hệ thống thư viện công cộng và các cơ quan tổ chức khác hoạt động vì người mù. Để có thể “đọc” được các CD sách nói, cần có thiết bị đặc biệt gọi là Victor Reader.Tính đến tháng 1 năm 2005, Quỹ FORCE đã trang bị cho thư viện tỉnh thành và quận huyện 109 máy Vioctor Reader, 74 máy CCTV, bàn phím soạn nhạc nổi, bút bảng vẽ đặc biệt, 05 máy Heater để tạo đồ họa nổi. Cuối năm 2005, 14 thư viện tỉnh thành còn lại sẽ được cung cấp thêm máy CCTV.

    Hợp tác giữa các cơ quan trong và ngoài nước còn là để chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm, trong việc ứng dụng công nghệ trên qui mô lớn. Từ năm 2000 đến 2004, một loạt các cuộc tập huấn quốc tế về các chuyên đề khác nhau như Sản xuất sách nói kỹ thuật số DAISY, phần mềm in chữ nổi WinBraille, sản xuất nhạc nổi, sản xuất sách có hình nổi, xây dựng cơ sở dữ liệu đồ họa nổi được tổ chức tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, TV KHTH TPHCM, tại Malaysia và Philippines. Nội dung của các lớp tập huấn này đã được các thư viện, đặc biệt là TV KHTH TP HCM đưa vào hoạt động thực tế và tập huấn tiếp tục cho các thư viện khác.

    Là cơ quan phục vụ, thư viện tồn tại là để giúp cho mọi người tìm được thông tin mà họ cần, quan tâm đến việc truy cập thông tin, coi đó là một tiêu chuẩn quan trọng của cuộc sống. Điều đó buộc thư viện phải quan tâm đến việc làm cho nguồn lực có trong thư viện trở nên truy cập được đối với những người bị hạn chế về thị lực. Phải tổ chức được việc sử dụng dịch vụ chung và dịch vụ đặc biệt, nghĩa là nơi nào khả thi thì liên kết người mù và người nhược thị với các chương trình và dịch vụ có sẵn cho toàn thể cộng đồng người sử dụng thư viện và cho phép việc sử dụng hiệu quả nhất các dịch vụ đặc biệt khi nào và ở đâu cần thiết.

    Do điều kiện thực tế của chúng ta còn nhiều khó khăn, cần một số giải pháp thiết thực trong thời gian tới như: 1/ Tiếp tục tìm hiểu các vấn đề liên quan như: các khuyết tật và nhu cầu của đối tượng phục vụ, khả năng và cơ hội đang có; 2/ Cải thiện môi trường vật chất và truy cập thông tin; 3/ Hợp tác


    Back to Chapter index
    References. Tham khảo

    Bruce, I., McKennell, A., and Walker, E. (1991). Blind and partially sighted adults in Britain: the RNIB survey. London: HMSO.

     

    Bruce, I. and Baker, M. (2001). Access to written information – the views of 1000 people with sight problems. London: RNIB.

     

    Chartres, S. (1998). The leisure reading habits of visually impaired people using audio reading services - customer survey. Unpublished: RNIB.

     

    Clunies-Ross, L., Franklin, A., and Keil, S. (1999). Blind and partially sighted children in Britain: their incidence and special needs at a time of change. RNIB for the Nuffield Foundation.

     

    Crofts, K., Clery, L., Keil, S., Franklin, A. and Cole-Hamilton, I. (2001). The health and well being of blind and partially sighted children and young people aged 5 to 25. London: RNIB

     

    Davies J., Wisdom, S., and Creaser ,C. (2001). Out of sight but not out of mind – visually impaired people’s perspectives of library and information services. Loughborough University: Library and Information Statistics Unit.

     

    Ford, M., and Heshel, T. (1994). The In Touch 1994/5 handbook. London: published for BBC Radio 4 by Broadcasting Support Services.

     

    Franklin, A., Keil, S., Crofts, K., and Cole-Hamilton, I .(2001). The educational experiences of 5 to 16 year old blind and partially children and young people. London: RNIB

     

    Government Actuary’s Department website (http://www.gad.gov.uk/)

     

    Grundy, G., Ahlburg, D., Ali, M., Breeze, E. and Sloggett, A. (1999). Disability in Great Britain. London: DSS Research Report No. 94.

     

    Kinnell, M., Yu, Liangzhi and Creaser, Claire. (2000).
    Public library services for visually impaired people – report to the Library and Information Commission. Loughborough University: Library and Information Statistics Unit.

     

    Martin, J., Meltzer, H., and Elliot, D. (1988). OPCS surveys of disability in Great Britain, Report 1: The prevalence of disability among adults. London: HMSO.

     

    Moore, N. (2000). Review of research of the information needs of visually impaired people. Unpublished: RNIB.

     

    RNIB. (1997). All about registering as blind or partially sighted. London: RNIB.

     

    Simkiss, P., Garner, S., and Dryden, G. (1998). What next? The experience of transition. London: RNIB.

     

    Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Blind and partially sighted children in Britain: the RNIB survey. London: HMSO.


    Back to Chapter index
    6.1.1.

    Trách nhiệm của nhà quản lý rất quan trọng trong việc đảm bảo cho mọi người đều có thể sử dụng dịch vụ thư viện kể cả những người khiếm thị. Brophy and Craven (1999a) chỉ ra ba nguyên tắc dưới đây:

    "Hội nhập, bình đẳng và độc lập: Người khiếm thị phải được hội nhập như mọi người sử dụng dịch vụ thư viện bằng các chính sách và thiết kế phù hợp; họ phải được quyền bình đẳng trong sử dụng các dịch vụ nói chung và thông tin nói riêng; họ phải được tạo điều kiện để độc lập truy cập và sử dụng dịch vụ mà không cần thông qua người trung gian.”

    Thất bại của người quản lý trong vấn đề này là do đã gạt bỏ người khiếm thị ra khỏi thành phần độc giả của mình.


    Back to Chapter index
    6.1.2.

    Mục đích quản lý chính là hiểu được nhu cầu và khó khăn mà người khiếm thị gặp phải để cung cấp các dịch vụ thích hợp có thể sử dụng được và để tập huấn nhân viên thư viện nhận thức vấn đề một cách có hệ thống. Tất cả người sử dụng thư viện, kể cả người khiếm thị phải được chọn lựa dịch vụ, tính đa dạng về cách thức học hỏi và yêu cầu của họ phải được nhận biết. Nhân sự và thái độ phục vụ chính là tâm điểm của bộ máy phục vụ có hiệu quả và nhà quản lý phải có trách nhiệm đối với người khiếm thị và bất kỳ người khuyết tật nào khác, cho dù họ là nhân viên hay là độc giả thư viện.


    Back to Chapter index
    6.1.3.

    Quản lý dịch vụ thư viện của người khiếm thị không khác gì so với các cách quản lý chung cả: đơn giản là tầm quan trọng của dịch vụ thư viện cho NKT phải được nhận biết trong lúc phục vụ. Nhà quản lý phải xây dựng chính sách rõ ràng hay những quy tắc thực hành phục vụ người khuyết tật có mục đích, mục tiêu, kế họach chiến lược, quy trình, sắp xếp để phân bổ các nguồn lực cần thiết. Chính sách này nên có cả mục tiêu kết quả thực hiện phù hợp, quy trình giám sát và phân công trách nhiệm, và phải kiểm tra đánh giá chất lượng dịch vụ. Khuyến khích và hợp tác cũng là những yếu tố quan trọng.


    Back to Chapter index
    6.1.4.

    Quản lý dịch vụ hòa nhập cho người khiếm thị sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ các nguồn lực, từ nhân sự, tiền bạc, hệ thống tự động hóa, vốn tài liệu, công nghệ thông tin, dịch vụ và trụ sở. Những thách thức trong quản lý gồm có các vấn đề liên quan đến pháp chế, dân số, tác nhân gây khiếm thị, hình thức đọc tùy chọn, cung cấp tài liệu chuyển dạng, mục lục quốc gia, dịch vụ mượn liên thư viện, thiết kế điều chỉnh dịch vụ và công nghệ hỗ trợ, ứng dụng công nghệ thông tin truyền thông, quảng cáo, dịch vụ thông tin và tư vấn.


    Back to Chapter index
    6.1.5.

    Nên coi kế hoạch xây dựng dịch vụ không rào cản cho người khuyết tật là hoạt động chính, cơ bản và thường xuyên. Không nên coi đó chỉ là một dạng công tác đặc biệt, tùy ý và ở hàng thứ yếu. Khi lập kế hoạch phải lưu ý đến mảng dịch vụ cho người khuyết tật bất cứ lúc nào có thể thì tốt hơn là chỉ điều chỉnh bổ sung dịch vụ đặc biệt sau khi đã hoàn tất việc lập kế hoạch tổng quát.


    Back to Chapter index
    6.1.6.

    Dịch vụ cho người khiếm thị nên thiết thực và có khả năng duy trì. Tuy nhiên, cách thức thực hiện cần thực tế hợp lý và có sự bắt buộc phải cân nhắc giữa nguyện vọng của người sử dụng và tính khả thi. Khi bị vướng mắc thì nên tìm các biện pháp thay thế. Nhà quản lý không thể bất kỳ lúc nào cũng giải quyết được mọi nhu cầu cho tất cả người sử dụng và thực tế là có khi những yêu cầu của họ bị mâu thuẫn lẫn nhau. Ví dụ, nếu trang bị kệ sách thích hợp phục vụ độc giả ngồi xe lăn thì sẽ bị các độc giả khác than phiền vì các kệ sách bị hạ thấp xuống (Parker, 2000).


    Back to Chapter index
    6.1.7.

    Nhà quản lý phải trau dồi ý thức phục vụ người khiếm thị một cách thành công, bao gồm những yếu tố chính sau: 

     

    a) Vị trí ưu tiên và trách nhiệm của đơn vị chủ quản;
    b) Chính sách, kế hoạch, cam kết của thư viện phục vụ người khuyết tật;
    c) Sự ủng hộ cho các quyết định có lý lẽ phù hợp;
    d) Phân bổ nguồn lực hợp lý

    e) Nhân sự phục vụ người khuyết tật
    f) Việc tập huấn đầy đủ cho nhân viên
    g) Thái độ tận tụy, tinh thần trách nhiệm và sự hiểu biết của nhân viên về người khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.1.8.

    Để tạo được sự trao dồi tích cực của ý thức phục vụ người khuyết tật, nhà quản lý phải khuyến khích và làm rõ quan điểm của xã hội về người khuyết tật, nhấn mạnh rằng đây là vấn đề xã hội hơn là vấn đề về khuyết tật hình thể. Người khuyết tật bị khiếm khuyết là do môi trường phục vụ của chúng ta. Ví dụ, nếu tất cả cửa ra vào đủ lớn cho xe lăn thì mọi chuyện đều ổn. Nhà quản lý cần phải đối mặt với những quan niệm rập khuôn về người khuyết tật chỉ coi họ là một nhóm người có vấn đề bất bình thường chờ sự giúp đỡ của những người từ thiện hay các nhà chuyên môn khác. Chính sách nên luôn tính đến khuyết tật và những khó khăn đặc biệt trong học tập, như người bị chứng khó đọc, rối loạn thị lực và hội chứng Irlen's. Nhà quản lý cần thận trọng trong khi giao tiếp hay khi nói về người khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.1.9.

    Chương này nói nhiều về vấn đề giáo dục đại học, khái niệm này được đưa vào nhiều loại hình thư viện trong “Thời đại của Học tập mới” (D.f.E.E, 1998). Tương tự, Kinnell (2000) khuyến nghị nên xây dựng và phát triển dịch vụ cho người khiếm thị ở các thư viện công cộng. Khi nói đến việc mở rộng giáo dục đại học là nói về tính đa dạng trong thế giới con người. Hiện nay, giới học sinh sinh viên gồm đủ mọi thành phần: sinh viên học bán thời gian, người cao tuổi, học từ xa, học mở và học suốt đời. Sinh viên dùng đủ loại các dịch vụ thông tin, không chỉ tại thư viện trường, mà còn ở các thư viện của trường khác, thư viện công cộng khác trong mạng lưới thư viện quốc gia. Cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật phải được nhìn dưới góc độ đầy đủ, công bằng, hỗ trợ suốt đời và mở rộng ra bên ngoài. Dịch vụ thích hợp cũng là yếu tố then chốt quyết định khả năng cạnh tranh và tồn tại của thư viện và của cả đơn vị chủ quản vì ngày càng có thêm nhiều người khuyết tật có cơ hội học tập trong thư viện.


    Back to Chapter index
    6.1.10.

    Giống như tất cả các cuộc thảo luận về công tác quản lý, không thể giải quyết vấn đề một cách trọn vẹn và dự báo được hết các tình huống nhưng phải tìm cách chỉ ra những việc quan trọng và tìm cách khắc phục những khó khăn thách thức nảy sinh trong quá trình hoạt động.


    Back to Chapter index
    6.2.1.

    Nhà quản lý phải nhận thức đầy đủ về vấn đề pháp chế và chiến lược phát triển ảnh hưởng đến người khuyết tật. Điều này không chỉ làm rõ trách nhiệm pháp lý mà còn đóng góp vào việc xây dựng chính sách và giúp các nhà quản lý điều hành công tác theo đúng tinh thần của luật pháp.


    Back to Chapter index
    6.2.2. Đạo luật cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật, 1995

    Luật cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật (Great Britain. Acts, 1995) yêu cầu các nhà cung cấp các dịch vụ công như thư viện phải phục vụ công bằng cho mọi đối tượng. Theo luật, người khuyết tật không phải trả thêm một khoản phí nào cả cho các dịch vụ họ sử dụng, ví dụ miễn phí đối với các yêu cầu cung cấp sách chữ lớn hay chữ Braille.


    Back to Chapter index
    6.2.3.

    Theo hiệu lực thực thi D.D.A, tính đến năm 2004, các nhà phân phối dịch vụ phải đáp ứng nhu cầu của “bất cứ ai có khiếm khuyết về thần kinh, tâm lý hay hình thể phải chịu những ảnh hưởng xấu lâu dài và vĩnh viễn đến khả năng của họ trong hoạt động thường ngày". Vì thế, thư viện phải xây dựng trụ sở không rào cản, các nguồn lực có thể truy cập được (như phương tiện đọc và tài liệu chuyển dạng) và các dịch vụ sẵn sàng cho bất cứ ai không thể tự đi đến thư viện. Nhà quản lý thư viện phải kiểm tra lại chi phí thực hiện hoạt động điều chỉnh dịch vụ thư viện trước năm 2004 và lập kế hoạch tài chính để thực hiện được những hoạt động đó.


    Back to Chapter index
    6.2.4.

    Nhà quản lý phải tính đến nhu cầu của những người nằm ngoài diện quy định về người khuyết tật của DDA ví dụ đó là người cao tuổi thường có vấn đề về giảm thị lực nhưng vẫn có thể đọc tài liệu in ấn hay tự đi đến thư viện. Có trường hợp, những người có vấn đề về thị lực nhưng không nặng đến độ có thể đăng ký là người khiếm thị hay mù hoặc những người chưa đăng ký vào hội người mù thì tất cả các diện trên vẫn cần đến sự giúp đỡ và hỗ trợ truy cập thông tin của thư viện.


    Back to Chapter index
    6.2.5.

    Khi DDA mới ban hành, có nhiều trường hợp khiếu kiện nhà quản lý và nổi cộm hơn cả các cuộc đấu tranh sau khi Đạo luật chống phân biệt chủng tộc và giới tính ban hành được một năm. Phân nửa sự vụ đã được sắp xếp để phân xử. Mặc dù vẫn có một số điểm chưa rõ ràng trong vấn đề liên quan giáo dục cho đến khi Đạo luật Người Khuyết tật và Nhu cầu đặc biệt công bố vào năm 2001, nhưng chính thức đã mở rộng ra khối thư viện trường đại học cũng phải thực thi luật, ít nhất là phải chấp nhận tổ chức phục vụ rộng rãi hơn cho công chúng và một số khác thì cam kết mở rộng việc truy cập và học tập suốt đời. Báo cáo về nhân quyền cho người khuyết tật của Ban Điều phối hoạt động vì quyền lợi người khuyết tật DfEE’s (1999) khuyến cáo là giáo dục đại học nên được đưa vào luật pháp về nhân quyền trong tương lai để “đảm bảo quyền lợi của người khuyết tật được đầy đủ và thực thi” và pháp chế như vậy phải đảm bảo được Quy chế Thực hiện theo các luật định mới. Một thông tư hướng dẫn của chính phủ về việc cung cấp dịch vụ giáo dục cho người khuyết tật (DfEE, 2000) khẳng định rằng phân biệt đối xử với người khuyết tật trong hoạt động giáo dục là vi phạm pháp luật.


    Back to Chapter index
    6.2.6. Quy chế thực hiện

    Để đánh giá kết quả thực hiện DDA, chính phủ đã thành lập Ủy ban Bảo vệ Quyền lợi Người khuyết tật. Ủy ban này đã ban hành Quy chế thực hiện làm rõ trách nhiệm của nhà cung ứng dịch vụ, được trình bày như sau “Không có gì là trái với luật pháp khi nỗ lực tìm cách hỗ trợ người khuyết tật bằng việc thông tin cho họ những đơn vị có thể có dịch vụ phù hợp với yêu cầu của họ hơn, nhưng cần thận trọng vì nếu dù với bất cứ động cơ hay lý do nào mà từ chối phục vụ người khuyết tật đều có thể bị coi là phạm luật. Ví dụ, nếu một người khuyết tật muốn có một dịch vụ nào đó, thì nhà cung ứng không thể từ chối anh ta/ cô ta chỉ đơn giản là vì đã có một nhà dịch vụ khác có thể phục vụ người đó tốt hơn họ.

    Nói một cách khác, một thư viện không thể chỉ đơn giản giới thiệu một người nào đó liên hệ với RNIB, NLB hay bất cứ tổ chức nào phục vụ người khiếm thị đến một nhà sách và muốn mua một cuốn sách dạng chữ lớn, nhưng nhà sách đó không bán loại này. Trong trường hợp này, nhà sách không vi phạm luật. Tuy nhiên nếu vị khách này yêu cầu nhà sách đặt cho họ cuốn này, nếu nhà sách cũng có dịch vụ đặt hàng đặc biệt cho những khách hàng bình thường khác, thì sự từ chối của nhà sách đối với yêu cầu của người này sẽ bị coi là phạm luật.”

    Trong dịch vụ thư viện, phục vụ mượn liên thư viện đối với tài liệu chuyển dạng là một hoạt động quan trọng. Những bàn luận về DDA và các điều khoản liên quan có thể tìm đọc ở Chương  3.


    Back to Chapter index
    6.2.7. Đạo luật Khuyết tật và Giáo dục đặc biệt

    Khi gặp những điều gì chưa rõ trong việc ứng dụng DDA vào công tác giáo dục thì nên tham khảo Đạo luật Khuyết tật và Giáo dục đặc biệt (Great Britain. Đạo luật, 2001). Đạo luật SEND (thỉnh thoảng được gọi là DDA Phần IV) quy định trách nhiệm pháp lý của tất cả 16 loại đơn vị tổ chức giáo dục và đào tạo nếu họ phân biệt đối xử đối với sinh viên khuyết tật. Các đơn vị được yêu cầu phải đánh giá công tác đảm bảo việc sử dụng thư viện cho người khuyết tật và họ sẽ bị khép vào việc phạm pháp nếu người khuyết tật ít được ưu đãi hơn hay gặp khó khăn khi sử dụng dịch vụ. Điều quan trọng là Đạo luật này yêu cầu các tổ chức giáo dục phải chăm lo nhu cầu của người khuyết tật và điều chỉnh các dịch vụ trước cho thích hợp với nhu cầu đa dạng của các cá nhân.

    Các nhà tổ chức giáo dục phải mãi đến tháng 9 năm 2002 mới thực hiện theo các điều khoản của Phần III của DDA và tiến hành từng bước để thay đổi các quy tắc thực hành, chính sách, quy trình và thủ tục nhằm tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận dịch vụ dễ dàng. Đến tháng 9 năm 2003 họ mới có những điều chỉnh thích hợp có những phương tiện và dịch vụ hỗ trợ. Cho đến tháng 9 năm 2005, họ phải tính đến kế hoạch điều chỉnh về điều kiện trụ sở. Anh, xứ Wales và Scốtlen đã áp dụng, tuy nhiên ở Bắc Ailen thì không hay có thể nói là chưa thực hiện.

    Phải nhận thức là Đạo luật đã tạo ra các áp lực về tài chính và quản lý giáo dục đối với các tổ chức giáo dục. Các nhà quản lý phải cân nhắc đến các điều khoản trong luật quy định, đó không chỉ là vấn đề đề tiếp cận về mặt vật lý bên ngoài mà còn phải thể hiện được những chính sách, thủ tục, nguồn lực thông tin, thông tin điện tử, chương trình, dịch vụ và tập huấn nhân viên. Cụ thể là các tổ chức phải:

    a) Chỉ ra các trở ngại chính hiện tại làm người khuyết tật gặp khó khăn hay không thể sử dụng các dịch vụ thư viện (bảng đánh giá này bao gồm cả điều kiện trụ sở hiện thời và quy hoạch trong tương lai)

    b) Nhận ra các trở ngại mà bản thân người khuyết tật gặp phải và xem xét cái gì là cần nhất để đáp ứng (tham khảo ý kiến đóng góp của các nhà chuyên môn và người sử dụng để có thể tiếp cận với các yêu cầu)

    c) Đề ra các chiến lược được cấp trên xét duyệt

    d) Ước tính các kế hoạch thực hiện chiến lược đó càng sớm càng tốt cho đến trước tháng 9 năm 2005.

    Các trường hợp ngoại lệ có thể chấp nhận một số tiêu chuẩn giáo dục theo sự thỏa thuận hoặc trong những trường hợp mà nếu thay đổi sẽ gây ra các khoản chi phí quá đáng và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Ví dụ như các trường hợp về điều kiện sức khỏe và an toàn sẽ phải thoả thuận hay giấy phép quy hoạch bị từ chối hay nơi có thể thỏa hiệp phục vụ với toàn thể cộng đồng giáo dục. 

    Ủy ban Bảo vệ Quyền lợi Người khuyết tật, tổ chức có chức năng xây dựng một xã hội mà mọi người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ và bình đẳng như mọi công dân khác, đã xuất bản Quy chế Thực hành để làm rõ các khái niệm về chức năng nhiệm vụ và trách nhiệm. Quy chế hoạt động cho trường phổ thông hay đại học đã được Chính phủ phê duyệt vào năm 2002. Ủy ban đang thành lập dịch vụ hòa giải để giải quyết các khiếu nại của khách hàng nhằm tăng cường thúc đẩy việc thực hiện luật pháp có hiệu quả. Nếu cả hai bên không đồng ý hòa giải, hay hòa giải bất thành, sinh viên có thể đưa sự vụ ra Tòa. Tòa án sẽ có đủ thẩm quyền không chỉ quyết định tính đúng đắn của vụ thưa kiện mà còn quyết định mức bồi thường và tuyên bố hình phạt để đảm bảo các quy chế luật định được tôn trọng.

     


    Back to Chapter index
    6.2.8. Đạo luật Nhân quyền 1998

    Đạo luật Nhân quyền đã đưa luật của Anh quốc vào các khoản nhất định trong Hiệp ước Châu Âu về Nhân quyền. Đạo luật này có hiệu lực ở Anh quốc từ tháng 10 năm 2000 yêu cầu các cơ quan dịch vụ công đảm bảo “Quyền giáo dục” và một số quyền lợi nhất định khác. Đạo luật này có kèm cả “các điều cấm phân biệt đối xử” khi tham gia vào công ước này. Các hàm ý trong Đạo luật Nhân quyền tuy nhiên chưa được làm rõ và đầy đủ. Có sự tranh luận về những ngụ ý về quyền giáo dục trong Đạo luật Nhân quyền. Mức độ chịu trách nhiệm của các tổ chức trong vấn đề phân biệt đối xử cũng không cụ thể hóa rõ ràng. Một điều đáng nói là vấn đề mang tính bất cân xứng, nghĩa là người ta cảm nhận là quyền lợi của một cá nhân là nhỏ khi so sánh với quyền lợi của nhóm hay cộng đồng lớn hơn... Tuy nhiên quy định của Luật Nhân quyền đã triển khai thành công ở các nước khác để làm cơ sở đem đến nhiều quyền lợi hơn cho sinh viên khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.2.9. Báo cáo trong ngành giáo dục

    Báo cáo chuyên đề “Giáo dục đại học trong xã hội” (Hội đồng quốc gia về các điều khoản giáo dục đại học muốn tham gia đầy đủ vào chương trình giáo dục đại học đã không được tính đến. Nó khuyến khích các tổ chức tài trợ nên đầu tư cho các đơn vị phục vụ sinh viên khuyết tật. Viện Nghiên cứu Giáo dục cũng phải đánh giá nhu cầu học tập của sinh viên khuyết tật trong báo cáo kế hoạch. Từ khi thực hiện các đề nghị này chính phủ đã mở rộng phạm vi trợ cấp cho sinh viên khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.2.10. Hội đồng Quỹ Giáo dục đại học Anh quốc

    Theo “Hướng dẫn cung cấp các dịch vụ cơ bản cho sinh viên khuyết tật ở trường đại học” (HEFCE, 1999), Hội đồng Quỹ tài trợ chỉ ra các dịch vụ cơ bản cho người bị khuyết tật, yêu cầu mỗi trường đại học cam kết hỗ trợ hoàn toàn cho người khuyết tật trong chính sách của nhà trường, tổ chức dịch vụ hỗ trợ và kế hoạch phải thực hiện trong vòng 3 năm. Thời gian đầu, người khuyết tật học đại học sẽ theo chuẩn của các trường và họ có thể đánh giá được dịch vụ của nhà trường. Nếu nhà trường không còn hỗ trợ sinh viên khuyết tật  nữa thì họ sẽ bị đánh rớt khỏi bảng xếp hạng của HEFCE và sẽ chịu hậu quả là bị cắt giảm kinh phí, không được xếp vào hạng trường chuẩn và sẽ mất tiếng tăm trong thị trường kinh doanh giáo dục cạnh tranh ngày càng một gay gắt hơn.


    Back to Chapter index
    6.2.11.

    Các nhà quản lý phải xem xét nơi nào và bằng cách nào để tổ chức các dịch vụ thư viện phù hợp với các khía cạnh của vấn đề chính mà HEFCE đã xác định. Cũng như cam kết đảm bảo dịch vụ cho người khuyết tật đầy đủ, còn có một số các vấn đề khác như chính sách và thủ tục, sắp xếp đánh giá nhu cầu, dịch vụ hỗ trợ, giao tiếp và chính sách hướng dẫn, sắp xếp để giám sát; thái độ phục vụ của các nhân viên sau tập huấn, chính sách và quy trình kiểm tra, chương trình xây dựng đội ngũ nhân sự, nhân viên nòng cốt, chiến lược quy hoạch sử dụng quỹ đất và thủ tục kiểm tra. HEFCE (2001) gần đây đã ban hành một số hướng dẫn “cải thiện trụ sở nhà trường không rào cản”. Điều này nhằm để thông tin cho các trường đại học cần lưu ý đến xu thế cải thiện qui hoạch thiết kế để giúp sinh viên và nhân viên có khuyết tật dễ đi lại và sử dụng hơn. Họ phải điều chỉnh kế hoạch quy hoạch trong hiện tại và dự tính cho cả trong tương lai.


    Back to Chapter index
    6.2.12. Tổ chức kiểm soát chất lượng giáo dục

    Tổ chức này đã phát hành “Chuẩn thực hành giáo dục bậc đại học cho sinh viên khuyết tật” (QAA, 1999). Dựa trên các nguyên tắc cơ bản về chính sách, quy trình và hoạt động. Các cơ quan giáo dục phải xem xét việc trang bị các phương tiện hỗ trợ sinh viên khuyết tật tham gia đầy đủ các hoạt động học tập và xã hội trong nhà trường. Cam kết này phải được thể hiện trong mục tiêu chiến lược phát triển và phải có sự điều phối từ nhiều nguồn lực trong cơ quan. Sinh viên khuyết tật phải được tiếp cận các hoạt động thực nghiệm như bạn bè mình và có nguồn hỗ trợ thích hợp thay thế và sự chuẩn bị này là điều kiện quan trọng và rộng rãi chứ không phải chỉ là một phần phụ thêm vào. Chuẩn này không phải được lập ra như bản cam kết hành động vì người khuyết tật hay là một cẩm nang hướng dẫn thực hành tốt nhất, nhưng những tiêu chuẩn này giúp nhà trường hướng đến mục tiêu phải đạt được và là một công cụ hữu ích để dựa vào đó nhà trường biết xác định hoạt động phục vụ công tác giảng dạy của mình còn có những thiếu sót nào. Hiện nay các vấn đề liên quan nến sinh viên khuyết tật đã được Tổ chức đánh giá chất lượng đưa vào bảng khảo sát đánh giá chất lượng giảng dạy và học tập ở các trường đại học.


    Back to Chapter index
    6.2.13.

    Theo 24 điểm trong bộ chuẩn đó, nhà quản lý phải xem xét các dịch vụ thư viện có liên quan như thế nào. Trong đó gồm có những vấn đề như môi trường vật lý; thông tin cho sinh viên; giao tiếp giữa sinh viên và nhân viên nhà trường, tuyển chọn sinh viên, đăng ký học; thủ tục hướng dẫn sinh viên; hoạt động học tập giảng dạy và nghiên cứu; thi cử; quy trình đánh giá và thực hiện; phát triển nhân sự; trang thiết bị chung và chuyện dụng hỗ trợ; tham khảo ý kiến từ giới chuyên môn và độc giả; tổng kết và đánh giá hoạt động. Chuẩn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của một số vấn đề cốt lõi như thiết lập chính sách và quy trình, chiến lược phát triển, phân bố nguồn lực, đảm bảo môi trường vật lý không rào cản; cung cấp các dịch vụ truy cập được để có thể hướng dẫn và hỗ trợ việc học tập; xây dựng nhận thức và tập huấn tòan thể nhân viên hiểu và biết cách phục vụ người khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.2.14. Đào tạo bồi dưỡng

    Nhiều năm qua, Hội đồng Quỹ giáo dục đào tạo và bồidưỡng đã tài trợ cho sinh viên khuyết tật hay những người gặp khó khăn trong việc học. Họ phải xác định các yêu cầu về nhân sự và các nguồn lực cần thiết khác để giúp sinh viên có thể theo đuổi chương trình học mà không bị những cản trở bất hợp lý. Nguồn tài trợ dựa vào bảng đánh giá nhu cầu và cam kết của nhà trường trong hồ sơ đăng ký nhập học của sinh viên. Chi phí này được thỏa thuận theo cơ chế hỗ trợ bổ sung của FEFC. Vì thế, ngày càng có nhiều trường cần chuyên gia chuyên trách trong việc xác định nhu cầu cần hỗ trợ của sinh viên bị nhiều dạng khuyết tật khác nhau trong đó có cả người khiếm thị. Thư viện/ trung tâm học liệu phải chuẩn bị các điều kiện cung cấp công nghệ hỗ trợ cho sinh viên. Nguồn lực hỗ trợ nhu cầu của sinh viên khiếm thị cần phải kết hợp với các bộ phận dịch vụ khác cho sinh viên như dịch vụ nguồn lực học tập, hỗ trợ sinh viên và hướng dẫn sinh viên học tập.

    Có một số điểm trong bảng đánh giá và giám sát chất lượng giúp xác định những ảnh hưởng đến nhu cầu học tập của sinh viên khuyết tật hay sinh viên có khó khăn trong việc học hành. Một số điểm cần được chú trọng như:

    a) cơ hội bình đẳng trong học tập;

    b) chương trình giảng dạy hòa nhập, đảm bảo khả năng và cơ hội tiếp cận;

    c) dự báo chính xác nhu cầu học tập cá nhân;

    d) nhân viên phải có kiến thức hiểu biết về khái niệm “học tập hòa nhập”.

    Ở Anh, Hội đồng rèn luyện kỹ năng học tập đã xây dựng một bảng đánh giá giám sát chất lượng mới. Ở Scốtlen, Hội đồng Quỹ giáo dục đào tạo và ở xứ Wales thì có Hội đồng Giáo dục và Đào tạo và ở Bắc Ailen thì có Ban Điều hành Bắc Ailen Trên khắp Vương quốc Anh, Tổ chức giáo dục đào tạo tiếp tục lập ra các tiêu chuẩn giảng dạy và chọn các nhân viên có đủ phẩm chất cần thiết để hỗ trợ hoạt động giảng dạy và học tập.

     


    Back to Chapter index
    6.2.15. Tiêu chuẩn thư viện công cộng

    Chính phủ đã xây dựng tiêu chuẩn đánh giá nhằm cải thiện và giám sát chất lượng dịch vụ của thư viện công cộng được yêu cầu phải lập kế hoạch hàng năm hay 3 năm làm rõ chính sách và chương trình phát triển dịch vụ cho Người khuyết tật trong đó có người khiếm thị. Kế hoạch năm phải đề ra các tiêu chí đánh giá, trong đó chú ý đến chính sách hòa nhập xã hội.


    Back to Chapter index
    6.2.16.

    Tiêu chí đánh giá phải dựa trên các tiêu chuẩn mà chính phủ đã thông qua. Báo cáo khảo sát của LISU về dịch vụ thư viện cho người khiếm thị (Kinnell và những người khác, 2000) trình bày các hoạt động dịch vụ này rất rõ ràng và cụ thể.


    Back to Chapter index
    6.2.17.

    Chính phủ hiện nay đã xác định được những gì mà độc giả có thể mong đợi được hưởng thụ và những gì mà nhà quản lý địa phương phải phục vụ. Ấn bản tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên của DCMS (2001) buộc thực thi từ tháng 4 năm 2001. Quốc hội xứ Wales cũng đã ban hành hàng loạt các tiêu chuẩn yêu cầu các dịch vụ thư viện cho người khuyết tật được quy định rõ ràng và cụ thể hơn trong tiêu chuẩn của DCMS. Nội dung của các tiêu chuẩn này và báo cáo về hiện trạng áp dụng tiêu chuẩn này tại Scốtlen và Bắc Ailen sẽ được trình bày trong chương 16.


    Back to Chapter index
    6.2.18.

    Bảng chỉ tiêu “Giá trị tốt nhất” của chính phủ (DETR, Tháng 5 năm 2000) cũng yêu cầu các nhà chức trách phải đánh giá việc thực hiện cơ bản về mọi lĩnh vực trong dịch vụ và chi tiêu của địa phương. Những đánh giá này nhằm để xem lại cách thức phân phối dịch vụ hiện nay, so với những hoạt động cơ bản được chỉ định phát triển, tham khảo ý kiến nhận xét của tất cả các thành viên quản trị và nêu lên được tính đặc trưng trong dịch vụ của địa phương. Việc tham khảo ý kiến là điều quan trọng, phải mời được cả những người chưa sử dụng dịch vụ thư viện cũng như các độc giả thường xuyên nhận xét đóng góp. Bảng đánh giá này cũng nhằm xác lập hệ thống thanh tra giám sát chất lượng cũng như số lượng dịch vụ mà các nhà chức trách địa phương cam kết thực hiện.


    Back to Chapter index
    6.2.19. Hòa nhập xã hội

    Ngày càng có nhiều tiêu chuẩn quốc gia để thực hiện được chủ trương hoà nhập xã hội. Các thư viện từ lâu đã tranh cãi là họ phục vụ cho tất cả hay thư viện đóng vai trò chính để phát triển một xã hội hòa nhập. Báo cáo của DCMS đã làm rõ việc này “Thư viện dành cho mọi người: một xã hội hòa nhập trong thư viện công cộng” (DCMS, Tháng 10 năm 1999) và tuyên bố của LIC “Thư viện: bản chất của sự hòa nhập” (LIC, Tháng 3 2000). Học tập suốt đời cũng được xem là mục tiêu chính của chủ trương hòa nhập xã hội, để giúp người dân có khả năng làm việc, cạnh tranh, làm tốt trách nhiệm của một công dân và hưởng thụ di sản văn hóa và tri thức. Nếu không, thật sự sẽ có một hiểm họa đang đe dọa xã hội vì sự hình thành tầng lớp hạ lưu trong xã hội, trong đó chắc chắn sẽ có người khiếm thị vốn là những người bị quên lãng và bị loại khỏi hoạt động tiếp cận thông tin và kiến thức, hình thành một khoảng cách biệt lớn giữa những người giàu và nghèo kiến thức.


    Back to Chapter index
    6.2.20. Thời đại tri thức

    Khái niệm học tập suốt đời vì thế hiện nay đang trở thành mục tiêu hàng đầu của chính sách phát triển quốc gia và ngày càng có vị thế quan trọng trong mục tiêu phục vụ của ngành thư viện. Greenbook về “thời đại tri thức” (D.f.E.E, 1998), đã đưa ra cam kết của chính phủ về vấn đề “tri thức cho cuộc sống”, xác định tầm quan trọng của việc giáo dục thường xuyên và nuôi dưỡng trí tưởng tượng và tâm hồn cho người dân” và xây dựng một nền văn hóa học tập vì sự tiến bộ của xã hội. Hỗ trợ cho việc học tập suốt đời và văn hóa học phải được thực hiện một cách công bằng và bình đẳng và người khuyết tật có nhiều ý kiến khác nhau về cách thức phục vụ để họ có thể tiếp cận sử dụng nguồn lực thư viện và thông tin.


    Back to Chapter index
    6.2.21. Mạng giáo dục quốc gia

    Cụ thể là vào năm 2002, N.G.f.L (D.f.E.E, 1997) có ý định thành lập một mạng học tập dạng web phủ toàn quốc cho học viên, nhà giáo và các cơ quan, liên kết các nguồn lực của toàn hệ thống trường và thư viện Anh quốc. Để thực hiện được việc này phải có biện pháp thực sự của nhà nước, quan tâm đến các vấn đề về khả năng truy cập cho người gặp khó khăn trong việc đọc chữ in phải được kể đến.


    Back to Chapter index
    6.2.22. Mạng lưới cho mọi người

    Báo cáo “Thư viện mới: mạng lưới của toàn dân” (L.I.C, 1997) của Ủy ban Thông tin Thư viện khuyến nghị nên thành lập một mạng lưới học tập quốc gia thông qua nguồn lực liên kết các thư viện công cộng mới” (L.I.C, 1998). Những dịch vụ chủ yếu sẽ gồm: giáo dục và học tập suốt đời, cung cấp thông tin cho công dân và tạo điều kiện để họ hội nhập vào xã hội; có điều kiện kinh doanh và phát triển kinh tế; được huấn luyện và có việc làm; có đủ tiện nghi để nghiên cứu lịch sử địa phương; và xây dựng thư viện số cấp quốc gia. Hiện nay chính phủ đã có sự đầu tư đáng kể để hình thành mạng liên kết, tạo lập nội dung số hóa và xây dựng đội ngũ nhân viên công nghệ thông tin đầy đủ năng lực làm việc. Sự đầu tư lớn ở đây để có thể đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị có thể độc lập truy cập vào nhiều nguồn lực thông tin rộng rãi vốn dĩ hiện nay chưa phục vụ thỏa đáng và phải cung cấp thêm tiện nghi sử dụng công nghệ hỗ trợ như nhận dạng giọng nói, phần mềm đọc nhân tạo, phóng đại màn hình, trình bày dạng chữ lớn hay chữ Braille. 


    Back to Chapter index
    6.3.1.

    Bất cứ thư viện nào cũng phải có chính sách cung cấp các dịch vụ cho người khuyết tật và những người có khiếm khuyết cụ thể trong việc học tập, trong đó có phần quy định cụ thể hoặc quy chế thực hiện. Qui định này liên quan đến chính sách phục vụ người khuyết tật của cơ quan hoặc cơ quan thẩm quyền và là bộ phận thống nhất trong suốt quá trình lập kế hoạch. Việc thảo luận để xây dựng chính sách trong phạm vi cán bộ thư viện rất có giá trị và sẽ có ảnh hưởng đến thái độ, nhận thức, ưu tiên của các nhà quản lý và việc phân bổ nguồn lực.


    Back to Chapter index
    6.3.2.

    Chính sách này phải được xây dựng dựa trên nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng cho tất cả người khuyết tật và yêu cầu gắn với thực tiễn hoạt động, bao gồm cả cam kết mức độ ưu tiên đối với các dịch vụ cho người khiếm thị. Nhà quản lý cần trau dồi nhận thức về người khuyết tật và mối quan tâm đối với việc cung cấp dịch vụ không rào cản trong thư viện.


    Back to Chapter index
    6.3.3.

    Chính sách này đòi hỏi các yếu tố quan trọng sau:

    a) Cam kết phục vụ người khuyết tật và các quy chế thực hiện
    b) Đánh giá nhu cầu
    c) Sự phối hợp các vấn đề người khuyết tật vào kế hoạch phát triển
    d) Sự quan tâm và hỗ trợ về mặt quản lý và cung cấp tài chính
    e) Các mối liên kết với đội ngũ và các cơ quan phục vụ người khiếm thị
    f) Người có trách nhiệm phối hợp hoạt động phục vụ người khuyết tật trong thư viện
    g) Trách nhiệm của toàn thể cán bộ nhân viên
    h) Cam kết cung cấp thông tin, trợ giúp và tư vấn
    i) Tập huấn nhân viên, kể cả vấn đề nhận thức về người khuyết tật
    j) Giao tiếp với người khuyết tật
    k) Việc tiếp cận cơ sở vật chất và các dịch vụ thư viện
    l) Công nghệ hỗ trợ
    m) Xây dựng vốn tài liệu chuyển dạng
    n) Mở rộng giờ phục vụ
    o) Truy cập máy tính và mạng Internet
    p) Thúc đẩy và quảng cáo dịch vụ
    q) Tài liệu hướng dẫn, trợ giúp người khiếm thị dưới nhiều hình thức
    r) Thu thập thông tin về quản lý công tác phục vụ người khuyết tật
    s) Theo dõi và đánh giá chất lượng dịch vụ
    t) Xét lại các chính sách và dịch vụ.


    Back to Chapter index
    6.3.4.

    Một cách lý tưởng là nên có chính sách hướng dẫn thực hành, nhưng cũng phải đảm bảo tính thực tiễn và khả thi, xác định những hạn chế, khả năng tài chính và cách thức thay thế để hỗ trợ phục vụ độc giả khiếm thị. Ví dụ, nếu độc giả khuyết tật không thể tiếp cận một thư viện nào đó trong  một khoảng thời gian nào đó, thì tài liệu phải được chuyển đến một thư viện khác có điều kiện dễ tiếp cận hơn. Mặc dù người sử dụng được khuyến khích tự phục vụ, nhưng phải yêu cầu nhân viên có chương trình trợ giúp vì một số dịch vụ đòi hỏi phải có sự can thiệp của người trung gian.


    Back to Chapter index
    6.3.5.

    Trong chính sách của thư viện phải thể hiện rõ kế hoạch và mục tiêu phục vụ người khuyết tật hàng năm.


    Back to Chapter index
    6.3.6.

    Phải thường xuyên xem chính sách của thư viện có ảnh hưởng gì đến cộng đồng độc giả, mục tiêu phát triển của quốc gia, điều kiện của địa phương, khả năng nguồn lực, tiến bộ của trang thiết bị và kinh nghiệm phục vụ người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.3.7.

    Báo cáo của Ủy ban Thư viện Thông tin về “Dịch vụ TVCC dành cho người khiếm thị” (Kinnell và nh.ng.khác, 2000) khuyến nghị là các nhà quản lý phải có chính sách rõ ràng về các dịch vụ cho người khiếm thị và coi đó là một phần trong chính sách hòa nhập xã hội, tuân thủ các điều khoản của Đạo luật chống phân biệt đối xử người khuyết tật. Cũng phải chú trọng vào việc xác định nhu cầu thúc đẩy dịch vụ và xây dựng đội ngũ nhân viên phục vụ người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.3.8.

    Ở Anh, các dịch vụ thư viện quốc gia không phải do chính phủ cấp kinh phí và các dịch vụ hợp tác trong lĩnh vực này chậm phát triển hơn so với các quốc gia khác. Brophy and Craven (1999b) nói đến chính sách chung của quốc gia với một số tiêu chuẩn đảm bảo độc giả có thể sử dụng bất cứ thư viện nào, dù là TVCC hay thư viện trường đại học và đảm bảo mức độ phục vụ của các dịch vụ đều sẵn sàng và độc giả có thể sử dụng các trang thiết bị hỗ trợ.


    Back to Chapter index
    6.3.9. Đảm bảo chất lượng

    Nhà quản lý phải xây dựng mô hình phục vụ người khiếm thị đảm bảo chất lượng và hòa hợp với dịch vụ chung. Khi lập các tiêu chuẩn trong địa phương, cần tham khảo ý kiến của người sử dụng. Giới thiệu hướng dẫn sử dụng thư viện để phục vụ độc giả là rất quan trọng vì nhờ nó mà mọi người trong thư viện biết là họ đang có cái gì và họ có thể tận dụng tối đa nguồn lực hỗ trợ để có thể phục vụ độc giả khiếm thị tốt hơn. Quan trọng là phải có ý kiến của người khuyết tật và quan trọng hơn nữa là phải lắng nghe các ý kiến đó và phản hồi. Dịch vụ không rào cản có thể là yếu tố chính để các thư viện dựa vào đó đánh giá nhận thực và khả năng tổ chức phục vụ. Mô hình chất lượng bao gồm:

    a) người liên lạc giữa thư viện và cộng đồng
    b) hoạch định cấp độ và tiêu chuẩn dịch vụ
    c) chỉ tiêu kế hoạch
    d) giám sát
    e) giải trình công việc
    f) đọc và trả lời thư góp ý của người sử dụng
    g) diễn đàn độc giả
    h) lập bảng khảo sát
    i) đánh giá mức độ thực hiện
    j) trả lời thư góp ý dưới hình thức chuyển dạng thay thế
    k) bảng điểm chuẩn.


    Back to Chapter index
    6.3.10. Ngân sách

    Nhà quản lý phải phân bố kinh phí hợp lý để tổ chức các dịch vụ theo kế hoạch chính sách đề ra. Kinnell (2000) đề nghị các thư viện khi chi tiêu cho dịch vụ của người khiếm thị có số liệu thống kê. Những khoản chi tiêu tương tự cho sinh viên khuyết tật có thể cũng là một điểm biểu hiện trong tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục đại học và sau đại học. Brophy và Craven (1999a) báo cáo hiện nay ngân sách phân bổ từ 500 bảng đến 30,000 bảng để mua sắm trang thiết bị, tập huấn đặc biệt, chi phí hoạt động ban đầu. Một số thư viện phải tìm thêm nguồn tài trợ khác để phát triển các dịch vụ hỗ trợ hay mua sắm thêm trang thiết bị, thường là từ nguồn các tổ chức từ thiện hay các quỹ phát triển là những nguồn ngoại lực có thể tận dụng được.


    Back to Chapter index
    6.3.11.

    Một vấn đề nữa cần bàn đến trong chính sách là việc thành lập các bộ phận chuyên biệt trong các trường đại học. Brophy (1999) báo cáo là việc cung cấp dịch vụ hiệu quả cho nhân viên và sinh viên mù và khiếm thị ở chương trình đại học gần như luôn được xây dựng theo hướng lập thành những bộ phận nhỏ nhưng chuyên biệt với đội ngũ nhân viên phục vụ nhiệt tình. Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết cách thức này bộc lộ một số điểm bất lợi. Đầu tư cao khi thành lập một bộ phận riêng thì thường không bắt nhịp kịp với những phát triển mới và không đáp ứng được số lượng người khiếm thị sử dụng thư viện ngày càng tăng, đặc biệt là để xây dựng môi trường văn hóa học tập suốt đời. Những khó khăn phát sinh trong công việc phải được các nhà chức trách TVCC cân nhắc để đưa vào chính sách và chúng không phải là chuyện đơn giản và dễ quyết định. Các chính sách phải đáp ứng cho điều kiện trong hiện tại và cả trong tương lai. Cách tổ chức phục vụ chung hay thành bộ phận chuyên biệt đều có thể đạt được mục tiêu có dịch vụ cho người khiếm thị hiệu quả.


    Back to Chapter index
    6.4.1.

    Nhà quản lý phải nghiên cứu số liệu thống kê người khiếm thị đến thư viện, nhớ là bất cứ số liệu nào cũng phải là những con số thực. Khảo sát phải đánh giá được số lượng độc giả người khiếm thị, nhu cầu của họ, những khó khăn và mức độ thỏa mãn với dịch vụ thư viện. Quan trọng là phải hiểu được nguyên nhân, đặc điểm và nhu cầu của độc giả. Chương 4 trình bày những khó khăn đối với người khiếm thị. Dựa vào bảng đáng giá nhu cầu của họ, nhà quản lý có thể phân định mức độ dịch vụ được yêu cầu và phân bổ nguồn lực cần thiết hợp lý.


    Back to Chapter index
    6.4.2.

    Các đánh giá này phải có cả phần thông tin liên lạc với các cơ quan bên ngoài, như các trung tâm đánh giá chuyên nghiệp hay RNIB và trong cơ quan nên có sự phối hợp với bộ phận phụ trách người khuyết tật, dịch vụ cho sinh viên, trưởng khoa các bộ môn và các phòng ban khác. Trong địa phương, các cơ quan tổ chức sẽ có Phòng công tác xã hội, ban Người khuyết tật/ Cơ hội bình đẳng và các nhóm tình nguyện địa phương. RNIB gần đây đã phát hành ấn phẩm là kết quả phân tích của một cuộc khảo sát “Tiếp cận văn bản thông tin” trên 1000 người khiếm thị (Bruce và Baker, 2001) là một nguồn tư liệu có giá trị đối với các nhà quản lý.


    Back to Chapter index
    6.4.3.

    Gần như không thể có được các số liệu thống kê đáng tin cậy về số người mù và khiếm thị đang theo các chương trình đại học (Brophy và Craven, 1999a). Theo ước tính của R.N.I.B, một trường đại học ở Anh quốc có 15,000 sinh viên thì có khoảng 75 người khiếm thị (tỷ lệ 1/200). Nhiều người khiếm thị không đăng ký là người khuyết tật và không muốn người khác biết mình bị khiếm thị. Khi sử dụng dịch vụ thư viện họ sẽ gặp khó khăn mà thủ thư không nhận ra điều này. Thực tế cho thấy nhu cầu người khiếm thị sử dụng thư viện ngày càng lớn, điều này được suy ra đơn giản chỉ dựa vào lý do là số lượng sinh viên tăng.


    Back to Chapter index
    6.4.4.

    Ở Anh có khoảng 18% là người khuyết tật ở độ tuổi lao động (European Union. Eurostat, 1998) và một số khu vực ở Đông bắc, số lượng người khuyết tật chiếm đến 20%. Trong các trường đại học tại Anh, có khoảng 3.9% sinh viên đăng ký là người khiếm thị trong năm học 1999- 2000 đã lên tiếng nói về những khó khăn mà họ gặp phải. Trường đại học Sunderland có số người khuyết tật chiếm đến 6.7% tổng sinh viên. Cứ 760 sinh viên nhập học thì có 23 sinh viên khiếm thị và hơn 30 sinh viên bị đa khuyết. Có rất nhiều lý do mà chỉ có một nửa sinh viên khuyết tật quyết định khai báo khuyết tật của mình khi đăng ký nhập học.


    Back to Chapter index
    6.4.5.

    Nhà quản lý phải nhận ra những trở ngại về mặt văn hóa hay tâm sinh lý ảnh hưởng đến những cảm xúc của người khuyết tật, làm cho bản thân họ tự cô lập cách biệt với cộng đồng chung. Nhiều người khiếm thị không biết thư viện có các dịch vụ mà họ có thể sử dụng được và sinh viên thì ít hoặc không biết hề biết gì về những quyền lợi, công nghệ hỗ trợ và các dịch vụ đặc biệt dành cho họ.


    Back to Chapter index
    6.4.6.

    Những rào cản về điều kiện vật lý đôi khi làm người khiếm thị không sử dụng được thư viện và thậm chí làm họ không còn muốn quay trở lại.


    Back to Chapter index
    6.4.7.

    Mặc dù các trường đã nỗ lực để có thể đáp ứng nhu cầu người sử dụng, nhưng những ý kiến phản ánh của sinh viên khuyết tật trong các trường luôn nhắc nhở chúng ta cần cố gắng hơn nữa. Một số ý kiến đóng góp của sinh viên như:

    a) thiếu hiểu biết về ảnh hưởng của khuyết tật đến việc học hành trong nhà trường;
    b) trong lúc giảng bài hay thi cử, họ bị xếp vào loại “khuyết tật”;
    c) được tư vấn hướng dẫn đề nghị họ bỏ các môn mà có thể vì khuyết tật của mình họ không thể đảm đương nổi;
    d) nghi ngờ về khuyết tật của họ;
    e) hỗ trợ không đầy đủ;
    f) gây khó khăn hay trễ nải khi trợ giúp và hướng dẫn;
    g) hoạt động phục vụ không đồng bộ trong nhà trường;
    h) gặp trở ngại trong việc đi lại.

     


    Back to Chapter index
    6.4.8.

    TVCC phải xác định nhu cầu của độc giả sử dụng dịch vụ của người khiếm thị trong hiện tại lẫn tương lai và phải điều tra mức độ đòi hỏi của họ. Tổ chức Share the Vision/ Hiệp hội thư viện (Machell, 1996) hướng dẫn phải hình thành các tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá dịch vụ cho người khiếm thị (Kinnell và nh. ng. khác, 2000). Tất cả số liệu thống kê thường đánh giá thấp nhu cầu, nhưng theo ước tính về người khiếm thị, thì cho thấy nhu cầu là rất cao (tham khảo chương 5 và Phụ lục A1).


    Back to Chapter index
    6.5.1.

    Tầm quan trọng của việc trang bị và thúc đẩy sử dụng dịch vụ thư viện được trình bày ở các chương khác trong quyển cẩm nang này. Thực sự mà nói đây là một thách thức lớn đối với các nhà quản lý và giới chuyên môn tham gia vào công tác quy hoạch và thiết kế các loại hình thư viện và các trung tâm học liệu. Các chuyên gia trong lĩnh vực này, kể cả Hội thư viện, tổ chức Share the Vision và Hội thư viện Hoa Kỳ cũng đã hướng dẫn và khuyến nghị một số biện pháp quản lý. 


    Back to Chapter index
    6.5.2.

    Nhà quản lý phải nhận thức đủ về tầm quan trọng của việc tạo điều kiện tiếp cận tòa nhà và thiết kế đảm bảo an toàn cho người khiếm thị khi đi lại trong thư viện. Những rào cản cho người khiếm thị thường là do vô ý tạo ra đôi khi làm cản trở hoặc thậm chí làm họ từ bỏ cả cơ hội sử dụng dịch vụ. (Xem Chương 12).


    Back to Chapter index
    6.5.3.

    Khi trình bày kế họach triển khai dịch vụ, nhà quản lý phải quyết định cách phân phối sử dụng trang thiết bị hỗ trợ. Có thể tổ chức chung với các dịch vụ khác hoặc bố trí một khu vực riêng biệt. Quan điểm giữa cán bộ phục vụ và độc giả khiếm thị có thể khác nhau, vì thế mà phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi lập kế hoạch cần phải tham khảo ý kiến người sử dụng.


    Back to Chapter index
    6.5.4.

    Những điều chỉnh hợp lý để tăng cường hỗ trợ theo các điều khoản trong Phần III của DDA (Great Britain. Đạo luật, 1995) gồm có:

    a) quy hoạch bãi và chỗ đậu xe
    b) cải thiện cửa ra vào
    c) chú ý các chi tiết bên trong như cửa, tay vịn cầu thang, bậc tam cấp và thang máy
    d) chú ý màu sắc, ánh sáng và các bảng hiệu
    e) cải tiến cửa sổ, nhà vệ sinh và các trạm điện thoại
    f) sàn nhà và thảm
    g) thiết kế khu vực tiếp tân
    h) chú ý đến các biện pháp an toàn an ninh.


    Back to Chapter index
    6.6.1.

    Nhà quản lý phải cung cấp nhiều dịch vụ thích hợp cho độc giả khiếm thị như bao độc giả khác, họ cũng có nhiều cách học và sử dụng thông tin khác nhau và họ phải được tự do chọn lựa dịch vụ nào mà họ cần hay muốn. Nhà quản lý phải biết là người khiếm thị có thể không sử dụng được một số dịch vụ thư viện và phải sắp xếp các biện pháp thay thế. Tạo cơ hội giao tiếp với độc giả cũng như các đồng nghiệp hoạt động ở lĩnh vực này trong và ngoài khu vực để tham khảo ý kiến và phối hợp hiệu quả hơn.


    Back to Chapter index
    6.6.2.

    Nhà quản lý nên chủ động đưa dịch vụ cho người khiếm thị vào kế hoạch trước hơn là chỉ thực hiện một cách cưỡng ép sau khi đã quy hoạch xong. Như đã nói, dịch vụ cho người khiếm thị cần có kế hoạch và kinh phí. Để thúc đẩy sự nhận thức đầy đủ về người khuyết tật, kế hoạch phát triển dịch vụ phải luôn gắn với việc tập huấn nhân viên, xây dựng vốn tài liệu, cung cấp đủ các hình thức tài liệu, trang thiết bị và lập dự án.


    Back to Chapter index
    6.6.3.

    Thư viện phải cân nhắc việc sắp xếp cho người khiếm thị đăng ký thẻ đọc cũng như cách tiếp cận đăng ký thẻ. Một số thư viện phát hành thẻ có phần ghi nhận bản chất của khuyết tật, chỉ ra các hình thức dịch vụ được yêu cầu và cấp độ sử dụng dịch vụ đó như thế nào.


    Back to Chapter index
    6.6.4.

    Dịch vụ cho người khiếm thị bao gồm tra cứu mục lục, tìm kiếm tài liệu; cung cấp các tờ hướng dẫn và chỉ dẫn ở dạng chữ lớn, băng đĩa, dạng web; dịch vụ giới thiệu sách; dịch vụ sao chụp tài liệu; và chỗ ngồi học độc lập. Một số thư viện còn cung cấp dịch vụ chuyển dạng tài liệu; đăng ký đọc cá nhân, sử dụng máy ghi âm ghi chú; máy đọc; và công cụ phóng đại chữ. Những thư viện khác có nhân viên chuyên nghiệp có thể hướng dẫn độc giả mù và khiếm thị và các độc giả làm công tác tình nguyện. Nhiều độc giả sẽ có thêm những tiện ích từ dịch vụ tự phục vụ như gia hạn hay đặt sách trước qua điện thoại, fax, hay thư điện tử, nhưng còn nhiều vấn đề khác liên quan đến việc thiết kế công nghệ tự phục vụ cho người khiếm thị và các độc giả khuyết tật khác.


    Back to Chapter index
    6.6.5.

    Công nghệ hỗ trợ như CCTV để phóng to văn bản hay hình ảnh, máy quét với hệ thống phóng to hình ảnh hay phát âm, tạo chữ nổi, chữ lớn, đồ họa nổi hay hệ thống đọc văn bản, máy cassette, bàn phím với kích thước ký tự lớn, phần mềm đọc màn hình, công cụ chuyển văn bản sang phần đọc hay phần nhận dạng chữ, phóng to màn hình và nhận dạng ký tự.


    Back to Chapter index
    6.6.6.

    Công nghệ hỗ trợ được cung cấp cho người khuyết tật, đôi khi có thể chỉ cho phép người khuyết tật sử dụng với mật khẩu riêng của họ. Điều này đảm bảo cho người khuyết tật có thể sử dụng thiết bị khi họ cần đến và ngăn bớt tình trạng sử dụng sai mục đích phục vụ.


    Back to Chapter index
    6.6.7.

    Nhà quản lý phải đảm bảo nhu cầu của người khuyết tật được gắn kết với kế hoạch phát triển dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin. Công nghệ truyền thông thông tin là một công nghệ hỗ trợ quan trọng có thể đáp ứng các dịch vụ giúp người khuyết tật vượt qua nhiều rào cản bất lợi về khoảng cách địa lý cũng như về thời gian. Ví dụ, truyền trực tiếp các bài giảng cho sinh viên khuyết tật mà hôm đó họ bị đau ốm giúp họ mặc dù không đến trường nhưng vẫn có thể học từ nhà hay ở bất cứ một nơi nào khác. Có một số vấn đề quan trọng trong việc thiết kế và xây dựng hệ thống điện tử. Liên hiệp Mạng toàn cầu (W3C) cam kết đẩy mạnh tính tiện dụng sử dụng web cho người khuyết tật. Ban đề xướng khả năng truy cập web (WAI) tìm cách cải thiện khả năng truy cập web qua năm lĩnh vực chính: công nghệ; hướng dẫn; công cụ, giáo dục - đào tạo - tập huấn - mở rộng và nghiên cứu phát triển. Nhà quản lý cũng phải tính đến việc cải thiện mạng phần mềm chuyên dụng vì hiện chỉ có ít hơn ¼ được sử dụng trong mạng lưới phục vụ. Quan trọng hơn cả của việc tăng cường truy cập, một số hệ thống điện tử còn phải giải quyết những khó khăn đối với người khiếm thị. Công nghệ thông tin chắc chắn sẽ hỗ trợ rất nhiều cho nhân viên thư viện trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của sinh viên khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.6.8.

    TVCC phải cung cấp công nghệ mới để đảm bảo sự bình đẳng trong việc sử dụng cho tất cả mọi người. Công nghệ thông tin và trang thiết bị hỗ trợ đọc ngày càng đóng vai trò quan trọng như là phương tiện chính để truy cập thông tin cho người khiếm thị.  Bảng hướng dẫn của Tổ chức Share the Vision/ Hội thư viện (Machell, 1996) đưa ra các mức dịch vụ cơ bản phải đáp ứng. Kế hoạch hàng năm phải có mục tiêu rõ ràng và TVCC phải có số liệu thống kê về tình hình sử dụng công nghệ hỗ trợ(Kinnell và nh. ng. khác, 2000).


    Back to Chapter index
    6.6.9.

    Để đem lại sự công bằng cho nhiều độc giả khuyết tật hay đa khuyết sẽ gây nhiều thử thách trong các khâu công tác từ vấn đề nâng cao nhận thức, tập huấn nhân viên và hoạt động phục vụ. Khổ thay, có khi giải pháp thỏa đáng cho một người lại làm cản trở cho người khác, khó hơn nữa là trường hợp một người mà bị đa khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.6.10.

    Theo Phần III của Đạo luật Chống Phân biệt đối xử khuyết tật ở (Great Britain. Đạo luật, 1995) và Đạo luật Khuyết tật và Nhu cầu học đặc biệt (Great Britain. Đạo luật, 2001), đã có nhiều cuộc tranh cãi việc xác lập các bước cần thiết triển khai công tác phục vụ người khuyết tật. Nhà quản lý phải xem xét quy trình đó để đưa vào kế hoạch cho hợp lý:

    a) cơ chế mượn liên thư viện
    b) tìm và lấy sách cho độc giả
    c) gửi tài liệu cho độc giả qua đường bưu điện
    d) tập huấn nhân viên sử dụng công nghệ hỗ trợ
    e) cung cấp dịch vụ truy cập điện tử tại chỗ
    f) cung cấp dịch vụ thư viện truy cập từ xa thuận tiện cho sinh viên.

    Chi tiết tham khảo ở Chương 3.


    Back to Chapter index
    6.7.1.

    Chính sách phát triển vốn tài liệu của thư viện phải bao gồm cả tài liệu chuyển dạng để đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị, (sách báo tạp chí chữ đại, chữ lớn, tài liệu chữ Braille; Moon; tài liệu nói; hình thức đôi; và nguồn thông tin điện tử). Chương 89 trình bày chi tiết.


    Back to Chapter index
    6.7.2.

    Để tránh tình trạng thiếu hụt tài liệu, thư viện phải cố gắng hoặc mua các tài liệu theo yêu cầu độc giả hoặc đảm bảo điều kiện hỗ trợ họ sử dụng tài liệu của cơ quan, tổ chức từ thiện hay nhận từ các dịch vụ đặt hàng khác. Dịch vụ đọc cho cá nhân nghe hay chuyển dạng tài liệu cũng là một số trong những biện pháp thay thế.


    Back to Chapter index
    6.7.3.

    Trong hoạt động chung, nhà quản lý phải nhìn ra tầm quan trọng của việc tạo cho người khiếm thị cơ hội chọn lựa những cách thức để làm thỏa mãn nhu cầu học tập của họ. Tránh việc quá nhấn mạnh vào vai trò của chữ Braille.


    Back to Chapter index
    6.7.4.

    Báo cáo về “phối hợp chọn tài liệu chuyển dạng”, C.P.I khuyến nghị các nhà quản lý TVCC phải đáp ứng một số vấn đề trong hoạt động xây dựng và phát triển vốn tài liệu liên quan đến người khiếm thị:

    a) tăng kinh phí mua tài liệu
    b) kế hoạch ưu tiên các nguồn lực
    c) đánh giá nhu cầu
    d) phân bổ ngân sách theo tỷ lệ thích hợp để có thể mua tài liệu chuyển dạng
    e) lập chính sách và quy trình chọn lựa tài liệu chuyển dạng
    f ) thúc đẩy việc thu thập bổ sung tài liệu hình thức chuyển dạng, đặc biệt là chữ lớn
    g) lập các tiêu chí cơ bản như chuẩn, kinh phí, mục tiêu và chất lượng dịch vụ
    h) đánh giá và phát huy tối đa hiệu quả dịch vụ
    i) theo hướng dẫn của liên hiệp hay khu vực để thực hiện việc chọn lựa, mua, khuyến khích sử dụng tài liệu
    j) Làm rõ trách nhiệm liên quan đến mức độ, chất lượng và tiếp cận dịch vụ theo các điều khoản của DDA
    k) cộng tác với hội người mù tại địa phương để phối hợp phục vụ.


    Back to Chapter index
    6.7.5.

    Trong TVCC, chính sách chọn tài liệu nên đưa vào kế hoạch năm của thư viện và phải cung cấp đủ tài liệu để đáp ứng nhu cầu đọc tài liệu ngoại ngữ, thông tin và các dạng khác. Nhà quản lý phải tăng thêm số lượng báo chữ lớn và báo nói nhiều hơn nữa. (Kinnell và nh. ng. khác, 2000).


    Back to Chapter index
    6.7.6.

    Nhà quản lý thư viện và nhân viên phục vụ phải nắm bắt những xu hướng phát triển mới trong việc mượn tài liệu chuyển dạng liên thư viện. Họ phải xây dựng chính sách rõ ràng để tổ chức mượn liên thư viện trên toàn quốc hay trong khu vực đối với nguồn tài liệu chuyển dạng. (Xem 6.2.6).


    Back to Chapter index
    6.8.1.

    Bản quyền hiện là vấn đề gây ra một số hạn chế trong dịch vụ thư viện và người mù cần được cải thiện. Nhà quản lý thư viện và nhân viên dĩ nhiên cần phải nhận ra những vướng mắc vào quy định về quyền tác giả vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất và cung cấp tài liệu chuyển dạng. Để chủ động, họ phải ra sức vận động giới xuất bản đồng ý cấp phép sao chép theo tinh thần phục vụ tình nguyện. Luật bản quyền mới đang được dự thảo, sẽ giới thiệu những quyền mới cho người khiếm thị và cho cả những người đang phục vụ nhu cầu của đối tượng này.


    Back to Chapter index
    6.8.2.

    Đạo luật bảo hộ phát minh, thiết kế và bản quyền của Anh quốc (Great Britain. Acts, 1998) không tính đến quyền lợi và nhu cầu của người khuyết tật,. Tài liệu chỉ được chấp nhận sau khi chuyển dạng thay thế để tiện truy cập với sự đồng ý cho phép của người giữ bản quyền hay được ủy quyền tái bản. Thư viện phải biết đây là công đoạn rất tốn thời gian và thường là không được chấp thuận.


    Back to Chapter index
    6.8.3.

    Tình trạng này đã phần nào được giải quyết ổn thỏa theo tài liệu “Hướng dẫn về Quyền tác giả và tình trạng khiếm thị” (Hội Cấp phép xuất bản, 2001) ban hành vào tháng 10 năm 2001, được đúc kết từ hiệp hội tổ chức các tác giả và nhà xuất bản dưới sự chủ trì của Hội cấp phép xuất bản. Những hướng dẫn này cho phép không xét đến việc vi phạm luật bản quyền nếu dịch vụ cung cấp theo yêu cầu nhân sao bản dưới hình thức chuyển dạng cho một cá nhân nào đó. Họ yêu cầu chỉ có người khiếm thị mớiđược quyền sử dụng hợp pháp bản gốc và hoạt động này không được vì mục đích lợi nhuận. Thư viện được đặc biệt chú ý đến vì đây là một trong những nơi thường hay diễn ra hoạt động sao chép chuyển dạng này.


    Back to Chapter index
    6.8.4.

    Hiện nay thư viện có quyền đáp ứng yêu cầu của một người khiếm thị bằng cách chuyển một phần hay trọn vẹn bất cứ tài liệu nào trong kho tài liệu chung thành dạng mà người sử dụng có thể truy cập được. Nó cũng chấp nhận cho bản thân một người mượn tài liệu có thể sao chép chuyển dạng để dễ dàng sử dụng thông tin hơn. Nhưng có những hạn chế nếu sao chép nhiều bản và chuyền cho người khác, thư viện nên giữ một bản gốc ở dạng truy cập được để cung cấp cho những yêu cầu trong tương lai. Đây là một bước cải thiện đáng kể so với tình hình trước đây.


    Back to Chapter index
    6.8.5.

    Những hướng dẫn này mở ra cho cả người mù và người bị giảm thị lực hay bất cứ ai không cầm được sách hay mắt không thể tập trung khi đọc. Tuy nhiên chúng không được chấp nhận áp dụng đối với những đối tượng gặp khó khăn trong việc học hay bị chứng khó đọc.


    Back to Chapter index
    6.8.6.

    Văn bản của hướng dẫn này có thể coi như là mang một chút tính pháp lý và RNIB đã xuất bản một bộ giải đáp “Câu hỏi thường gặp” (RNIB, 2002), có thể tìm đọc trên tờ thông tin tháng 2 năm 2002 trên tạp chí “Visibility” và trên website của RNIB ở phần Dịch vụ Thư viện Thông tin.


    Back to Chapter index
    6.8.7.

    Trong khi cuộc vận động tranh thủ sự phê duyệt luật pháp vẫn tiếp tục diễn ra thì Luật bản quyền (người khiếm thị), những dự thảo của các thành viên đã được thông qua lần phê chuẩn thứ hai tại Hạ viện Anh vào ngày 15 tháng 3 năm 2002 và chính phủ đã biểu thị sự hỗ trợ của mình cho dự thảo này.

    Những điều khoản quan trọng của bộ luật đề cập đến :

    a) Chuyển dạng 1-1 đương nhiên là không vi phạm, nếu thực hiện vì mục đích phi lợi nhuận và không yêu cầu cần giấy phép hay không bị bất cứ sự truy cứu trách nhiệm nào từ người giữ bản quyền;

    b) Có thể phân phối và cung cấp bản sao, nếu có giấy phép nói rõ hình thức tài liệu và hoạt động này không vì mục đích phi lợi nhuận. Sẽ rà soát kiểm tra lại mục đích sử dụng tác phẩm chuyển dạng để đảm bảo luật không bị xâm phạm và các quyền trong luật được thực thi theo đúng trách nhiệm. Nếu nhân sao nhiều hơn một bản thì phải khai báo cho người giữ bản quyền số lượng bản in sao và nhiệm vụ của nơi cấp giấy phép là phải công bố chi tiết về chương trình đó về một số cơ quan quản lý cấp trung ương. Thư viện sẽ là đơn vị nằm trong định nghĩa về các tổ chức phi lợi nhuận để có thể sản xuất in sao nhiều bản.

    Trong khi luật bản quyền đang cố gắng được bãi bỏ việc tìm xin cấp phép sao chép thì thủ thư phải nhớ tra trùng tài liệu được yêu cầu chuyển dạng để tránh việc nhân bản bị trùng lắp.


    Back to Chapter index
    6.8.8.

    Sắc lệnh quyền tác giả của Hội đồng Châu Âu bàn về sự dung hòa giữa bản quyền và quyền hưởng thụ trong xã hội thông tin (Cộng đồng Châu Âu, 1999) cho phép từng thành viên trình bày để đưa ra các trường hợp ngoại lệ của luật bản quyền trong đó nói về lợi ích của người khuyết tật, những hoạt động không vì mục đích thương mại, hay yêu cầu cần mở rộng do nhu cầu của người khuyết tật.” Tuy nhiên Chính phủ đã có văn bản dưới luật hướng dẫn việc mở rộng cung cấp tài liệu theo yêu cầu của “người khiếm thị”  nhưng hiện tại thì chưa có một kế hoạch chuẩn bị nào.


    Back to Chapter index
    6.8.9.

    Công nghệ kỹ thuật đôi khi là tăng thêm những khó khăn trở ngại cho người sử dụng. Vì có sự ràng buộc về mặt pháp lý, ngày càng có nhiều tài liệu trực tuyến thiết kế sử dụng dưới nhiều hình thức để chống sao chép và quản lý quyền số hóa. Những công nghệ quản lý này có thể làm tài liệu không dễ dàng sử dụng được bằng những phần mềm đọc màn hình. Thậm chí chức năng đọc của sách điện tử có thể không sử dụng được do mức bảo mật cao do nhà xuất bản cài đặt. Sắc lệnh quyền tác giả của Châu Âu trình bày nhưng chưa có sự đồng ý của các tổ chức tình nguyện, “các nước thành viên phải có những biện pháp thích hợp để đảm bảo cho người giữ bản quyền được những lợi ích từ những trường hợp ngoại lệ [khác nhau, kể cả tình huống cho thư viện hay cho người khuyết tật sao chép]…” Dễ dàng thấy rằng Chính phủ Anh phải đứng ra nhận trách nhiệm đó. Khuyến nghị đó được đưa vào Luật Anh quốc vào ngày 22 tháng 12 năm 2002.


    Back to Chapter index
    6.8.10.

    Dự án SEDODEL (An ninh phân phối tài liệu cho người mù và khiếm thị) (Engelen và nh. ng. khác, 1998) bàn về các vấn đề liên đới đến bản quyền phân phối tài liệu điện tử và đề nghị biện pháp mới. Liên hiệp DAISY (Hiệp hội quốc tế về tiêu chuẩn sách nói kỹ thuật số, 2000) cũng nói đến một số khó khăn của vấn đề bản quyền và tiêu chuẩn.


    Back to Chapter index
    6.9.1.

    Nhà quản lý thư viện phải có trách nhiệm làm cho người khiếm thị phát triển kỹ năng và có sự chọn lựa sử dụng dịch vụ. Ví dụ, người khiếm thị thường gặp khó khăn khi lướt duyệt tài liệu và cần có sự trợ giúp để chọn được tài liệu mình cần. Họ cũng cần mục lục có trình bày chi tiết nội dung.


    Back to Chapter index
    6.9.2.

    Quảng bá thúc đẩy dịch vụ cho người khiếm thị trong tất cả các thư viện, chú ý đến các chương trình phát triển đọc.


    Back to Chapter index
    6.9.3.

    Nhu cầu của người khiếm thị phải đựơc đưa ra trong ngay từ khi bắt đầu lập chương trình và phải được tập huấn thực hiện.


    Back to Chapter index
    6.10.1.

    Nhà quản lý phải xây dựng văn hóa nhận thức và nhân viên phải có những hiểu biết cơ bản về nhu cầu của người khiếm thị. Đây vấn đề then chốt để tổ chức cơ cấu và tập huấn, phân công nhiệm vụ cho nhân viên và sự thành công trong việc đáp ứng nhu cầu người khiếm thị sẽ là căn cứ để xét đánh giá và khen thưởng nhân viên.


    Back to Chapter index
    6.10.2.

    Trách nhiệm phục vụ người khiếm thị được trình bày trong Phần 6.1, đặc biệt liên quan đến chính sách, văn hóa, tài chính và chất lượng xây dựng dịch vụ phục vụ cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.10.3.

    Một thành viên trong ban lãnh đạo phải có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu người khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.10.4.

    Thư viện phải chọn một cán bộ chuyên trách và là người có nhiệm vụ phối hợp giữa các bộ phận phục vụ người khuyết tật cũng như những người gặp khó khăn trong việc học. Vai trò của cán bộ này có thể là một phần việc kiêm nhiệm của một cán bộ nào đó nhưng cần được bố trí thời gian và được hỗ trợ một cách hợp lý. Một số thư viện chọn hẳn một người có trách nhiệm chính cho bộ phận phục vụ người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.10.5.

    Mục tiêu công việc của người phụ trách bộ phận người khuyết tật sẽ gồm:

    a) tập trung chuyên chăm sóc dịch vụ cho người khuyết tật
    b) xây dựng chính sách và phối hợp cung cấp dịch vụ
    c) tập huấn và rèn luyện nhân viên có nhận thức hiểu biết về nhu cầu người khuyết tật
    d) đảm bảo thư viện hoạt động theo đúng chính sách và luật pháp hiện hành
    e) đảm bảo thư viện theo đúng các tiêu chuẩn về dịch vụ.


    Back to Chapter index
    6.10.6.

    Những nhiệm vụ chính của cán bộ này sẽ là:

    a) cung cấp dịch vụ thích hợp cho người khuyết tật
    b) thành lập và phối hợp mạng lưới các đồng nghiệp ở trong thư viện hay từ các cơ quan khác
    c) Là người liên lạc với bộ phận người khuyết tật trong cơ quan và các phòng ban khác như phòng dịch vụ sinh viên, phòng máy tính, phòng hành chánh, hay phòng tạo cơ hội bình đẳng, văn phòng công tác xã hội, phòng tin học và cơ quan bất động sản
    d) cung cấp công nghệ hỗ trợ

    e) cung cấp thông tin hướng dẫn và trợ giúp
    f ) liên lạc với bạn đọc, phản hồi và thực hiện theo yêu cầu
    g) tập huấn nhân viên
     như một phần gắn liền với công tác tập huấn độc giả
    h) khuyến khích độc giả và nhân viên sử dụng dịch vụ
    i) quản lý thông tin
    j) trình bày các yêu cầu công tác trong tương lai
    k) theo kịp các yêu cầu, xu hướng và những thực hành tốt nhất hiện nay .

    Cán bộ phụ trách đóng vai trò như là chất xúc tác cho mọi hoạt động cần điều chỉnh thay đổi, bên cạnh những kỹ năng cần thiết, cần có kiến thức và lòng nhiệt  thành và có khả năng tác động đến người khác.


    Back to Chapter index
    6.10.7.

    Phải có một mạng lưới liên hệ giữa các nhân viên trong các thư viện có kinh nghiệm phục vụ độc giả và thông qua họ thư viện tổ chức chương trình trợ giúp, hướng dẫn thông tin và tư vấn trong toàn cơ quan.


    Back to Chapter index
    6.10.8.

    Những nhân viên ở tuyến đầu phục vụ được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chăm sóc khách hàng theo phương cách thống nhất chung trong thư viện. Đặc biệt là họ phải tự tin và có kinh nghiệm để phục vụ người khiếm thị và biết giúp khách hàng sử dụng các công nghệ và trang thiết bị hỗ trợ.


    Back to Chapter index
    6.10.9.

    Thực tế, các nhà quản lý TVCC có thể bị yêu cầu báo cáo số nhân viên chuyên trách về nhu cầu người khiếm thị (Kinnell và nh. ng. khác, 2000).


    Back to Chapter index
    6.11.1.

    Là công tác ưu tiên, tất cả nhân viên trong ở mọi bộ phận phải được tập huấn kiến thức về nhu cầu của người khiếm thị và nhận thức về việc triển khai các dịch vụ thích hợp. Một trong những yếu tố quan trọng nhất để cung cấp dịch vụ cho người khiếm thị (Machell, 1996) là tạo sự tự tin và hiểu biết cho nhân viên và xây dựng môi trường văn hóa phục vụ người khuyết tật. Tuyển chọn và tập huấn nhân viên.


    Back to Chapter index
    6.11.2.

    Nhiều người bị giảm thị lực phải lệ thuộc vào người khác nếu muốn sử dụng thư viện, đặc biệt đối với những độc giả mới, nên nhân viên cần cho họ cảm giác thoải mái khi giúp đỡ họ. Nhân viên phải biết những khó khăn của người khiếm thị và phải tự tin chủ động tình nguyện giúp đỡ khách hàng. Thiếu kiến thức và không được tập huấn có thể sẽ làm cho cả nhân viên và độc giả dễ dàng gây hiểu lầm và chán nản. (Brophy và Craven, 1999b).


    Back to Chapter index
    6.11.3.

    Để xây dựng nên chương trình tập huấn cho nhân viên, cần phải đánh giá kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của họ về vấn đề dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. Cũng rất hữu ích nếu tìm ra được những mô hình phục vụ tiên tiến trong mảng hoạt động này để làm mẫu. Kinnell (2000) đề nghị chiến lược tập huấn cho dịch vụ TVCC phải đặt mục tiêu tập huấn nhân viên nhất là phần nhận thức cơ bản là điều hết sức cần thiết để phân phối dịch vụ cho người khiếm thị đạt hiệu quả cao.


    Back to Chapter index
    6.11.4.

    Chương trình hướng dẫn nhân viên mới làm quen với môi trường làm việc phải có cả phần giới thiệu tổng quan về người khiếm thị và những dịch vụ liên quan trong thư viện. Nhân viên cũ cũng cần được tập huấn lại và cập nhật kiến thức. Nhiều chuyên đề phải đề cập đến những dịch vụ thích hợp cho nhiều mức độ giảm thị lực.


    Back to Chapter index
    6.11.5.

    Phải tập huấn về cách giao tiếp làm việc với người khiếm thị biết cách sử dụng ngôn ngữ thích hợp và kỹ năng diễn đạt là những nguyên tắc thực hành rất quan trọng. Không phải dễ dàng để biết vận dụng cách thức hay mức độ trợ giúp như thế nào là vừa phải và đúng – nếu nói quá nhiều sẽ làm độc giả phân tâm, nói quá ít thì không có vẻ thân thiện và dễ bị hiểu lầm là không muốn giúp đỡ. Nhân viên thư viên phải biết mỗi người khiếm thị sẽ có nhiều cách tìm thông tin và nhiều cách học và thái độ ứng xử cũng khác nhau như bất cứ một nhóm độc giả nào. Nhân viên phải được tập huấn để tự sử dụng trang thiết bị hỗ trợ và học cách hướng dẫn người khiếm thị sử dụng.


    Back to Chapter index
    6.11.6.

    Tất cả nhân viên thư viện phải được tập huấn để tuyển chọn nhân viên, đặc biệt là nâng cao ý thức về các vấn đề về người khuyết tật và cơ hội bình đẳng của họ trong xã hội


    Back to Chapter index
    6.11.7.

    Nhân viên thư viện có thể tham dự một chương trình nào bất kỳ của địa phương, trường đại học để tăng cường nhận thức về người khuyết tật và để có thể cập nhật thêm những kỹ năng và kiến thức mới.


    Back to Chapter index
    6.11.8.

    Một số chuyên gia trong lĩnh vực này, như các viện nghiên cứu của ngành Thông tin thư viện (CILIP) và dự án TESTLAB ‘hệ thống thử nghiệm sử dụng công nghệ thông tin viễn thông để hỗ trợ người khiếm thị', Ủy ban cộng đồng Châu Âu khuyến nghị là nên triển khai tập huấn bắt đầu từ khu vực trường thư viện (1997-98). Điều này để đảm bảo các chuyên môn mới cũng phải được nhận thức đầy đủ người khuyết tật và khả năng sử dụng dịch vụ thư viện và những khó khăn mà nhóm đối tượng này vấp phải.


    Back to Chapter index
    6.12.1.

    Trong trường đại học hay cao đẳng, thư viện thường là nơi sinh viên khuyết tật hay những người gặp khó khăn trong việc học tập trung đến, với điều kiện là thư viện phải có các dịch vụ và hỗ trợ thích hợp để trợ giúp. Những dịch vụ này gồm có nhóm hỗ trợ người khuyết tật, dịch vụ cho sinh viên, dịch vụ tư vấn, nơi ăn ở, tư vấn sức khỏe, dịch vụ hướng dẫn chăm sóc, trung tâm thể thao, văn phòng sinh viên quốc tế; nơi đăng ký nhập học,…Sinh viên sẽ được Trung tâm Truy cập và Bộ phận Tư vấn của RNIB trong khu vực tư vấn và hỗ trợ sử dụng trang thiết bị. Phân bổ kinh phí để hoạt động trợ giúp sinh viên khuyết tật nên tính đến cả khoản chăm sóc sinh viên khuyết tật trong trường và đầu tư mua trang thiết bị hỗ trợ.


    Back to Chapter index
    6.12.2.

    Kinnell (2000) đã khuyến cáo là tất cả các cơ quan tham gia vào các dịch vụ của TVCC nên xác định cơ chế để cải thiện kết quả hợp tác, đặc biệt là Bộ Thông tin văn hóa và Thể thao, RNIB, NLB và tổ chức Share the Vision.


    Back to Chapter index
    6.12.3.

    Nếu nhà quản lý không đủ thành thạo hay điều kiện phục vụ người khuyết tật trong thư viện mình, họ nên tìm đến các tổ chức khác, như là JISC/ Công nghệ Dịch vụ Thông tin cho Người khuyết tật (TechDis), RNIB/ Dịch vụ tư vấn sinh viên, Mạng quốc gia về Tư vấn Người khuyết tật, DfEE/ Dịch vụ Người khuyết tật và Hiệp hội trung tâm dịch vụ để tìm sự hỗ trợ giúp đỡ. Nhiều cơ quan trong số đó có mạng phủ khắp khu vực.


    Back to Chapter index
    6.12.4.

    Nhà quản lý phải hợp tác với bên ngoài và cộng tác với nhiều tổ chức khác để có thể cùng phát triển dịch vụ cho người khiếm thị một cách thường xuyên trong địa phương hay tại điểm phục vụ nếu có nhu cầu. Thư viện địa phương nên phục vụ theo yêu cầu của khu vực, quốc gia hay thậm chí ở ngoài nước. Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách hợp tác, hiệp hội, đơn vị tổ chức ở khu vực và quốc gia và các nhà cung ứng dịch vụ.


    Back to Chapter index
    6.12.5.

    Hiện nay thư viện còn lệ thuộc nhiều vào sự trợ giúp của R.N.I.B, Hội đọc báo nói của Anh quốc, NLB và các cơ quan khác để cung cấp cho độc giả những dịch vụ hỗ trợ. Trong đó có hoạt động cung cấp sách chữ Braille và Moon, dịch vụ chuyển dạng chữ Braille và sách báo nói. Các cơ quan chuyên môn có thể cung cấp dịch vụ tại địa phương và chuyển gửi báo và giáo trình là chủ yếu. R.N.I.B và các tổ chức khác như Sight and Sound, có thể tư vấn cho nhà quản lý cách mua sắm phần mềm hỗ trợ chuyên dụng và trang thiết bị. Chương trình bưu điện dành cho người mù thì được nhận gửi miễn phí bưu phẩm cho người mù và khiếm thị. Điều kiện chương trình cũng yêu cầu độ thị lực của khách hàng cũng phải ở một mức độ nào đó thì mới được chấp nhận.


    Back to Chapter index
    6.12.6.

    Một thách thức lớn cho các nhà quản lý là vấn đề hợp nhất các dịch vụ cho người khiếm thị và đảm bảo nó được duy trì trong suốt cả cuộc đời của người sử dụng. Yêu cầu hiện nay là buộc nhà cung cấp dịch vụ phải có thể đáp ứng được bất cứ độ tuổi nào trong thành phần độc giả, tốt hơn là chỉ tập trung vào một thời kỳ năng động tích cực nào đó của họ. Trong khi chưa có giải pháp cụ thể tại địa phương, yêu cầu các thư viện trên toàn quốc chú ý đến khi xây dựng hạ tầng phải theo tiêu chuẩn kiến trúc hòa nhập và đầy đủ tiện nghi để tổ chức phục vụ và lập ra những tiêu chuẩn cơ bản để triển khai dịch vụ thư viện cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Association of Research Libraries. (1999). Services to users with disabilities. Transforming libraries. Issue 8. www.arl.org/transform/disabilities/index.html

     

    Brophy, Peter. (1999). The integrated, accessible library: building a national accessible library service. Library HiTech News, 164, July 1999, pp 15-17.

     

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999a). Education for all? Library support for blind or visually impaired users in higher education in the UK. Library Association Record, Library Technology: Assistive Technology Special Issue, 4 (1), February 1999, pp. 19-20.

     

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999b). The integrated accessible library: a model of service development for the 21st century. The final report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired Users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation Report 168. Manchester: Centre for Research in Library and Information Management, Manchester Metropolitan University.

     

    Bruce, Ian and Baker, Mark. (2001). Access to written information: the views of 1,000 people with sight problems. London: RNIB.

     

    Capital Planning Information (CPI). (2000). Co-ordinating alternative format title selection. Final Report for Share the Vision and the Library and Information Commission. Brunton: CPI.

     

    Commission of the European Communities. (1997-98). TESTLAB (Testing systems using telematics for library access for blind and visually handicapped readers). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv.htm

     

    Department for Culture, Media and Sport. (2001). Comprehensive, efficient and modern public libraries - standards and assessment. www.culture.gov.uk/heritage/index.html.

     

    Department for Culture, Media and Sport. (1999). Libraries for all: social inclusion in public libraries. Policy guidance for local authorities in England. London: DCMS.

     

    Department for Education and Employment (DfEE). (1997). Connecting the learning society: National Grid for Learning: the government’s consultation paper. London: DfEE.

     

    Department for Education and Employment (DfEE). (1998). The learning age: a renaissance for a new Britain. London: HMSO. (Cmd 3790)

     

    Department for Education and Employment (DfEE). (1999). From exclusion to inclusion. Report of the Disability Rights Task Force on Civil Rights for Disabled People Report. London: HMSO.

     

    Department for Education and Employment (DfEE). (2000). Consultation on improving the standard of education for children with special needs and students with disabilities. London: HMSO.

     

    Department of the Environment, Transport and the Regions. (May 2000 update). Achieving best value through performance review. www.local.detr.gov.uk/research/bestva~1/paper 5/02.htm.

     

    Disability Rights Commission. (May 2000). Proposals for a new code of practice: rights of access, goods, facilities, services and premises. www.disability.gov.uk/consultation.html.

     

    Disability Rights Commission. (2002). Code of practice on rights of access, goods, facilities, services and premises.
    Also available is a booklet summarising issues, published as
    2004-what it means for you. Service providers.
    www.drc-gb.org/drc/informationandlegislation/page331a.asp

     

    Engelen, Jan, Evenepoel, Filip and Wesley, Tom. (2000). Surmounting the copyright hurdle: the SEDODEL project. (Secure Document Delivery for Blind and Partially Sighted People). Final report April 2000.
    At March 2002, a conference paper on the project can be seen on TIDE website at www.stakes.fi/tidecong/822sedod.htm

     

    European Community. (2001). Directive 2001/2G/EC of the European Parliament and of the Council on the harmonisation of certain aspects of copyright and related rights in the information society:
    www.europa.eu.int/comm/internal_market/en/intprop/news/index.htm

     

    European Union. Eurostat. (1998). Labour force survey principal results 1998.
    www.europa.eu.int/comm/eurostat/public/datashop/print-catalogue/EN?catalogue=Eurostat

     

    Great Britain. Acts. (1988). Copyright, designs and patents act. London: HMSO

    Great Britain. Acts. (1995). Disability discrimination act 1995. Chapter 50. London: HMSO.

    Great Britain. Acts. (2001) Special educational needs and disability act 2001. London: Stationery Office.

     

    Higher Education Funding Council for England. (1999). Guidance on base-level provision for disabled students in higher education. www.hefce.ac.uk/pubs/hefce/1999/99_04.htm

     

    Higher Education Funding Council for England. (2001). Improving access to higher education estates and buildings. Bristol: HEFCE.

     

    Hopkins, L. (1997). Partners in care: Share the Vision. Public Library Journal 12 (3), pp 57-60.

     

    Human Rights Act. (1998). www.hmso.gov.uk/acts/acts1998.htm

     

    The international consortium for the new digital talking book standard. (DAISY Consortium). (2000). www.daisy.org

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi and Creaser, Claire. (2000). Public library services for visually impaired people. Report to the Library and Information Commission. Loughborough: Library and Information Statistics Unit.

     

    Library and Information Commission. (1997). New library: the people’s network. London: Library and Information Commission.

     

    Library and Information Commission. (1998). Building the New library network: a report to government. www.lic.gov.uk/publications/policyreports/building/index.html

     

    Library and Information Commission. (March 2000). Libraries: the essence of inclusion. London: Library and Information Commission. www.lic.gov.uk/publications/policyreports/inclusion.html.

     

    Machell, Jean. (1996). Library and information services for visually impaired people: national guidelines. Share the Vision/ Library Association. London: L.A. Publishing.

     

    National Assembly for Wales. (2001). Comprehensive, efficient and modern public libraries for Wales: standards and monitoring.
    www.wales.gov.uk/subiculture/content/libraries/libstandards-cnts-e.htm

     

    National Bureau for Students with Disability. (2000). A guide to the Disability Discrimination Act 1995 for institutions of further and higher education. London: Skill.

     

    National Committee of Inquiry into Higher Education. (1997). Higher education in the learning society: report of the national committee. London: HMSO. (Chairman Sir Ron Dearing)

     

    Parker, B. (2000). The learner’s viewpoint. In Widening participation through the University for Industry: how libraries support lifelong learning. Proceedings of a conference organised by NIACE, The Library Association and the University of Sunderland, December 1998, edited by A. C. McDonald and V. Edwards. Sunderland : University of Sunderland Press.

     

    Publishers’ Licensing Society. (2001). Copyright and visual impairment guidelines. www.pls.org.uk/publisher/index.htm

     

    Quality Assurance Agency for Higher Education. (1999). Code of practice for assurance of academic quality and standards in higher education: students with disabilities. Gloucester: QAA. www.qaa.ac.uk/public/COP/COPswd/contents.htm

     

    Royal National Institute for the Blind. (1997). Copyright laws and the rights of blind people: a report published by the RNIB; a review of copyright legislation as it affects access to the written work through alternative formats. London: RNIB.

     

    Royal National Institute for the Blind. (1999). A right to read: the impact of copyright law on visually impaired people. London: RNIB Campaign report No. 10.

     

    Royal National Institute for the Blind. www.rnib.org.uk/campaign/copyright.htm

     

    Talking Newspaper Association of the UK. (2000). www.tnauk.org.uk


    Back to Chapter index
    7.1. Giới thiệu

    Tất cả Thư viện công cộng phải đảm bảo có kế hoạch chiến lược phục vụ trẻ em khiếm thị thông qua cả thư viện địa phương và thư viện trường học. Luật và văn bản chỉ đạo sẽ đưa ra qui chế xây dựng các dịch vụ không phân biệt đối xử. Tất cả chiến lược phục vụ bao gồm chọn bổ sung tài liệu, tổ chức, ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ, huấn luyện nhân viên và quảng bá, phải dựa vào kết quả thảo luận đánh giá nhu cầu cùng với các em, phụ  huynh, người chăm sóc trẻ và những nhà chuyên môn trong cộng đồng.

    Theo khảo sát của RNIB vào năm 1992 (Walker và nh. ng. khác), có 56% trẻ em khiếm thị lại còn bị mang thêm những khuyết tật khác và điều này cũng nên ghi nhớ khi lên kế hoạch phân phối dịch vụ. Cuộc khảo sát mang tên “Chia sẻ tương lai” (RNIB, 2000) báo cáo về kinh nghiệm và nhu cầu của trẻ khiếm thị, đặc biệt liên quan đến vấn đề giáo dục, sức khỏe và giải trí. Trong báo cáo tóm tắt, có cả bảng phân tích kinh nghiệm đọc và sử dụng thư viện của các em. Nó cũng làm rõ nhu cầu của các em muốn tiếp cận nguồn lực thông tin rộng và có chất lượng hơn.

    Các thông tin khác như về dân số được đề cập ở chương 5 và phần 5.7 đề cập đến thiếu nhi. Phần 5.7.3 cho biết thông tin về các loại trường học của trẻ em khuyết tật. Quan trọng để thấy là có nhiều trẻ (chiếm 60%) đến các trường học hòa nhập và vì thế chúng rất cần đến nhiều sự giúp đỡ và nguồn lực đặc biệt hỗ trợ. 


    Back to Chapter index
    7.2. Các vấn đề về quản lý

    Mỗi nhà quản lý nên xác định việc phục vụ trẻ khiếm thị phải được duy trì và cải thiện như thế nào trong cơ quan tổ chức của mình. Kể cả từng bước cụ thể từ việc quảng bá, xây dựng vốn tài liệu, tập huấn nhân viên, cung cấp công nghệ thông tin và các dịch vụ hay chương trình có mục đích cụ thể và chuẩn bị kinh phí để thực hiện các dịch vụ hòa nhập cho các em khuyết tật.

    Tổ chức dịch vụ thư viện ở trường nên kết hợp với khối thư viện công cộng để đảm bảo trẻ khiếm thị sử dụng tốt các nguồn lực thông tin phục vụ cho nhu cầu học tập của các em. Thêm vào đó, thư viện phải đảm bảo không bỏ quên trẻ khiếm thị từ những hoạt động sinh hoạt hàng ngày trong nhà trường và phải định hướng việc cung cấp sách ở dạng thích hợp nếu có thể (điều này không có nghĩa là thư viện chỉ có sách loại khổ lớn).


    Back to Chapter index
    7.2.1. Nhân sự

    Để đảm bảo dịch vụ có thể đáp ứng được những nhu cầu cụ thể, thư viện cần có một bộ phận riêng chịu trách nhiệm phục vụ trẻ khuyết tật. Đây có thể là một bộ phận phát triển dịch vụ cho trẻ khuyết tật hay là một bộ phận của phòng ban phục vụ trẻ có nhu cầu đặc biệt. Trong các thư viện lớn, cần có một nhóm gồm vài nhân viên tuy được phân công có nhiệm vụ đối với nhiều hoạt động khác nhau như phụ trách về vốn tài liệu, ứng dụng, quảng bá dịch vụ nhưng họ cần làm việc chung với nhau và có một người chịu trách nhiệm chung để quyết định kế hoạch cho dịch vụ.

    Người này phải có trách nhiệm về những vấn đề như:

    a) Phân tích, đánh giá thực trạng
    b) Xác định mục đích và kế hoạch sắp tới
    c) Phối hợp và tư vấn cho khách hàng
    d) Tư vấn cho nhân viên về việc phục vụ và xác định nhu cầu của độc giả
    e) Đối với nội bộ, sẽ đại diện cho nhu cầu của trẻ khiếm thị
    f) Đối với bên ngoài, sẽ đại diện cho thư viện
    g) Tìm kiếm chọn lọc tài liệu
    h) Tập huấn nhân viên
    Bộ phận này cũng nên khuyến khích tổ chức công tác tư vấn và mạng lưới trong cộng đồng địa phương bằng cách triển khai và hướng dẫn nghiệp vụ thực hành.


    Back to Chapter index
    7.2.2. Chính sách

    Chương 3 của cẩm nang này đã trình bày các Đạo luật về Chống phân biệt đối xử Người khuyết tật và Đạo luật về Người khuyết tật và Nhu cầu giáo dục đặc biệt có tác động mạnh đến việc cung cấp dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. Phần III của Đạo luật đề cập cụ thể đến vấn đề trẻ em và phần IV trình bày yêu cầu đối với nhà tổ chức giáo dục. Phần 3.7.1 của cẩm nang này cho thấy cần có chính sách để điều chỉnh dịch vụ thực thi tốt các điều khoản mà đạo luật đã nhắc đến.

    Chính sách của tổ chức cũng chỉ định cần tính toán trước dịch vụ như dịch vụ trọn gói đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật. Đối tượng này phải được phục vụ miễn phí. Mặc dù dưới đây không phải là một danh mục đầy đủ, nhưng nó cũng giúp chỉ ra những gì cần thay đổi trong chính sách phục vụ trẻ em khuyết tật.

    a) Thư viện nên bỏ qua các loại phí xử phạt khi bạn đọc làm hư sách. Một số trẻ không kiểm soát hành động được nên chúng không thể giữ sách tốt được như các bạn bình thường.

    b) Thư viện không nên tính phí mượn về nhà các tài liệu băng truyện cassette đối với trẻ khiếm thị.

    c) Thư viện nên xem xét trường hợp ngoại lệ khi bị quá hạn trả sách. Trẻ khuyết tật thường có rất nhiều cuộc hẹn gặp các nhà chuyên môn chăm sóc các em nên không thể đến thư viện đều đặn như các trẻ khác. 

    d) Nếu thư viện in tài liệu trắng đen miễn phí thì cũng không nên tính phí khi in màu đối các em bị tật nhìn giấy in trắng đen không được rõ.

    e) Thư viện cho phép các em có thể sử dụng các ổ cắm điện dùng cho máy tính xách tay để có thể truy cập nguồn thông tin tư liệu từ bên ngoài. Mặc dù máy tính xách tay ít nhất cũng có thể chạy bằng pin khoảng 3 tiếng nhưng thư viện cũng nên cung cấp sẵn nguồn điện để bất cứ khi nào các em cần dùng đến.


    Back to Chapter index
    7.3. Đánh giá nhu cầu

    Một trong những thách thức lớn trong hoạt động phục vụ trẻ khiếm thị là phải nắm được nhu cầu của các em. Hồ sơ dân cư địa phương nên kèm cả thông tin về số trẻ khuyết tật, đối tượng nào, các em đang theo học trường hay bộ phận nào trong nhà trường. Thực hiện các cuộc khảo sát và nói chuyện với các em hỏi ý kiến của các bậc phụ huynh, người chăm sóc trẻ, cán bộ thư viện và các nhà chuyên môn để biết trẻ muốn và cần gì.


    Back to Chapter index
    7.3.1. Xây dựng và duy trì mối quan hệ

    Nên giữ liên lạc với các em đang học trường biệt lập và trường hòa nhập. Quan trọng là cần giữ liên lạc với các nhà chuyên môn làm việc với trẻ khiếm thị. Cơ cấu dịch vụ lưu động được thay đổi tùy theo nhà quản lý, nhưng tất cả các bộ phận giáo dục đều có nhân viên chịu trách nhiệm hỗ trợ các học sinh khiếm thị. Cũng nên nối kết với gia đình nếu họ sẵn lòng thảo luận về yêu cầu của họ. Một số dịch vụ lưu động cũng có các nhóm hoạt động cụ thể.

    Tổ chức dịch vụ thư viện trường học cũng nên liên lạc với dịch vụ giảng dạy lưu động và bất cứ trường hay bộ phận đặc biệt của trường trong địa phương.

    Thư viện nên xin các tổ chức tình nguyện trong địa bàn tư vấn như các tổ chức quốc gia như Look, Portage và R.N.I.B, có thể là những điểm khởi đầu để tìm ra nhu cầu của từng nhóm đối tượng. 


    Back to Chapter index
    7.3.2. Các phương pháp khảo sát

    Có nhiều cách khác nhau để thu thập thông tin, nên cân nhắc cách nào là thích hợp nhất tùy vào từng điều kiện và hoàn cảnh.

    Chọn một nhóm cụ thể có thể chứng minh được giá trị lớn. Tự các em có thể tham gia ngay từ đầu. Miễn là phải đảm bảo nhân viên diễn giải được nhu cầu tìm hiểu thông tin và giúp bọn trẻ nhận thấy được chúng có vai trò quan trọng trong cộng đồng.

    Việc tham quan các tổ chức tại địa phương và các trường học có thể có hai mục đích, đầu tiên là giúp nhân viên hiểu được phụ huynh và các em muốn gì và thứ hai là họ có thể quảng cáo các dịch vụ hiện có trong thư viện. Đôi khi vấn đề không phải là do thư viện không có các dịch vụ đó mà là vì cha mẹ các em không biết có các dịch vụ đó trong thư viện. 

    Khi lập kế hoạch tham quan, thư viện nên sắp xếp thăm viếng nhiều lần. Chuyện trò với nhau sẽ làm phá tan khoảng cách xa lạ ban đầu và bất cứ chuyến thăm nào bằng xe thư viện lưu động hay xe cổ động luôn được hoan nghênh

    Nhân viên thư viện chú ý đến văn hóa ứng xử khi đến thăm gia đình của trẻ hay các nhóm trẻ. Trong quyển “Birmingham: phát triển hiệu quả dịch vụ viếng thăm các gia đình Châu Á có trẻ khiếm thị trước tuổi đến trường”, Chris Fryer (Fryer, 2000) trình bày một số phép lịch sự giao tiếp cơ bản để thích ứng với cộng đồng người Châu Á.

    Các cuộc tham khảo ý kiến chính thức như dùng bảng hỏi đáp thì định rõ mục tiêu và mang tính định lượng rõ hơn, nhưng nhân viên cần thận trọng khi tiếp xúc với người lớn. Nếu nhân viên đang nói chuyện với trẻ thì có nghĩa là họ đang giao tiếp với diện người thiểu số, trẻ em và phụ huynh và họ được bảo hộ dưới Đạo luật Bảo vệ dữ liệu (Great Britain. Đạo luật, 1998). Quyển “Cẩm nang phục vụ trẻ em” (CIPFA, 1997) hướng dẫn rất rõ về cách thực hiện một cuộc phỏng vấn hay đặt câu hỏi cho trẻ. Việc thiết kế các câu hỏi cũng rất quan trọng và có thể kèm theo các trò chơi hay các hoạt động khuyến khích trẻ trả lời.

    Bất kỳ cuộc khảo sát hay tham khảo ý kiến trên bình diện tổng quan thì nên có ý kiến của trẻ khuyết tật.


    Back to Chapter index
    7.4. Hoạt động tăng cường và phát triển đọc

    Muốn tổ chức được hoạt động này một cách hòa nhập thì phải nắm được nhu cầu của trẻ khuyết tật. Khi lập kế hoạch, nhân viên cần chú ý:

    a) Khi đọc truyện thì cần giải thích thêm các hình minh họa

    b) Trẻ có thể tự do thoải mái đề nghị chọn chỗ ngồi để có thể nghe rõ nhất và cảm nhận trọn vẹn nhất

    c) Trẻ cần có thêm các trang thiết bị phụ để các em có thể tham gia chương trình hứng thú hơn. Ví dụ chúng có thể cầm trong tay quyển sách mà người kể đang sử dụng trong chương trình

    d) Cung cấp các bản in chữ lớn, lời hướng dẫn hoạt động. v.v. cho trẻ tiện theo dõi

    e) Sử dụng vật trang trí minh họa làm tăng thêm tính hấp dẫn cho giờ kể chuyện nếu trẻ khiếm thị được cầm trong tay các vật thể đó. Mặc dù không có một nguồn nào cung cấp đầy đủ mọi thứ cần thiết nhưng hình ảnh các nhân vật trong sách như thú nhồi bông thường có thể tìm được trong các câu lạc bộ sách và tại công ty Peters và L.F.C. L.F.C cũng có loại rối phát ra âm thanh có thể sử dụng minh họa trong giờ kể chuyện

    f) Bất cứ dịch vụ nào cũng phải nhớ đến nhu cầu của trẻ khiếm thị, kể cả các hình nổi hay những hỗ trợ cần thiết nếu được yêu cầu

    g) Bất cứ cuộc thử nghiệm hay thi cử nào cũng phải có phương tiện hỗ trợ đọc để thay thế

    h) Hoạt động vận động đọc sách như Bookstart nên được điều chỉnh để có thể thỏa mãn được nhu cầu của trẻ và phụ huynh trẻ khiếm thị. Ví dụ, nếu có sách chữ nổi hay thông tin được ghi âm cung cấp cho họ thì chương trình đạt hiệu quả hơn. Cần hỏi ý kiến các tổ chức y tế để đảm bảo là loại hình thông tin và sách sử dụng phù hợp với đối tượng tham gia chương trình.


    Back to Chapter index
    7.5. Câu lạc bộ hướng dẫn làm bài tập

    'Qui định thực hành của thư viện công cộng' (Botten và nh. ng. khác, 1999) đề cập đến việc hỗ trợ học tập cho trẻ khiếm thị một cách công bằng. Bất cứ cuộc tham khảo ý kiến nào về nhu cầu cần có câu lạc bộ hỗ trợ làm bài tập, khi nào nên tổ chức, sử dụng tài liệu và trang thiết bị nào thì cũng phải dựa trên ý kiến đóng góp của các em khiếm thị. Phải có địa chỉ liên lạc của các trường giáo dục biệt lập hay các bộ phận chuyên trách trong nhà trường để tham khảo ý kiến và vận động họ tham gia chương trình. 


    Back to Chapter index
    7.6. Quảng bá dịch vụ

    Chương 15 bàn về vấn đề quảng bá một cách chung chung nhưng một trong những biện pháp hiệu quả nhất để thúc đẩy dịch vụ cho trẻ khiếm thị là phải sử dụng các tổ chức trung gian làm cầu nối. Nên tham khảo phần “Đánh giá nhu cầu” (7.3) và liên lạc trực tiếp với thư viện địa phương hơn là chỉ lo in ấn tài liệu quảng cáo.


    Back to Chapter index
    7.7. Thiết kế và trưng bày trong thư viện

    Chương 12 đề cập đến cách thiết kế dịch vụ để đáp ứng nhu cầu chung của người khiếm thị nhưng cần có thêm yêu cầu riêng dành cho đối tượng nhỏ tuổi.

    Cần chú ý đến một số chướng ngại vật đối với trẻ khiếm thị và địa điểm bố trí các vật cản như ghế bành lớn hay thùng đựng đồ chơi. Cần phải chú ý tránh các góc cạnh nhọn nhất là các thùng đồ chơi.

    Trang trí trưng bày là một cách hiệu quả để tạo không khí thân thiện trong thư viện và quan trọng là khu vực trưng bày vừa đủ thấp để các em có thể với tới được. Các vật trang trí hình nổi phải đảm bảo an toàn, chẳng hạn không được cài kim gút!

    Tổ chức các giờ kể chuyện hay sinh hoạt tập thể thì nên tránh những khu vực ồn ào.

    Mặc dù cần chú trọng vào đặc điểm hòa nhập khi tổ chức dịch vụ cho các em nhưng cũng rất quan trọng tạo điều kiện cho trẻ tìm được những tài liệu mà chúng cần; sách chữ lớn và sách in rõ nét cần được xếp gần khu vực để băng đĩa.

    Nếu khu vực thiếu nhi cách xa khu vực người lớn thì phải trang bị thêm các thiết bị khác như máy CCTV.


    Back to Chapter index
    7.8. Tập huấn nhân viên

    Việc tập huấn nhân viên cần được tổ chức thường xuyên và nhân viên cần luôn tự tin là họ có thể sử dụng các trang thiết bị và đề nghị bổ sung tài liệu thích hợp cho trẻ. Cán bộ của Sở giáo dục hay tổ chức tình nguyện luôn sẵn lòng hỗ trợ những chương trình tập huấn này. Trung tâm tư vấn quốc gia cho trẻ có khuyết tật đọc (REACH) thường có các khóa đào tạo tại chức theo chuyên đề để bồi dưỡng kiến thức tổng quan hay dành riêng cho việc phục vụ người gặp khó khăn trong vấn đề học tập. Tập huấn cần chú ý các vấn đề liên quan đến trẻ em bao gồm các nội dung như: tập huấn nhận thức về các dạng khuyết tật, nhu cầu học tập và phát triển của trẻ, luật pháp, các tổ chức cần liên lạc, nhà cung ứng dịch vụ thư viện, cách chọn lựa tài liệu cho trẻ, trang thiết bị và kế hoạch phục vụ trẻ khuyết tật.


    Back to Chapter index
    7.9. Chính sách chọn tài liệu

    Chính sách chọn tài liệu phải có phần công bố rõ ràng về tiêu chuẩn phục vụ trẻ khiếm thị. Bất kỳ quyết định nào không có trong tiêu chuẩn thì phải dựa vào các điều khoản của các đạo luật DDA và SEND (Xem Chương 3 để biết thêm chi tiết).

    Nội dung của chính sách bổ sung tài liệu phải thể hiện được tính hòa nhập, tức là phải tính đến nhu cầu của trẻ khuyết tật, nên có tiểu mục riêng trong chính sách nhấn mạnh đến việc cung cấp các loại hình thông tin hay sách truyện mà trẻ khuyết tật sử dụng được.

    Nó phải xác định được:
    a)  Nơi bổ sung hay đăng ký sử dụng tài liệu
    b)  Mức độ tối thiểu mà dịch vụ phải có
    c)  Nơi lưu trữ tài liệu
    d)  Đối tượng được mượn tài liệu (ví dụ có phải mọi người đều được mượn sách cỡ lớn không?)


    Back to Chapter index
    7.9.1. Mục tiêu chọn tài liệu

    Cần hướng đến mọi thành phần bạn đọc để xác lập ra tiêu chuẩn phục vụ tài liệu trong thư viện. Phải xét đến nhu cầu của người khuyết tật. Các chuẩn phải dựa trên đặc điểm khu dân cư mà thư viện phục vụ. Các tiêu chuẩn hợp tác hay quản lý ở cấp trên phải linh hoạt để có thể triển khai được ở các cấp cơ sở khác nhau. Nhiều chuẩn không nhất thiết cần chỉnh sửa theo nhu cầu của trẻ khiếm thị, ví dụ độ tuổi đọc hay điều kiện kho sách. Tuy nhiên, khi xác định tỷ lệ nội dung kho sách, như chuẩn mượn trả hay phát hành cần được thay đổi, ví dụ cần có thêm sách chữ lớn, băng truyện, tài liệu có hai hình thức.

    Tiêu chuẩn phải dựa vào:

    • Thành phần độc giả
    • Tỷ lệ nội dung kho sách, tỷ lệ mượn trả
    • Tình trạng kho sách: năm xuất bản và chất lượng 

    Back to Chapter index
    7.10. Bổ sung tài liệu

    Mặc dù một số tài liệu bắt buộc phải có để đáp ứng nhu cầu trẻ khiếm thị thường được mua hay mượn từ các nhà cung ứng chuyên ngành, nhưng cũng có nhiều tài liệu dạng in ấn thông thường cũng rất có ích cho các em. Danh mục sách cần được cung cấp để giúp nhân viên giải quyết các yêu cầu mượn tài liệu.

    Có rất ít loại tài liệu ở dạng thay thế dành cho trẻ và vì thế cần chú ý tìm kiếm nhiều nguồn xuất bản khác nhau như sách chữ lớn hay băng truyện từ các nhà kinh doanh phát hành hay từ các cơ quan chuyên nghiệp trong nước. Hầu hết các nhà xuất bản và cung cấp dịch vụ này phục vụ cho cả người lớn và thiếu nhi; thông tin thêm về dịch vụ của họ có thể tham khảo ở Chương 8, 917.

    Danh mục và catalog sách của họ được Viện Nghiên cứu Người mù Hoàng gia (RNIB), Thư viện Quốc gia cho Người mù (NLB), Thư viện Băng Cassette CALIBRE và ClearVision ấn hành. Trang web của RNIB và NLB giới thiệu về vốn tài liệu và các dịch vụ thư viện. RNIB cũng xuất bản mục lục tài liệu cho thiếu nhi của một số tổ chức khác. Tiêu đề các danh mục như “Sách văn học thiếu nhi cho lứa tuổi từ 5 -7”, “Sách văn học thiếu nhi cho lứa tuổi từ 8-11”, “Mục lục sách văn học” và “Mục lục sách giáo khoa”. Trên trang web cũng có danh mục sách cho thanh thiếu niên. Tạp chí “Spotlight” phát miễn phí có danh muc giới thiệu tiểu thuyết và các dạng khác mới xuất bản. Họ cũng đang triển khai kế hoạch xuất bản một nhan đề tạp chí mới về vấn đề đọc và tài liệu cho thiếu nhi.

    Tất cả những tổ chức trên tham gia vào một dự án mới để xây dựng mục lục liên hợp quốc gia đối với tài liệu chuyển dạng và hình thành thủ tục mượn liên thư viện trên toàn quốc. Mục lục liên hợp quốc gia được xây dựng để có tất cả dữ liệu vốn tài liệu của các nhà xuất bản, kể cả trường biệt lập của trẻ khiếm thị (Xem chương 1011). 

    Thư mục “Fiction Café” của NLB, có thể tìm trên website của NLB tại địa chỉ www.nlbuk.org/fiction-cafe/index.html, là một công cụ mới để chọn tài liệu cho thiếu nhi và thủ thư. Đó là một cách đặt sách trực tuyến giúp trẻ tìm và chọn sách theo tâm trạng và chủ đề. CSDL hiện nay có trên 150 nhan đề, mỗi nhan đề có phần điểm sách giới thiệu nội dung. Cơ sở dữ liệu, bao gồm nhan đề tài liệu của NLB, CALIBRE và dịch vụ sách nói RNIB, tạo cơ hội cho trẻ khiếm thị tự lướt tìm sách theo yêu cầu của chúng.

    Trung tâm Tư vấn Quốc gia cho Thiếu nhi có khuyết tật về đọc (REACH) phát hành danh mục sách gồm 27 trang khổ A4 với tên gọi là “Điểm xuất phát”. Danh mục này gồm có tài liệu cho trẻ khiếm thị, sách có các nhân vật là người khuyết tật hay gặp khó khăn trong học tập và tài liệu chữ lớn cho các em. Chúng được phân phối với phí trả là 1 bảng Anh (nếu là thành viên thì chỉ trả 75 xu). “Mỗi em là một bạn đọc: cẩm nang giúp các em gặp khó khăn trong việc đọc” có một phần nói về trẻ bị mất thị lực. Danh mục thông báo tài liệu đầy đủ cũng được cung cấp nếu có yêu cầu. Trung tâm Nguồn lực của REACH có nhiều loại sách nổi và chữ lớn, băng truyện và phần mềm máy tính. Nếu có yêu cầu tham quan thì cần hẹn trước.

    Các danh mục khác thỉnh thoảng cũng có thể sử dụng nhưng khi sử dụng phải chú ý vì chúng có thể đã cũ và cán bộ thư viện cần nhớ bổ sung các nhan đề mới.

    Cán bộ thư viện nên sẵn lòng tư vấn cho các trường đặc biệt của trẻ khiếm thị cách chọn tài liệu thích hợp. Letterbox Library là một cửa hàng tổ chức dịch vụ đặt sách qua thư có những tài liệu nói về vấn đề phân biệt chủng tộc, giới tính và khuyết tật. Vì một số tài liệu có thể được nhập về nên cũng có thể tìm các sách mà không có ở cửa hàng này. Thành viên thì được miễn trả phí 5 bảng/ người và sách có thể chọn từ một tạp chí điểm sách được trình bày rất hấp dẫn.


    Back to Chapter index
    7.11. Chọn tài liệu thông thường cho trẻ khiếm thị

    RNIB xuất bản một tập hướng dẫn “Để đọc rõ hơn” (1999) rất có ích. Xuất bản phẩm này trình bày các đặc điểm của sách dễ tiếp cận hơn cho trẻ khiếm thị, như:

    a)    Chữ đen trên nền trắng, hay vàng kem sẽ tạo độ tương phản tốt
    b)    Chọn kiểu chữ đánh máy rõ trên nền tối
    c)    Nhiều em có thể đọc cỡ chữ 14 nhưng 18 thì còn tốt hơn nữa
    d)    Đậm đen, hay đậm vừa cho phép phản quang tốt
    e)    Tốt nhất là tránh loại chữ kiểu cọ
    f)     Chữ in hoa thì khó đọc hơn là chữ thường
    g)    Nền giấy xần xùi không láng bóng
    h)    Không nên chọn loại giấy trong suốt nhìn thấu được bên kia
    i)     Trình bày đơn giản và rõ ràng. Trong trường hợp sách thông tin, người đọc có thể theo dõi văn bản hợp lý bắt đầu từ góc bên trái phía trên
    j)     Minh họa đậm trên khu vực có nền màu tương phản tốt nhất
    k)    Đừng để chữ in trên nền minh họa rất khó theo dõi.


    Back to Chapter index
    7.12. Xây dựng hình ảnh tích cực

    Để trẻ nhìn thấy hình ảnh người khiếm thị trong sách là điều rất quan trọng và thủ thư phải vận động trẻ đọc những nhan đề loại này. Thủ thư phải biết loại sách nào thì thích hợp, ví dụ:

    a) Truyện tranh có hình trẻ mang kính như “Căn phòng của Rosie” của Mandy & Ness. Sách chỉ những ích lợi của việc mang kính như “Tất cả tốt hơn khi nhìn thấy bạn với…” của  M. Wild và “Vịt con và cặp kính tệ hại” của Amy Hest.

    b) Sách khoa học phổ thông trình bày cách trẻ tham gia các hoạt động thực nghiệm khoa học, chơi nhạc, tham gia trò chơi và những sinh hoạt hàng ngày mà tất cả mọi đứa trẻ đều trải qua.

    c) Walls xuất bản hai bộ “Bạn bè” và “Hãy làm đi”. Cả hai nhan đề này đều có ích cho cả trẻ bình thường hiểu được khuyết tật là gì, cách người khác giúp đỡ hay gây cản trở cho họ. Nhân vật chính trong truyện “Nhà vô địch Judo” của Eleanor Archer và “Đến trường” của D. Church là trẻ khiếm thị.

    d) Nên chọn mua các tiểu thuyết phiêu lưu với hình ảnh trẻ khiếm thị là nhân vật chính hay đóng vai trò là thành viên chứ không phải là nạn nhân của các tai nạn.

    Quyển “Chiếc sừng biết nói” của Berlie Doherty và “Trong bóng tối” của N. Wilde đã có từ lâu nhưng vẫn là những ví dụ rất thích hợp cho vấn đề này. “Mắt của Charlie” của Dorothy Horgan là những câu chuyện hài hước nói về những vấn đề khó khăn hay những ngộ nhận về trẻ khiếm thị.


    Back to Chapter index
    7.13. Sách có hình nổi

    Đây là loại hình rất phổ biến cho mọi lứa tuổi thiếu nhi và đặc biệt quan trọng đối với trẻ có thể phải chuyển qua đọc văn bản dưới dạng nổi. Sách phải có các chủ đề giúp trẻ liên tưởng đến thế giới động vật, các sinh hoạt hằng ngày như quần áo hay tiệc sinh nhật. Các hình nổi trong sách phải được thiết kế để tạo sự cảm nhận tương tự như các vật thật dựa trên hình dáng và đặc điểm cấu tạo của hiện vật. Nhà xuất bản thông thường cũng cung cấp sách có hình nổi và một số nơi có xu hướng xuất bản sách có hương thơm và âm thanh.

    Marion Ripley ở ClearVision cũng đã xuất bản quyển “Ngón tay vui”, “Chiếc ủng khổng lồ” hay “Charlis khó chịu” khuyến khích trẻ nhận dạng đồ vật bằng ngón tay của chúng. Tất cả những nhan đề trên hiện có bán tại RNIB. ClearVision có sách bản dày với các nhân vật trang trí nổi kèm với nhãn bằng chữ Braille và có kế hoạch xây dựng vốn tài liệu hình nổi. Dịch vụ bag Books của Chris Fuller cũng phục vụ những truyện hình nổi đặc biệt hữu ích cho các em bị đa khuyết tật. 


    Back to Chapter index
    7.14. Sách khổ lớn

    Cần có một cuộc thảo luận về ích lợi của loại sách này. Sách cỡ rất lớn và khoảng cách in làm cho trẻ có thị lực khác nhau rất khó sử dụng chung, vì thế trong một số trường hợp chúng không phải là giải pháp tốt. Do kích thước của chúng, bọn trẻ thấy sách quá cồng kềnh, đặc biệt là để mượn về và rất quan trọng là có thể được mượn chúng không, nếu có thì chọn loại bao bì nào để đựng sách mang về. Thư viện cũng có thể tận dụng các loại bao nhựa lớn như bao trùm các trang thiết bị. Để thuận tiện phục vụ cho các “Giờ sinh hoạt văn học” thì sách khổ lớn là một phiên bản hữu ích. 


    Back to Chapter index
    7.15. Băng truyện

    Hiện nay các nhà xuất bản thương mại đã cung cấp nhiều loại băng truyện. Nhà xuất bản Chilvers cũng cung cấp sách chữ lớn và băng cassette. Nên tìm mua các loại sách thu âm dạng đầy đủ. Mặc dù số lượng băng được phát hành ngày càng nhiều nhưng đa số là dành cho lứa tuổi thiếu nhi mà thiếu sách cho thanh thiếu niên. Tuy nhiên, băng sách thông tin khoa học vẫn còn thiếu nhiều và nếu có thì đa số về tiểu sử và lịch sử.

    Tính đến nay, Chilvers có hơn 500 nhan đề thu âm đầy đủ. Có rất ít tài liệu cho trẻ trước tuổi đến trường nhưng các tác giả viết cho đối tượng từ 7-13 tuổi thì trình bày rất tốt.

    BBC Cover to Cover sản xuất băng truyện thu trọn quyển. Họ có trên 100 nhan đề, trong đó có vài nhan đề dành cho thiếu nhi.

    Bags of Books có nhiều thể loại từ tiểu thuyết đến phi tiểu thuyết. Tài liệu có thể được mua qua mạng Internet và mục lục của họ có một số tài liệu thiếu nhi. Họ cũng có kịch, truyện cho thanh thiếu niên, đồng dao và bài hát

    Các tổ chức tình nguyện cũng quan tâm đến trẻ em, trong đó dịch vụ băng sách nói RNIB và băng casstte của CALIBRE có nhiều tài liệu sách nói cho các em.


    Back to Chapter index
    7.16. Băng hình có thuyết minh mô tả hình ảnh

    Nhan đề dành cho thiếu nhi không nhiều lắm nhưng một số nhan đề dành cho người lớn thì cũng rất có ích cho thanh thiếu niên đang học môn Văn học Anh, có thể mua từ RNIB.


    Back to Chapter index
    7.17. Sách chữ lớn

    Chivers là nhà cung cấp chính các loại sách chữ lớn dưới nhãn hiệu Nhà xuất bản Galaxy và họ có xấp xỉ khoảng 200 nhan đề

    Tháng 4 năm 2000, Ulverscroft tung ra bộ Quang phổ dành cho thanh thiếu niên. Các nhan đề gồm chủ đề tội phạm, lãng mạn, kinh dị và cả tiểu thuyết thông thường. Bộ sách này hiện nay đã ngưng phát hành, nhưng vẫn còn được lưu giữ. Họ cũng xuất bản băng sách nói rất hấp dẫn cho lứa tuổi này.

    RNIB sản xuất hàng loạt “Sách truy cập được” bán giá rẻ ở dạng in chữ lớn hay chữ đại

    Đáng tiếc là khả năng chọn mua tài liệu chữ lớn vẫn còn rất hạn chế, đa số là sách tiểu thuyết. Nhu cầu sách thông tin khoa học được in lớn chưa được đáp ứng và chưa được đưa vào mục lục GCSE.


    Back to Chapter index
    7.18. Tài liệu chữ Braille

    Theo “Văn học cho mọi người” của RNIB (1999), có khoảng 23.000 thanh thiếu niên dưới 19 tuổi bị khiếm thị và gần 1000 em sử dụng chữ Braille (chiếm 4,3%). Tuy nhiên, có một điểm quan trọng cần bàn đến là các em dùng chữ Braille địa phương. Thư viện có thể mua tài liệu chữ Braille từ Thư viện Quốc gia dành cho Người mù và Viện Nghiên cứu Người mù của Hoàng gia Anh  hoặc họ có thể tạo ra trung tâm hỗ trợ trẻ mượn tài liệu từ hai nơi đó. Thông tin về dịch vụ mượn liên thư viện trên toàn quốc được giới thiệu ở Chương 11

    Thư viện Quốc gia dành cho Người mù có vốn tài liệu chữ Braille rất lớn dành cho trẻ đã biết đọc. Vốn tài liệu cho thanh thiếu niên tại đây khá hay và cho mượn miễn phí. NLB còn cung cấp miễn phí danh mục sách cho thiếu nhi và thanh thiếu niên. Có thể tra cứu mục lục trực tuyến (www.nlbuk.org) và từ đó kết nối sang thư mục ‘Fiction Café’ (Xem 7.10). Các tạp chí “Let’s Read” và “Read New” của NLB phát hành củng thường bàn về việc đọc của trẻ. RNIB có nhiều sách chữ Braille bán giảm giá, đặc biệt là tài liệu học tập.

    Khi chọn tài liệu để mua, quan trọng là phải cân bằng giữa trình độ chữ Braille lớp 1 và lớp 2. Gần đây, trẻ được khuyến khích học chương trình Braille lớp 2 càng sớm càng tốt, nhưng hiện một số nhà chuyên môn cảm thấy rằng ít có lợi khi dùng chữ Braille nén(2), trong khi đó trẻ có thể tiến nhanh hơn với chương trình Braille 1. Tài liệu chữ Braille là phương tiện mang tin cồng kềnh, vì thế cần chú ý cách thức lưu trữ tài liệu.

    Back to Chapter index
    7.19. Tài liệu hình thức đôi

    Cả trẻ bình thường và trẻ đọc chữ Braille có thể dùng chung vốn tài liệu của ClearVision với hơn 11.000 bản và chúng thích hợp cho các em nhỏ lẫn cho người học đọc chữ Braille. Sách tranh thông thường của thiếu nhi được thiết kế riêng; phần chữ Braille trên loại giấy rõ hơn và xen kẽ là với loại giấy thường khác. Phần văn bản chữ Braille cũng có thể hỗ trợ cho việc đọc hình ảnh và chữ thông thường. Nguồn sách này rất có lợi cho phụ huynh cần đọc chữ Braille cũng như các em đang học chữ Braille. Có nhiều sách tranh của các tác giả viết sách thiếu nhi khá nổi tiếng. Còn có bộ sưu tập quan trọng cho loại khác tiểu thuyết để hỗ trợ cho việc đọc thông tin chuyên đề. ClearVision cũng có sách bìa dày có hình nổi giới thiệu chữ Braille cho trẻ bị khiếm thị làm quen ngay từ khi các em còn nhỏ.

    ClearVision còn sản xuất sách truyện ngắn bằng chữ Braille gửi kèm theo một bản in thường, ví dụ như “Banana Books”, “Prams” và “Superchamps”.

    ClearVision vừa mới bắt đầu tạo ra bộ sưu tập sách đơn giản in bằng chữ thường và chữ Moon

    Bộ sưu tập có cả sách của ClearVision, sách của NLB và còn có sách từ nhiều nguồn cung cấp khác. Thư viện công cộng trả 40 bảng hàng năm để đăng ký dịch vụ có thể mượn một lúc được 20 cuốn và có thể có 6 lượt mượn/năm.


    Back to Chapter index
    7.20. Tài liệu chữ Moon

    Đây là một cách đọc chữ nổi. Học nhanh hơn nhưng không phổ biến như chữ Braille. ClearVision cho mượn sách hai hình thức cho trẻ học Moon và NLB có 100 nhan đề sách thiếu nhi bằng chữ Moon cho mượn miễn phí.

    RNIB sản xuất mục lục sách chữ Moon bán giảm giá, hay có thể mượn từ trung tâm cho mượn liên thư viện tài liệu chuyển dạng


    Back to Chapter index
    7.21. Tài liệu điện tử

    Đây là phương tiện thông tin rất hữu ích hay cũng có thể coi là phương tiện giải trí khi trẻ có thể sử dụng máy tính. Có một số tính năng nâng cao trên Windows 95, 98, 2000 và XP. RNIB sản xuất phần mềm phóng đại màn hình và các bản hướng dẫn sử dụng công cụ điều chỉnh bằng những phần mềm thông thường. (Thông tin chi tiết trình bày ở Chương 13)

    Website www.sortit.org.uk là một địa chỉ rất có ích cho các em (tuổi từ 11-16) có vấn đề về thị lực cung cấp thông tin về hoạt động giải trí, chuyên đề, phỏng vấn hay thông báo.

    Chivers-Ramesis cung cấp hơn 400 phần mềm học tập và trò chơi cho các đối tượng từ 0-12 tuổi và hơn 100 nhan đề cho lứa tuổi từ 11-18 tuổi. Tất cả những tài liệu trên đều có thể mượn được.


    Back to Chapter index
    7.22. Thông tin cho phụ huynh

    Cũng cần chú ý dịch vụ cung cấp thông tin cho phụ huynh và những người chăm sóc trẻ. Có nhiều nhu cầu cần phải dựa vào sự tham khảo ý kiến tư vấn. Danh mục sách trọng tâm có thể bao gồm các thông tin sau:

    a)   tổ chức địa phương và quốc gia
    b)   địa chỉ website hữu ích
    c)   dịch vụ chăm sóc vào ngày nghỉ và lễ
    d)   những lợi ích
    e)   tổ chức giáo dục
    f)    những công trình nghiên cứu về người khiếm thị
    g)   thông tin về điều kiện y tế.
    Website, tờ rời và các tạp chí như “Khả năng thị lực” (RNIB) và “Nhìn” (Hiệp hội gia đình người khiếm thị quốc gia) thật sự là những nguồn thông tin có ích cho các đối tượng này. 


    Back to Chapter index
    7.23. Địa chỉ nhà cung ứng

    Bag Books

    Chris Fuller, 60 Walham Grove, London SW6 1QR
    Tel: 020 7385 4021 Fax: 020 7385 4021
    email: bagbooks@appleonline.net
    (Xuất bản sách truyện cho trẻ từ 3 tuổi trở lên và trẻ gặp khó khăn trong việc học, có sách bìa dày, hay tài liệu cảm ứng có tiếng động rất có lợi cho trẻ khiếm thị. Có 13 loại trọn gói khác nhau cho từng cá nhân hay tập thể nhóm hiện bán hạ giá)

     

    Bags of Books

    1 South Street, Lewes, East Sussex, BN7 2BT
    Tel: 01273 479320 Fax: 01273 478404
    email: bagsofbooks@bags-of-books.co.uk
    website: www.bags-of-books.co.uk

     

    BBC Cover to Cover Cassettes
    BBC Worldwide, Woodlands, 80, Wood Lane, London W12 0TT
    Tel: 020 8433 2200 Fax: 020 8749 0538
    email: sales@bbc.co.uk website: www.bbc.co.uk

     

    Calibre (Cassette library for the blind and print disabled)
    Aylesbury, Buckinghamshire, HP22 5XQ
    Tel: 01296 432339 Fax: 01296 392599
    email: enquiries@calibre.org.uk
    website: www.calibre.org.uk

     

    Chivers Press (BBC)
    Windsor Bridge Road, Bath BA2 3AX
    Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
    email: info@chivers.co.uk
    website www.chivers.co.uk
    (Cung cấp sách in lớn, băng cassettes và có một số mang hình thức cả hai phiên bản trong một gói)

     

    Chivers-Ramesis
    Windsor Bridge Road
    , Bath BA2 3AX

    Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
    email: info@chivers.co.uk
    website www.ramesis.com
    (cho mượn CD-ROM)

     

    ClearVision Project

    Linden Lodge School, 61 Princes Way, London SW 19 6JB
    Tel: 020 8789 9575
    email: info@clearvisionproject.org
    (Trên 1,500 nhan đề, kể cả sách nổi cho trẻ nhỏ, chủ yếu hướng vào đối tượng chưa đến trường hay tuổi cấp 1).

     

    Letterbox Library

    71-73 Allen Road, Stoke Newington, London N16 8RY
    Tel: 020 7503 4801 Fax: 020 7503 4800
    email: info@letterboxlibrary.com
    website: www.letterboxlibrary.com

     

    LFC Despatch Line

    Freepost ANG9675, PO Box 188, Hoddesdon,
    Hertfordshire EN11 0BR
    Tel: 0800 616621 Fax: 0800 616629
    email: projects@lfc-ltd.co.uk

    website: www.lfc-ltd.co.uk

     

    Look: Hiệp hội gia đình trẻ khiếm thị

    National Office, c/o Queen Alexandra College, 49 Court Oak Road, Birmingham B17 9TG
    Tel: 0121 428 5038 Fax: 0121 427 9800
    email: office@look-uk.org

    website: www.look-uk.org

     

    Hội Thiếu nhi mù

    NBCS House, Market Street, Highbridge, Somerset TA9 3BW
    Tel: 01278 764764 Fax: 01278 764790
    email: enquiries@nbcs.org.uk

    website: www.nbcs.org.uk

    (có dịch vụ thu âm, cung cấp cả sách chữ lớn và chữ đại có trên 100 nhan đề có tểh đặt hàng chỉ cung cấp lẻ cho cá nhân)

     

    Thư viện Quốc gia cho Người mù Far Cromwell Road, Bredbury, Stockport, SK6 2SG
    Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
    email: enquiries@nlbuk.org

    website: www.nlbuk.org

     

    National Portage Association

    PO Box 3075, Yeovil, Somerset BA21 3FB
    Tel/Fax: 01935 471641
    email: npa@portageuk.freeserve.co.uk

    website: www.portage.org.uk

     

    Peters Bookselling Services

    120 Bromsgrove Street, Birmingham B5 6RJ
    Tel: 0121 666 6646 Fax: 0121 666 7033
    email: sales@peters-books.co.uk

    website: www.peters-books.co.uk

    (nhà cung ứng đặc biệt dịch vụ thư viện thiếu nhi  )

     

    REACH: National Advice Centre for Children with Reading Difficulties
    California Country Park, Nine Mile Ride, Finchampstead,
    Berkshire RG40 4HT

    Tel: 0845 604 0414

    email: enquiries@reach-reading.demon.co.uk

    website: www.reach-reading.demon.co.uk

     

    Royal National Institute For the Blind (Customer Service),
    PO Box 173, Peterborough PE2 0WS
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    email: enquiries@rnib.org.uk

    website: www.rnib.org.uk

    (Có thể tải thông tin về các chương trình và tổ chức như ClearVision, Clearly a better read, Screen magnification systems, Technology in Learning and Employment and The National Literacy Strategy – Literacy for all).

     

    Ulverscroft Large Print Books Ltd.

    The Green, Bradgate Road, Anstey, Leicester LE7 7FU
    Tel: 0116 236 4325 Fax: 0116 234 0205
    email: sales@ulverscroft.co.uk
    website: www.ulverscroft.co.uk

     

    Các cơ quan tổ chức ở Việt Nam

    Có thể liên hệ một số đơn vị tổ chức sau để tìm tài liệu cho trẻ em mù và khiếm thị

     

    Hội người mù Việt Nam

    139 Nguyễn Thái Học Hà Nội

    Tel: 04-7333898/ 8452060

     

    Trường Nguyễn Đình Chiểu Tp.Hồ Chí Minh

    Địa chỉ: 184 Nguyễn Chí Thanh Phường 3,Quận 10, Tp.HCM

    Điện thoại: 08.8352959 - 8397470

     

    Thư viện sách nói. Hội Phụ nữ từ thiện Thành phố Hồ Chí Minh

    180 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q3,Tp.HCM

     

    Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh. Studio sản xuất sách nói kỹ thuật số.

    69 Lý Tự Trọng Q1. Tel: 08-8225055 / 8295632

    email: gsl.hcmc@hcm.vnn.vn

    website: www.gslhcm.org.vn

     

    Đài tiếng nói nhân dân Việt Nam

    58 Quán Sứ, Hà nội, Việt Nam

    website: www.vov.org.vn

    Âm nhạc, tư liệu lịch sử, văn học nghệ thuật, tạp chí văn học nghệ thuật, Tiếng thơ, Đọc truyện, Câu chuyện truyền thanh, Học tiếng Việt và chương trình phóng sự thu thanh

     

    Trung tâm dịch vụ đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

    9 Nguyễn Thị Minh Khai, Q1, Tp.HCM

    Tel: 08 – 9104 746   Fax: 08 – 9102 367

    website: www.htv.com.vn

     

    Nhà xuất bản trẻ

    161 Lý Chính Thắng Q3, Tp.HCM

    Tel: 08 – 9316 298 / 8437 450

    email: nxbtre@hcm.vnn.vn

    website: www.nxbtre.com.vn

     

    Nhà xuất bản Kim Đồng

    55 Quang Trung, Hà Nội

    Tel: 04 – 9434 703   Fax: 04 - 8229 085

    email: kimdong@hn.vnn.vn

    website: www.nxbkimdong.com.vn

     

    Nhà xuất bản giáo dục

    83 Trần Hưng Đạo, Hà Nội

    Tel: 04 – 8220 801   Fax: 04 - 9422 010

    email: nxbgd@hn.vnn.vn

    website: www.nxbgd.com.vn


    Back to Chapter index
    7.24. Tài liệu tham khảo

    Blanshard, C. (1998). Quản lý dịch vụ cho thiếu nhi và thanh thiếu niên: cẩm nang thực hành. Hội thư viện

     

    Cẩm nang cho lời khuyên rõ ràng và rất có ích cho việc lập kế hoạch dịch vụ chung cho thiếu nhi và đối tượng trẻ có nhu cầu đặc biệt 


    Botten T., và nh. ng. khác. (1999). Bí quyết thực hành cho các thư viện công cộng: hỗ trợ nghiên cứu. Trường đại học Strathclyde.


    Do Hội thư viện xuất bản và hiện có tại dịch vụ Thông tin, Viện Thông tin thư viện Chartered

    7 Ridgmount Street, London WC1A 7AE

     

    CIPFA. (1997). Cẩm nang phục vụ thiếu nhi: tiêu chuẩn quốc gia khảo sát thiếu nhi và thanh thiếu niên ở thư viện công cộng và cộng đồng. London: Trung tâm cải tiến và và nghiên cứu Thư viện/ Viện tài chính công (IFP).

     

    Fryer, C. (2000). Birmingham: phát triển dịch vụ giáo viên tổ chức đưa trẻ đến thăm các gia đình trẻ em khiếm thị người Châu á. Tạp chí Visibility số 28, Xuân 2000, tr. 8.

    Great Britain. Acts. (1998). Đạo luật Bảo vệ dữ liệu. Chương 29. Luân đôn: HMSO.

     

    www.legislation/hmso.gov.uk/acts/acts1998/19980029.htm
    Hướng dẫn thi hành đạo luật 

    www.dataprotection.gov.uk

    Royal National Institute for the Blind. (1999). Đọc rõ hơn. RNIB.

    Royal National Institute for the Blind. (1999). Văn học cho mọi người. RNIB.

    Royal National Institute for the Blind. (2000). Định hình cho tương lai. Kinh nghiệm của người mù và khiếm thị tại Anh quốc. Báo cáo tóm tắt. Tác giả Issy Cole-Hamilton and Dan Vale. Luân đôn: RNIB.

     

    Báo cáo này là một kết quả trong sáu cuộc khảo sát.

     

    1. Định hướng tương lai: phương pháp luận nghiên cứu và khảo sát.


    2. Kinh nghiệm giáo dục của người mù và khiếm thị từ 5-16 tuổi

    3. Kinh nghiệm giáo dục của người khiếm thị từ 16 đến 25 tuổi .


    4. Hoạt động giải trí và xã hội của trẻ và thanh thiếu niên mù và khiếm thị ở Anh từ 5 đến 25 tuổi

     

    5. Sức khoẻ và tài chính của trẻ và thanh thiếu niên mù và khiếm thị ở Anh từ 5 đến 25 tuổi.

     

    Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Người mù và khiếm thị ở Anh: khảo sát của RNIB. Luân đôn: RNIB. Chương  6, p. 65.

     


    Back to Chapter index
    7.25. Sách thiếu nhi

    Archer, Elanor. (March 2000).
    Judo champion: Ian is blind.
    Watts.

    Church, D. (March 2000).
    Going on a school trip:
    Georgia is blind. Watts.

    Doherty, Berlie. (1989).
    Spellhorn. Hamish Hamilton. Paperback edition 1990. Collins.

    Hest, Amy. (1996).
    Baby duck and the bad eyeglasses.
    Walker.

    Horgan, Dorothy. (1998).
    Charlie's eye. Puffin.

    Mandy and Ness. (1998).
    Rosie's room: a first book about sight. Little Hippo.

    Wild, Margaret. (1999).
    All the better to see you with. Allen and Unwin. Ragged bear series.

    Wild, Nicholas. (1987).
    Into the dark. Collins.


    Back to Chapter index
    8.1.1. Hiện trạng

    Đối với người mù và mất thị lực, vấn đề khó khăn là phải tìm được hình thức tài liệu thay thế nào cho tài liệu in để làm phương tiện xóa được khoảng cách giao tiếp thông tin của họ. Hình thức phổ biến hiện nay là tài liệu chữ lớn, sách nói, tài liệu nổi (Braille và Moon) và văn bản điện tử. Một số ít người sử dụng chữ Braille nhưng đó không phải là hình thức hiệu quả nhất để thay thế tài liệu in thông thường. Văn bản điện tử ngày càng nhanh chóng bộc lộ tính năng động nhờ khả năng chuyển đổi bản điện tử thành nhiều hình thức thay thế khác. 

    Do cộng đồng sử dụng tương đối ít và chi phí sản xuất cao, tài liệu thay thế đã từ lâu lệ thuộc vào khả năng của tổ chức hay cá nhân tình nguyện. Điều này dẫn đến việc hình thành các tổ chức quốc gia tập trung hóa công tác sản xuất và xử lý như Dịch vụ sách nói R.N.I.B, Thư viện sách Braille NLB và một số các cơ quan tình nguyện trong địa phương hay khu vực. Những dịch vụ cấp quốc gia này thường cho sản phẩm chất lượng, phát triển tốt và là nguồn cung cấp tài liệu và thông tin chủ lực cho người mù và khiếm thị.

    Băng cassette và sách chữ lớn thường là hai thế mạnh của thị trường kinh doanh xuất bản sách phổ thông và giải trí. Điều này buộc các thư viện chú ý đến công tác phát triển dịch vụ của họ lưu ý nhiều hơn đến thành phần người khiếm thị và khuyết tật.

    Tài liệu chuyển dạng, đặc biệt trên thị trường kinh doanh, chủ yếu là tài liệu phổ thông cho cả dạng tiểu thuyết và khác tiểu thuyết, đặc biệt là loại sách tiểu sử nhân vật. Dạng băng đĩa thu âm có nội dung bị rút gọn và được xuất bản chậm hơn nhiều so với tài liệu in thông thường. Chỉ có một số ít tài liệu được làm cho đọc giả theo yêu cầu riêng của họ.


    Back to Chapter index
    8.1.2. Mở rộng khả năng chọn lựa

    Báo cáo của Công ty Thông tin Kế hoạch Đầu tư (C.P.I, 2000) bàn về vấn đề “Hợp tác chọn lựa tài liệu để chuyển dạng” và nhu cầu cần tài liệu dưới nhiều hình thức thay thế khác nhau. “Nhìn chung, sự thiếu hụt tài liệu ngày càng trở nên là một thách thức lớn, tài liệu xuất bản kể cả loại tiểu thuyết và phi tiểu thuyết cho người lớn ở mọi hình thức đều không đủ…” Thị trường lớn nhất hiện nay là sách chữ lớn nhưng thiếu hụt tài liệu phục vụ cho thiếu niên và sách phi tiểu thuyết cho người lớn. Hiện tại không có nhà cung ứng nào xuất bản sách cỡ chữ 24 cho các em ở lứa tuổi thiếu niên bị khiếm thị. Tài liệu chữ lớn không được hưởng lợi ích từ dịch vụ bưu kiện miễn phí theo GPO quy định, đã ảnh hưởng rất lớn đến phần đông những người khiếm thị muốn sử dụng loại tài liệu này...

    “Khuynh hướng đọc hiện nay của bạn đọc lớn tuổi là các loại sách bán chạy và sách nói về các vấn đề trong cuộc sống,…” Sự phát triển của U3A và các chủ trương học tập suốt đời đã nói các mối quan tâm mở rộng của người cao tuổi, nhưng không được phản hồi từ thị trường sách chữ lớn.”

    Cho đến gần đây với những ý kiến đóng góp giữa các cơ quan tình nguyện khác nhau về việc đảm bảo đầu sách bao quát các chủ đề. Một số tựa sách chỉ xuất hiện ở một loại chuyển dạng trong khi đó có một số được chuyển sang nhiều hình thức khác nhau. Gần đây R.N.I.B và NLB đã hợp tác sản xuất sách để tránh sự trùng lặp và bổ sung thêm nguồn lực bị hạn chế trên thị trường này. Cũng có một số ít đạt được thỏa thuận giữa nhà xuất bản, thư viện và người sử dụng. Các nhà kinh doanh sách, vì họ là nhà thương mại, nên chỉ cho ra các nhan đề chuyển dạng mà phải đảm bảo là bán được. Ước tính tại Anh quốc hàng năm chỉ có từ 3 đến 5% là tài liệu thay thế trong hơn 100.000 nhan đề xuất bản. Năm 1998, có khoảng 103.000 nhan đề mới được xuất bản trong đó có 2.000 tài liệu chữ lớn và 4.500 sách nói.


    Back to Chapter index
    8.2.1. Nhu cầu người đọc

    Thư viện phải tổ chức để giải quyết một cách hiệu quả việc cung cấp các dịch vụ đọc và thông tin ở hình thức thay thế và điện tử cho người khiếm thị

    Phải coi việc cung cấp khả năng truy cập dịch vụ như trên là nhiệm vụ trọng tâm chứ không phải thứ yếu. Trong bản báo cáo dự án Reviel (Brophy và Craven, 1999) có đoạn trình bày “theo mong đợi của độc giả, việc xác định đơn giản chỉ là tìm được bất cứ tài liệu nào về chủ đề đó” mà còn cả khả năng định ra được đặc điểm nội dung; trong một số trường hợp, hình thức cũng là yếu tố rất quan trọng phải xem xét. Một độc giả có thể muốn có sách, nhưng là sách chữ lớn, sách có tranh minh họa, băng cassette, chữ Braille, chữ Moon, bản điện tử có thể dùng máy tính để đọc (dưới nhiều hình thức khác nhau), bản điện tử đọc bằng thiết bị chuyên dụng và có thể in ra chữ Braille, hình thức đặc biệt nào đó đọc bằng máy chuyên dụng. Một thư viện cần có khả năng giải quyết các yêu cầu trên bằng cách trình bày đầy đủ các đặc điểm và đáp ứng tùy theo từng yêu cầu” Hơn nữa thông tin giống nhau có thể trình bày bằng nhiều hình thức khác nhau, điều kiện và chi phí thực hiện cũng khác nhau.

    Nhân viên thư viện phải được trang bị kiến thức về xây dựng vốn tài liệu mà từng thành phần độc giả muốn có và thích đọc ở dạng nào. Có khi cùng một người có nhu cầu đọc, nhưng khi học thì thích sử dụng loại này, khi nghe để giải trí thì lại thích dùng một hình thức tài liệu chuyển dạng khác.

    Với người đang học, tốc độ truy cập là yêu cầu quan trọng nhất. Cung cấp một văn bản dạng thay thế để có thể giúp họ hoàn thành bài tập đúng theo hạn quy định thì đã có thể tạo ra sự khác biệt rất lớn trong nhận xét đánh giả của độc giả.

    Hai cuộc khảo sát gần đây cung cấp các bằng chứng có giá trị về nhu cầu của bạn đọc khiếm thị. Khảo sát “Khả năng truy cập văn bản” của RNIB (Bruce và Baker, 2001) phân tích trên mẫu khảo sát 1.000 người khiếm thị; và kết quả phân tích khảo sát của LISU (Davies và nh. ng. khác, 2001) thảo luận về sở thích đọc và quan điểm của họ về dịch vụ thư viện.

    Người vừa điếc vừa mù có nhiều nhu cầu rất riêng biệt. Có thể tham khảo “Sách trợ giúp người vừa mù vừa điếc” (White, 2001) về cách thực hành hỗ trợ khả năng truy cập thông tin của họ.


    Back to Chapter index
    8.2.2. Chính sách bổ sung

    Dịch vụ thư viện cần xây dựng chính sách bổ sung và trong đó phải tính đến nhu cầu của người khiếm thị. Một cuộc khảo sát gần đây của L.I.S.U (Kinnell và nh. ng. khác, 2000) nhận ra các khoản bị thiếu hụt trong chính sách và trong việc quản lý thông tin lập kế hoạch xây dựng vốn tài liệu. Đối với thư viện công cộng báo cáo khảo sát đề nghị nên đưa chính sách bổ sung có mục tiêu rõ ràng vào kế hoạch hàng năm và dữ liệu C.I.P.F.A thể hiện được thông tin tài liệu thay thế tính cả nhan đề báo nói và chữ lớn.

    Chính sách bổ sung sẽ phải kể đến nhu cầu tài liệu thay thế dựa vào ý kiến tham khảo từ bạn đọc và của những độc giả tương lai, về việc sử dụng tài liệu và những hạn chế của dịch vụ, kể cả phần dự báo nhu cầu tương lai. Trong khi xây dựng ý kiến đóng góp cho chính sách, không phải là người khiếm thị sẽ luôn quả quyết về nhu cầu của mình.

    Chính sách bổ sung nên trình bày được ý định phục vụ cho nhu cầu cần sử dụng tài liệu thay thế và cách thức để đạt được điều đó. Không có hiệu quả nếu tất cả các thư viện đều lưu trữ nhiều tài liệu dưới nhiều hình thức chuyển dạng, vì thế quyết định bổ sung loại hình thức tài liệu nào cần được đưa ra để xem cái nào nên mua để lưu trữ dài hạn, hay cái nào thì tốt nhất là đăng ký sử dụng qua các tổ chức quốc gia và cái nào thì có thể đặt chuyển dạng theo yêu cầu (cho dù dịch vụ này lưu hành nội bộ hay theo hợp đồng với các tổ chức địa phương và trong khu vực). Một số yêu cầu cá nhân hiện nay cũng được giải quyết qua hệ thống mượn liên thư viện. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng và nhu cầu sẽ xác định tỷ lệ phân bổ kinh phí bổ sung. Như các khoản tài liệu khác, các mục tiêu xác định phải tính đến tỷ lệ vốn tài liệu, tỷ lệ lượt phục vụ tài liệu, điều kiện, tuổi thọ và chất lượng tài liệu. Phải có phần tham khảo số liệu vốn tài liệu, đơn vị trùng bản và số lượt phục vụ. 

    Sự cân bằng về vốn tài liệu, chọn hình thức đăng ký mua hay sử dụng dịch vụ chuyển dạng rõ ràng tùy thuộc vào loại hình tài liệu và nhu cầu của địa phương. Tuy nhiên, nguyên tắc cơ bản nhất là chính sách tài liệu nên nhắm đến tính thống nhất đồng bộ cho độc giả. R.N.I.B và NLB đang làm việc với nhau để cùng cải thiện dịch vụ của họ, đặc biệt là tìm cách phối hợp với các thư viện và tổ chức thành nhiều mô hình dịch vụ mới.

    Chính sách bổ sung cũng cần phải đánh giá chỉnh sửa theo định kỳ, phải tính đến các hình thức tài liệu mới, đặc biệt là sách nói kỹ thuật số và văn bản điện tử.


    Back to Chapter index
    8.2.3.1.

    Chọn lựa tài liệu cần tính đến thành phần độc giả từ thiếu nhi, thiếu niên, người cao tuổi, sinh viên hay học viên lớn tuổi, với sự khác nhau về sở thích, mối quan tâm và nhu cầu đọc cũng như yêu cầu về hình thức tài liệu cũng khác nhau. Sự có mặt kịp thời của thông tin tài liệu sẽ là điều rất quan trọng cho người sử dụng, cho dù đó chỉ là nhu cầu đọc nhật báo trong ngày ở dạng thay thế hay để giúp độc giả chuẩn bị kịp cho bài kiểm tra. Quá trình chọn và mua sẽ được yêu cầu đảm bảo cho những nhu cầu loại này. Ví dụ, các thư viện trường đại học thì cần có thêm thông tin về nội dung chương trình giảng dạy, danh mục tài liệu đọc tham khảo để dự báo nhu cầu đọc.

    Một trong số các vấn đề khó khăn là thư viện ít có cơ hội tìm được tài liệu thay thế trước khi đặt mua. Ulverscroft và Magna có phòng trưng bày ở Anstey (Leicester), Consett (Co. Durham), Glasgow, Llandrindod Wells, London, Long Preston, Padstow (Cornwall) nhưng không phải lúc nào cũng thuận tiện cho cán bộ thư viện đến xem thường xuyên. Có thể chọn tài liệu từ danh mục quảng cáo


    Back to Chapter index
    8.2.3.2. Hợp tác bổ sung

    Hiện nay, việc bổ sung tài liệu bị hạn chế rất lớn do có quá ít nhan đề để chọn lựa. Hoạt động cần mở rộng tìm kiếm tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau bất cứ ở đâu có thể có và có nơi đã tiến hành được công tác bổ sung tài liệu theo thức hợp tác chia sẻ của hiệp hội

    "Xu hướng hợp tác bổ sung của các thư viện đã làm thay đổi hẳn định hướng của thị trường xuất bản sách chữ lớn và sách nói, nhu cầu đọc càng lớn thì tính cạnh tranh càng cao. Sách chữ lớn bìa dày kiểu cũ bộc lộ cho độc giả biết đây là sách chủ yếu dành cho người già và những người không thể đến thư viện do bệnh hay tàn tật. Thế hệ mới những người sử dụng tài liệu chữ lớn sẽ đòi hỏi nhiều sách có nội dung thu hút hơn, thiết kế đẹp hơn và có chủ đề đa dạng hơn” (Henderson, 2000).

    Trong một số trường hợp, có thể có những hợp đồng bổ sung nhằm mở ra một phong trào tăng cường đọc, ví dụ chương trình Well Worth Reading. Đó là một cách để mở rộng phạm vi nội dung tài liệu.

    Hợp tác bổ sung tài liệu chuyển dạng cũng là một trong nhiều cách chọn lựa được đề xuất trong báo cáo C.P.I (2000). Các thư viện cam kết đồng ý mua chung một số nhan đề và có cơ chế để đảm bảo chi phí sản xuất chuyển dạng. Còn có nhiều lợi ích khác nhờ vào sự hợp tác giữa các thư viện trong vùng hay khu vực. Thỏa thuận cách thức mua và sử dụng, ví dụ loại tài liệu và nhu cầu đọc của độc giả, hợp tác phân phối dịch vụ chuyển dạng đến nơi có yêu cầu có thể mang đến hiệu quả đầu tư cao hơn là so với việc từng nơi tự mua riêng lẻ.


    Back to Chapter index
    8.2.3.3. Dịch vụ trong thư viện

    Thư viện nên kết hợp giữa yêu cầu tài liệu với nhu cầu của người khiếm thị. Nhóm Bổ sung nguồn lực Quốc gia để đạt được những chuẩn tối thiểu về bảo quản trong thư viện, sẽ có ích nếu được mở rộng cho cả nhu cầu của người khiếm thị. Những nhãn gáy nên được in cỡ chữ 14 đậm kiểu không chân và nhãn ghi ngày thì chừa đủ chỗ để đóng dấu cũng với kích cỡ tương tự. Địa chỉ, số điện thoại hoặc các thông tin khác trên nhãn ngày nên theo chỉ dẫn trong quyển “Hướng dẫn in rõ” của RNIB. Băng cassette nên có nhãn in chữ lớn và rõ hoặc nhãn nổi có số thứ tự của mỗi băng trong một bộ sách.


    Back to Chapter index
    8.2.4.1.

    Đối với thư viện công cộng phải dành một tỉ lệ cụ thể trong kinh phí để bổ sung tài liệu ở dạng thay thế. Khoản này được quy định dựa vào việc đánh giá nhu cầu của độc giả hiện tại, tương lai và dạng tài liệu được yêu cầu. Kinh phí nên tính đến các khoản như chi phí mua tài liệu, chi phí đăng ký sử dụng các tài liệu chuyên biệt của tổ chức dịch vụ như R.N.I.B, chi phí yêu cầu mượn liên thư viện và chuyển dạng tài liệu.

    Truy cập vào tài liệu chuyên dụng như sách nói của R.N.I.B, trong một số trường hợp, thường bị ngăn chặn do thiếu kinh phí, trì hoãn có chủ ý, hay do bám theo chỉ tiêu kế hoạch đặt sẵn trong nội bộ. Những điều khoản của DDA đã buộc các vấn đề này phải được thi hành và cũng là dịp cho dịch vụ thư viện phải xem xét lại nhu cầu tăng cường khả năng truy cập và tài trợ đăng ký sử dụng dịch vụ, với sự góp ý của các đồng nghiệp tại các cơ quan dịch vụ xã hội. Nó cũng đề nghị thư viện phải có trách nhiệm quản lý ngân sách và đăng ký sử dụng (những nơi chưa thực hiện việc này) để dịch vụ cho người khiếm thị hòa nhập với dịch vụ chung của thư viện. Cũng có thể thương lượng hợp đồng dịch vụ với R.N.I.B để đăng ký cung cấp độc giả dịch vụ trọn gói sử dụng tại chỗ.

    Lúc nào có thể, kinh phí phải luôn tính đến việc phân phối tài liệu chuyển dạng. Có cả phần dịch vụ chuyển tài liệu qua đường bưu điện và đến tận nhà. Và cho mượn trang thiết bị chuyên dụng để đọc. Cũng cần một khoản kinh phí để biên mục và làm danh mục các tài liệu thay thế.


    Back to Chapter index
    8.2.4.2.

    Ở các thư viện trường đại học, nhu cầu gần như thay đổi hàng năm, phụ thuộc vào đầu vào của sinh viên và nhu cầu chuyển dạng tài liệu theo yêu cầu ngày càng nhiều hơn. Nên đánh giá yêu cầu sử dụng kinh phí cho số sinh viên bị khiếm thị hay đa khuyết, các lớp có những sinh viên này đăng ký học thì có nhu cầu sử dụng trang thiết bị, hỗ trợ cá nhân cũng như cần đến tài liệu thay thế. Vì thế cần có chương trình lập kế hoạch phân bổ kinh phí trong xây dựng vốn tài liệu là rất quan trọng.


    Back to Chapter index
    8.3. Tài liệu chữ lớn

    Một khảo sát của R.N.I.B (Bruce và nh. ng. khác, 1991) cho biết trong khoảng 1.7 triệu người khiếm thị ở Anh quốc, có khoảng 36% người mù và 75% trong số đó có thể đọc chữ lớn rõ ở một mức độ chừng mực nào đó. "Mặc dù kết quả của các nghiên cứu không phải bao giờ cũng bao quát hết được, dường như vẫn còn nghi ngại chút ít về việc người khiếm thị đọc nhiều và nhìn chung là tài liệu không đáp ứng được nhu cầu của họ” Mặc dù người bị giảm thị lực nhiều sẽ có thể đọc chữ lớn khó khăn, phải dùng các thiết bị trợ thị, có khoảng 23% biết sử dụng công cụ đó để đọc thêm sách giải trí (Bruce và nh. ng. khác, 1991).

    Chữ lớn đặc biệt quan trọng cho độc giả hiện tại bị giảm thị lực và cũng dùng được các tài liệu in ấn. Với những người chưa sử dụng thư viện, nó cũng là động cơ khuyến khích họ trở thành độc giả. Chữ lớn cũng cho hình thức chuyển dạng đối với người bị, đang bị giảm thị lực giúp họ có thể kéo dài được thời gian đọc cho đến khi thích nghi với việc sử dụng tài liệu chuyển dạng.

    Trong một số trường hợp, chữ lớn dùng kèm theo với tài liệu nói như kèm với phần mềm đọc màn hình. Vì thế chữ lớn cũng đóng vai trò quan trọng trong mọi phương diện của dịch vụ thư viện như cung cấp tài liệu đọc, hướng dẫn dịch vụ và các bảng biểu chỉ dẫn. 


    Back to Chapter index
    8.3.1. Đặc điểm của tài liệu chữ lớn

    Về kỹ thuật in mà nói thì chữ lớn được phân biệt dựa vào kích cỡ chữ là chủ yếu. Nhưng xét đến phương tiện phục vụ người khiếm thị thì còn có một số yếu tố khác phải nói đến như phải đảm bảo chữ dễ đọc và rõ ràng. Những yêu cầu này gồm độ dày, độ nét của các ký tự, khoảng cách giữa các ký tự, khoảng cách giữa các dòng và độ tương phản giữa chữ in và nền.

    Theo quy định chung, R.N.I.B đề nghị dùng kiểu chữ không chân (Arial, Univers or Helvetica) với độ nét vừa hay đậm. Cỡ chữ nhỏ nhất là 14. Thay đổi độ tương phản trên nền nhám và nên chọn chữ đen trên nền trắng hay vàng. Cần nhớ kỹ là còn tùy thuộc vào độ thị lực của cá nhân người khiếm thị mà cỡ chữ, nét chữ của tài liệu chữ lớn nói riêng và tài liệu bất kỳ nào khác cũng vì thế mà cần thay đổi. Ví dụ một số người thích dùng chữ có chân hơn là không chân hay ở một cỡ chữ nào đó. Vì thế quan trọng là cần nhận ra sở thích cá nhân của người đọc khi cần thì nên chỉnh sửa cho từng trường hợp cụ thể.


    Back to Chapter index
    8.3.2. Chữ phóng to

    Cần phân biệt giữa chữ lớn và chữ phóng to. Làm lớn chữ in bằng cách phóng to vẫn giữ lại được những đặc tính của tài liệu gốc mà nó không cần thiết phải đáp ứng được những đặc tính đọc rõ của chữ lớn. Mặc dù mở thêm khả năng truy cập vào các văn bản mà tưởng chừng như không thể nào phục vụ được người khiếm thị nhưng đó không phải là cách mà phù hợp được hết tất cả độc giả đọc chữ.


    Back to Chapter index
    8.3.3. Chữ lớn xử lý số bằng điện tử

    Việc sản xuất chữ lớn và chữ phóng to qua việc sử dụng các trang thiết bị như máy photocopy phóng to, CCTV và hệ thống máy tính hóa mở rộng khả năng đọc và cung cấp lượng thông tin đáng kể mà nếu không chỉ còn cách là đọc chữ in thông thường. Mặc dù có những hạn chế do luật bản quyền hiện tại còn gây nhiều khó khăn, nó cũng đã mở ra một khả năng lựa chọn khác cho sinh viên nếu cần sẽ có thể yêu cầu văn bản cho bài học theo đúng thời gian làm bài. 

    Hệ thống máy tính hóa có thêm những thuận tiện cho phép đạt được những chuẩn đọc rõ chấp nhận được nhờ vào việc điều chỉnh cỡ chữ và sử dụng máy in laser chất lượng cao. Dùng máy quét cũng tạo cơ hội cho bản sao còn đẹp hơn cả bản gốc. Thiết bị đầu ra là máy in hay màn hình có thể cũng được điều chỉnh theo sở thích cá nhân như co chữ hay màu nền.


    Back to Chapter index
    8.3.4. Sách chữ lớn

    Đây là nguồn tiêu biểu để đọc sách nói chung và mục đích giải trí mà hầu hết là do giới xuất bản thương mại sản xuất. Tuy vậy, số nhan đề được xuất bản hàng năm là 2000, thì quá ít nếu so với tổng đầu sách in thông thường hàng năm được xuất bản. Số lượng nhan đề cũng bị thu hẹp, chủ yếu là chọn những sách tiểu thuyết hay khác tiểu thuyết phổ biến mà bị cho là mang tính thương mại, không có một biểu hiện đáp ứng nhu cầu người thiểu số. Cỡ chữ tài liệu thường dao động từ 16 đến 20.


    Back to Chapter index
    8.3.4.1. Sách in chữ lớn và chữ đại

    Từ năm 1999 đến 2001, RNIB đã sản xuất một số ít nhan đề cổ điển loại giấy thường (Dự án sách truy cập được) ở dạng chữ đại đến cỡ 24. Bộ sách này có một số nhan đề cho thiếu nhi. Do kích cỡ, nên trên một dòng có rất ít chữ vì thế sách trở nên cồng kềnh và rất lớn. Mỗi tháng chỉ có hai hoặc ba nhan đề được sản xuất. Mặc dù việc sản xuất bộ sách này hiện đã bị ngưng lại, RNIB vẫn còn các đầu sách loại này có thể đăng ký mua được.


    Back to Chapter index
    8.3.4.2.

    Thư viện công cộng là nơi chủ lực nhất mua loại sách chữ lớn. Nó không thường có ở các nhà sách và có rất ít nơi có ngoại trừ ở một số hội người mù hay cơ quan tương tự lớn hơn.

    Do phạm vi sử dụng hạn chế nên số lượng và chất lượng có giới hạn và thư viện có trách nhiệm lớn để đảm bảo việc có mặt đầy đủ của sách loại này trong kho của mình và phân bố đến các điểm dịch vụ.

    Cũng có khi cán bộ thư viện chủ động nỗ lực vận động thu hút bạn đọc dùng sách chữ lớn để mở rộng thị phần dùng loại này. Với nhiều người trẻ tuổi, có nhu cầu tiềm tàng là sách giáo khoa cũng như sách thiếu nhi ở nhiều thể loại. 

    Nhiều thủ thư bày tỏ thiện chí làm việc này trong khu vực họ quản lý trong các chương trình mục tiêu của khu vực hay quốc gia. Ví dụ như:

    a)  tổ chức nhóm khuyến khích đọc
    b)  điều tra lại nhu cầu của nhóm người thiểu số và chọn tiêu biểu các nhan đề tài liệu của người thiểu số
    c)  tìm cách tăng thêm số nhan đề nếu được
    d)  làm việc với nhà xuất bản để vận động việc sản xuất sách chữ lớn.


    Back to Chapter index
    8.3.5. Báo tạp chí

    Có một số nhan đề báo và tạp chí được sản xuất dạng chữ lớn nhưng rất ít ỏi chủ yếu là tài liệu chuyên đề dành cho người khuyết tật làm ra.

    'Big Print' là nhan đề báo tuần duy nhất ở Anh dạng chữ lớn. Cỡ chữ gấp đôi bình thường, chủ đề tổng hợp kể cả tin quốc tế và trong nước do các cơ quan báo chí, chuyên mục thể thao, tin tức của truyền hình hay phát thanh cung cấp.  


    Back to Chapter index
    8.3.6. Thông tin khách hàng

    Những năm gần đây, với hiệu lực của DDA, thị trường có xu hướng tăng thêm số các nhà sản xuất thông tin bắt đầu chế bản thông tin người tiêu dùng ở dạng thay thế là dạng chữ lớn hay kiểu khác, để tạo thêm sự chọn lựa bên cạnh dạng in thông thường nếu có yêu cầu .

    Một vài tổ chức chính phủ như Cơ quan phúc lợi xã hội, Văn phòng thông tin trung tâm, như thường lệ tất nhiên cũng xuất bản thông tin của họ bằng dạng chữ lớn (và cả bằng một số thứ tiếng dân tộc chính khác).

    Điều quan trọng là thông tin thư viện được các phòng ban tổ chức địa phương và tổ chức giáo dục xuất bản phải được yêu cầu xuất bản ở dạng thay thế. Nếu được thì phát hành ấn bản trong địa bàn hay các cơ quan trường học.


    Back to Chapter index
    8.4.1. Băng cassette

    Với những người không còn nhìn thấy hay chỉ còn chút ít thị lực, băng cassette là vật mang tin thông dụng nhất để đọc và lấy thông tin. Vì thế cách này mở rộng cho nhiều người tiếp cận thông tin và tài liệu và nhất là người mà không thể thấy hay đọc chữ Braille hay chữ lớn khó khăn.

    Cũng như đối với người khiếm thị, dạng này còn được sử dụng đối với bất cứ người nào bị mắc chứng đọc chữ in khó khăn như chứng dyslexic, hay họ không cầm sách được hay không lật trang được, v.v. Một số trường hợp, ví dụ như người bị thêm nhiều khuyết tật khác, họ khó có thể nhận biết ra giọng nói. Điều này thấy ở người chậm hiểu hay thiểu năng học hay chứng lãng tai. Đối với loại sau, vì chứng khiếm thị gắn liền với tỷ lệ cao tuổi, nên chắc chắn sẽ là một phần khách hàng đáng kể nữa.  


    Back to Chapter index
    8.4.1.1. Hình thức

    Băng được sản xuất ra có nhiều loại khác nhau, băng thường, băng 2, 4, 6 rãnh và dĩa compact. Băng thường do các nhà sản xuất kinh doanh thực hiện và không cần thiết bị chuyên dụng để đọc nhưng nếu thu trọn bộ sách thì giá thành đắt hơn cả sách chữ lớn. 

    Trong dịch vụ sách nói, R.N.I.B dùng cassette 6 rãnh và cần thiết bị chuyên dụng để thu và nghe. Băng này có tiện ích là đơn giản nhờ khả năng lưu trữ cao (1 lần thu đến 12 giờ) có thể thu trọn cuốn chỉ cần một đến hai băng tùy theo độ dài của sách. Nhưng nó cần đến thiết bị chuyên đọc có thể tìm thấy ở nhà phân phối R.N.I.B. Theo luật chơi, nó cũng có thể phải chịu trách nhiệm tuân thủ luật bản quyền dựa vào mục đích sản xuất của nó. Tuy nhiên, không thể so với các dịch vụ sách nói khác và yêu cầu ban đầu phải có cả chi phí mua máy đọc.

    Cassette 4 rãnh cũng được dùng. Đây là hình thức thông thường của dịch vụ sách nói của Dịch vụ thư viện quốc gia, Thư viện Quốc hội Mỹ và cũng được R.N.I.B sử dụng trong  thư viện băng cassette của mình. Một lần nữa, lợi ích cho người dùng phải kể đến là tính đơn giản và số lượng băng cho mỗi nhan đề. Dùng loại băng này cần có máy hát cho cả 2 hay 4 hộc. Hoặc là nếu chép nhanh cũng có thể chuyển 4 rãnh thành loại 2 rãnh.

    Ngoài ra, còn có nhiều băng do các nhà sản xuất chuyên nghiệp tại địa phương và trên toàn quốc làm ra ở dạng 2 rãnh. Sản phẩm của CALIBRE, Hội báo nói và nhiều băng thông tin khác do các nhà cung ứng dịch vụ tạo ra. Hầu hết các nhà sản xuất chữ lớn cũng cung cấp băng sách (khác với từ “sách nói” chỉ dành cho nhà sản xuất chuyên nghiệp làm ra).

    Những sản phẩm này thường thu từ tác giả, hay diễn viên đọc vào băng analog. Băng này do khu vực kinh doanh hay một số tổ chức tình nguyện xuất bản.

    Trong kho thư viện, băng 2 rãnh là nhiều nhất vì dễ sử dụng nhất được nhiều người chấp nhận dùng nhất nên phân phối dịch vụ cũng thuận tiện nhất.

    So với băng nhiều rãnh, bất tiện của băng 2 rãnh là số băng sử dụng và người khiếm thị thường gặp khó khăn khi dò tìm băng kế tiếp. Thu đầy đủ thì có thể hết 14 đến 16 băng và có thể làm cho người khiếm thị gặp khó khăn nếu không có nhãn đánh dấu nổi trên băng để có thể tìm ra được số thứ tự của băng mình cần. Cũng cần nhớ giải quyết vấn đề này bằng cách dán nhãn có số và chữ nổi để biết số thứ tự băng và bên mặt băng nào là thích hợp. Lý tưởng là nên có thông báo ở đầu băng vì có khi người già khó có cảm nhận bằng hình nổi.

    Một bất tiện khác của băng analog là khó định vị và truy tìm thông tin theo kiểu trình bày tuyến tính. Để chọn được đoạn văn bản nào cần nghe, cần phải nghe băng cho đến khi gặp được đoạn cần nghe. Bằng cách quay nhanh và dừng lại ở những đoạn nào muốn dừng lại. Cũng nên có thông tin về nội dung mục lục đầu băng thì giúp ích được nhiều hơn. Về lâu dài, việc dùng dĩa compact và tiến tới dùng dạng âm thanh số hóa thì sẽ thoát khỏi những khó khăn hạn chế này.


    Back to Chapter index
    8.4.1.2. Các hình thức âm thanh số hóa

    Hiện nay dịch vụ sách nói của RNIB theo hình thức analog đã lỗi thời và rất tốn tiền để bảo quản. Họ vừa phát triển hình thức dịch vụ số hoá để tung ra thị trường vào tháng 4 năm 2004. Hệ thống mới này sẽ phát triển trên nền chuyển đổi 12,000 nhan đề analog thành số hóa, di dời các điểm phân phối và các phòng thu đến địa điểm mới. Máy để nghe loại sản phẩm này được thiết kế để cũng có thể đọc được CD dạng thường và sẽ có thể tiếp tục do RNIB phân phối. Cả dịch vụ số hóa hay tương tự đều là những bước đầu để dần dần thay thế toàn bộ hệ thống analog vào năm 2005.


    Back to Chapter index
    8.4.1.3. Chất lượng bản sao chép

    Khi chọn mua tài liệu dạng âm thanh, có một yếu tố khác cần phải xem xét đến là chất lượng của bản sao chép. Thường thì nhiều nhà sản xuất băng cho người khiếm thị biết rõ nhu cầu người dùng cần là tài liệu nghe phải đạt chất lượng cao. Nhưng đôi khi cũng khó cho họ giữ đúng chuẩn mực này. Đặc biệt là băng thông tin nơi mà chất lượng sản xuất bị phớt lờ đi để đáp ứng tính kịp thời. Vì lý do đã nêu trên liên quan đến người khuyết tật, thư viện cần phải càng tìm hiểu sâu càng tốt và tìm ra được sản phẩm tốt từ các nhà sản xuất. Kiểm tra chất lượng cũng cần phải áp dụng để đảm bảo mọi quy trình diễn ra đúng từ việc theo dõi, thanh lọc và thay thế các nhan đề đã bị hư do sử dụng nhiều lần.


    Back to Chapter index
    8.4.1.4. Thu đầy đủ hay rút gọn?

    Thư viện cũng cần có chính sách đề cập đến việc chọn mua băng sách thu rút ngắn hay thu đầy đủ. Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này. Về nguyên tắc, người khiếm thị có quyền muốn có bản sao y như bản gốc đã in. Kết quả của cuộc khảo sát điều tra gần đây nhất trên cả nước (Davies và nh. ng. khác, 2001), để bạn đọc khiếm thị và mù bày tỏ ý muốn sử dụng tài liệu của họ cho biết có 63% trong số người được khảo sát thích sách thu đầy đủ, 23 % không bày tỏ ý kiến và 9% thì thích sách rút ngắn. Tuy nhiên, có thể biện minh rằng phiên bản âm thanh cũng được hưởng lợi từ việc biên tập cẩn thận và phiên bản rút gọn sẽ làm giảm được số lượng băng. Thư viện cũng nên chú ý đến báo và tạp chí nói và đây cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, chú ý nên quyết định chọn bản đầy đủ hay rút ngắn.


    Back to Chapter index
    8.4.2. Băng sách nói

    Băng sách hay băng thông tin vốn là tài liệu trọng yếu trong dịch vụ thư viện dành cho người khiếm thị.

    Việc tăng trưởng của các xuất bản phẩm thương mại đã giúp thư viện có điều kiện tốt để xây dựng và phát triển vốn tài liệu, vì thế người khiếm thị nên được tạo điều kiện chọn lựa tài liệu tốt hơn. Thư viện nên nhắm vào việc mở rộng mua các phiên bản đầy đủ, quản lý tài liệu thì luôn nhớ đến nhu cầu người khiếm thị, chứ đừng nghĩ đến những chuyện này chỉ phát sinh thêm chi phí. Các nhà sản xuất mới cũng đã chú ý tăng số lượng bản nhưng vẫn còn rất ít so với tổng đầu sách của thị trường ở Anh, chủ yếu chỉ nhắm vào tiểu thuyết phổ thông và truyện thiếu nhi. Để có thể phục vụ tốt hơn, thư viện sẽ cần cung cấp nguồn tài liệu dạng âm thanh của các tổ chức tình nguyện, xuất bản cả nhan đề đọc giải trí và sách khoa học. Các nhà cung ứng và tổ chức tình nguyện sẽ được giới thiệu ở chương 9 và những tổ chức này sẽ cho biết phạm vi nội dung tài liệu họ muốn sản xuất.

    Một số nhà sách có vốn tài liệu băng sách như một phần chính trong việc kinh doanh của họ, mặc dù đa số băng dĩa ở dạng rút ngắn.


    Back to Chapter index
    8.4.3. CD

    Dạng CD có nhiều ưu thế, ngoài việc có thể lưu trữ nhiều tài liệu chỉ nằm trong 1 đĩa, nó còn giải quyết được các khó khăn khác mà người khiếm thị gặp phải khi đọc tài liệu. Về mặt kỹ thuật có thể dễ dàng định vị và dừng lại đúng chỗ Nhưng đôi khi việc thiết kế các nút điều khiển máy hát CD khiến nhiều người khiếm thị gặp rắc rối khi sử dụng.

    Một số nhà xuất bản, như Chivers và Isis, hiện sản xuất sách dạng CD. Các nhà xuất bản khác như Penguin và BBC cũng xuất bản các nhan đề rất hấp dẫn. Tuy vậy hiện hàng năm chỉ có một vài nhan đề được xuất bản, tuy nhiên theo yêu cầu sử dụng mà số lượng ấn bản sẽ tăng lên thêm. 


    Back to Chapter index
    8.4.4. Đọc nhân tạo

    Bất kể hình thức nào, chất lượng giọng và các yếu tố thiết kế khác đều mang tính quan trọng như nhau. Bao gồm sự rõ ràng, nhịp điệu giọng và không có tạp âm.

    Vì lý do này, giọng đọc nhân tạo nhìn chung không được ưa chuộng đối với nhiều người. Mặc dù đã được cải tiến nhiều trong những năm gần đây, nhưng mức độ đòi hỏi của người nghe cũng đã thay đổi. Tuy vậy, có nhiều người khiếm thị cần phải nghe sách khoa học. Công việc này chỉ cần quét hay số hóa, để dạng văn bản trở thành dạng dữ liệu số hóa. Giọng đọc tổng hợp vì thế đóng vai trò quan trọng trong dịch vụ thư viện để có thể cung cấp thông tin cho những tài liệu thông tin nào chưa có dạng thay thế. 


    Back to Chapter index
    8.4.5. Đọc trực tiếp

    Vì một số lý do mà việc giao tiếp trực tiếp giữa người phục vụ và độc giả là cách hiệu quả nhất nhờ có sự tương tác và phản hồi giúp diễn giải nội dung của thông tin rõ ràng hơn. Thật thế, dịch vụ phục vụ theo yêu cầu cá nhân có thể giúp bạn đọc nghe thủ thư đọc trực tiếp văn bản và đường dây điện thoại trợ giúp cũng thường được sử dụng để làm việc này.


    Back to Chapter index
    8.4.6. Báo và tạp chí nói

    Báo và tạp chí nói là những nguồn tài liệu và thông tin quan trọng đối với người khiếm thị và rất có giá trị đối với họ (Marsland, 1992). Chúng cũng được chuyển dạng thành băng cassette 2 rãnh. Cần chú ý là chỉ trừ một số trường hợp ngoại lệ, còn lại việc chuyển dạng thường chỉ là một phần nào đó của bản gốc mà thôi, ví dụ chỉ cung cấp những bài đã chọn lọc, mà cũng có thể chúng được biên tập lại để tiết kiệm khoản ghi âm hoặc sửa đổi câu cú cho phù hợp với việc đọc hơn và dễ hiểu hơn.

    Các tờ báo của quốc gia và địa phương đều có ở dạng báo nói. Do nhiều nhà sản xuất làm ra trong đó có cả thư viện (xem phần 9.6). Báo nói địa phương (thường xuất bản hàng tuần) phát hành rộng rãi trên toàn Anh quốc với hơn 40 tổ chức tình nguyện tham gia. Kể cả có tài liệu kiểu “tạp chí” bên cạnh sự chọn lựa báo địa phương cũng mang chung những đặc tính này. Chúng thường có thông tin chung và thông tin dành riêng cho người khuyết tật được xuất bản bởi nhiều tổ chức khác nhau. Bên cạnh tuần báo, nhiều báo tạp chí phổ thông khác cũng được thu băng.

    Hầu hết các nhà cung cấp sử dụng dịch vụ bưu điện trực tiếp để gửi sản phẩm theo chế độ miễn phí cho đối tượng được công nhận là người mù và khiếm thị theo quy định (nếu đối tượng không đủ điều kiện, thì phí bưu điện có thể sẽ bị tính). Nguồn cung cấp thường theo chế độ “gửi đọc và hoàn trả lại” - đối tượng sẽ trả lại tài liệu đã đọc lần trước và nhận đợt mới.

    Trong khi dịch vụ bưu điện cần xét đến việc sử dụng chúng trong dịch vụ của họ. Về nguyên tắc, vì báo tạp chí in là những tài liệu thông thường của thư viện nơi mà có trách nhiệm cung cấp tài liệu chuyển dạng thay thế cho các loại này khi chúng tồn tại. Từ những hiệu quả sử dụng của chúng, có thể thấy rõ là báo và tạp chí có thể đóng vai trò rất quan trọng trong tổng thể các dịch vụ cho người khiếm thị (Craddock, 1996).

    Bên cạnh bổ sung các nhan đề cung cấp trực tiếp từ các nhà cung ứng có thể đáp ứng được những yêu cầu gấp tại địa phương trong suốt thời gian mà thành viên đang chờ đăng ký vào dịch vụ quốc gia. Dịch vụ cũng rất cần cho người gặp khó khăn trong việc đọc nhưng lại chưa đủ điều kiện được chứng nhận theo quy định là người “mù lòa”. Đặc biệt trong trường hợp các cá nhân vừa mới bị khiếm thị. (Page, 1990).

    Phần lớn các thư viện đăng ký vào Dịch vụ Thư viện tài liệu nói để hưởng dịch vụ cung cấp băng báo và tạp chí nói của Hiệp hội báo nói Anh quốc (TNAUK, 1999). Sự giảm giá của các nhà xuất bản này cho phép thư viện phân phối nhiều sản phẩm qua nhiều kênh phục vụ khác nhau kể cả qua kho mở hay thư viện lưu động. Bằng cách này, các sản phẩm này có thể phục vụ được cho cả đối tượng bị “khuyết tật đọc”.

    Không giống các nhà phát hành băng, báo và tạp chí nói ít có giá trị lưu trữ (mặc dù một số báo nói địa phương có làm bản sao). Vấn đề chủ yếu là do rất khó để tạo chỉ mục định vị cho nội dung và tra cứu các đoạn thông tin nào cần nghe trên băng analog. Vì tài liệu này là một dạng thay thế nên một số nhà cung ứng dịch vụ chú ý đến cách đầu tư hiệu quả để có thể đáp ứng chuyển dạng theo yêu cầu bằng cách dùng các tệp tin lưu trữ xuất bản cùng với bản in của chúng.

    Bên cạnh lưu trữ báo và tạp chí nói, một số thư viện cũng tham gia làm báo nói, hoặc liên lạc bằng nhiều cách khác nhau với các tổ chức làm báo nói. Có thể cung cấp tại chỗ, hay phân phối (Gateshead, Kirklees), thực hiện danh mục đã đăng ký và cung cấp dịch vụ sao chép băng phân phối cho các tổ chức tình nguyện địa phương (Hội đồng Giáo dục và Thư viện, Northern Ireland) và cung cấp các phương tiện ghi âm tại chỗ cho các nhóm này tiện sử dụng (Tameside). Một số thư viện cũng dùng báo nói địa phương để quảng cáo các dịch vụ mà họ có.

    Hiệp hội báo nói Anh quốc là tổ chức sản xuất báo và tạp chí nói lớn nhất, gồm hơn 200 nhan đề báo trên toàn quốc, kể cả báo ngày và báo cuối tuần chủ nhật, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý cho cả những người đọc chữ in khó khăn. Chi tiết đăng ký xem phần 9.6 

    Cue & Review là tổ chức quốc gia chuyên làm báo và tạp chí nói dạng băng. Có nhiều nhan đề hấp dẫn cho lứa tuổi thanh thiếu niên.

    ‘Soundings’ là tạp chí quốc gia hàng tháng phát hành trên băng, phát tin và giới thiệu dịch vụ cho người khiếm thị, cũng có nghe qua mạng trực tuyến. (Xem phần 9.6). 

    Cũng có nhiều tạp chí và báo địa phương do thư viện và các hội của chính địa phương thực hiện.


    Back to Chapter index
    8.4.7. Thông tin khách hàng

    Ngày càng có nhiều nhà cung ứng thông tin sẵn lòng sản xuất băng cassette như dạng thay thế ghi âm thông tin khách hàng. Một số tổ chức quốc gia như Benefits Agency, Inland Revenue and Central Office of Information hiện nay  chủ yếu phát hành thông tin của họ trên băng cassette.

    Các tổ chức khác cũng thường phát hành tài liệu ở dạng băng cassette như Ofgas, Help the Aged và BT. Một số cửa hàng lớn như Boots và Tesco phát hành catalog sản phẩm Giáng sinh của họ trên băng cassette.

    RNIB sản xuất bảng tin “Bạn có biết” thông tin về việc phát hành băng tại các khu vực tình nguyện, tổ chức tư nhân hay khu vực công cộng. Thông tin này cũng được tạo ở dạng thay thế khác và có thể đăng ký mua từ Dịch vụ khách hàng RNIB.


    Back to Chapter index
    8.5. Thuyết minh mô tả hình ảnh trong băng hình

    RNIB xuất bản một số băng hình kèm theo phần thuyết minh mô tả hình ảnh. Nhiều nhan đề trong đó có cả phim cổ điển lẫn hiện đại, mọi lứa tuổi đều có đề tài của mình. Có thể dùng đầu đọc video bình thường để nghe thuyết minh cho tất cả những cảnh vật đang diễn ra trên màn hình. Những lời diễn tả phụ họa điễn đạt thêm cho lời của nhân vật trong phim. Cá nhân có thể thuê trực tiếp từ R.N.I.B, hoặc cá nhân hay tổ chức có thể đăng ký mua. Quan trọng là khi thư viện mua loại tài liệu này, nhớ quảng bá và vận động các đối tượng tham gia sử dụng.


    Back to Chapter index
    8.6.1. Chữ Braille

    Tỷ lệ số người dùng chữ Braille ước tính chỉ chiếm khoảng 3% trong số 19.000 người khiếm thị trên cả nước (Bruce và nh. ng. khác, 1991). Tỷ lệ người dùng chữ Moon thì ít hơn nhiều, trên cả nuớc không vượt hơn con số 500-600.

    Chữ Braille là phương tiện đọc bằng cách dùng tay sờ lên, một bộ ký hiệu 6 chấm nổi, tùy theo cách sắp xếp các chấm mà phân định các chữ, số và các dấu khác nhau. Có hai cấp độ chữ Braille cấp 1 phiên ra từng ký tự một ghép thành chữ, kể cả dấu. Braille cấp 2 sử dụng cách ghép từ thành chữ, cho phép đọc nhanh hơn và làm sách chuyển dạng bớt cồng kềnh đi.

    Sách và tạp chí Braille có thể đặt mua hay mượn từ R.N.I.B và NLB. NLB có bộ sưu tập chữ Braille lớn nhất cho mượn ở Châu Âu, chủ yếu là các nhan đề tiểu thuyết và khác tiểu thuyết cho mọi lứa tuổi, một vài nhan đề bằng Welsh và một vài ngôn ngữ khác của Châu Âu. Vốn tài liệu của RNIB có nhiều nhan đề thích hợp cho sinh viên. RNIB và  NLB cùng làm việc với nhau để sản xuất, bán hay cho những người học chữ Braille và chữ Moon mượn dùng, kể cả dùng cho các lớp tập huấn và tài liệu thích hợp cho các nhóm tuổi học viên.

    Thông tin về xuất bản hiện nay có thể tìm thấy trên tờ tin 'Spotlight' của RNIB và tờ 'Read On' do NLB xuất bản hàng quý.


    Back to Chapter index
    8.6.2. Nhạc Braille

    Nhạc nổi Braille tạo ra bởi mã Braille đặc biệt. R.N.I.B là nhà cung cấp chính sản phẩm này tại Anh và NLB thì có bộ sưu tập lớn nhất, có khoảng 13,000 nhan đề nhạc Braille có nhiều nhan đề mới nhập về đều đặn. Có từ nhạc cổ điển cho đến nhạc pop và cả nhạc cho các đàn bàn phím điện tử. Hiện nay chưa được biên mục hết, nhưng cũng đang trong quá trình biên mục hồi cố nhập máy. Nhạc nổi Braille có thể mua từ R.N.I.B.


    Back to Chapter index
    8.6.3. Chữ Moon

    Moon là phương tiện đọc tương tự như Braille đọc bằng cách sờ lên bộ dấu hiệu làm nổi. Bằng Moon, các ký tự, số và dấu được đánh nổi lên theo hình dạng của chúng.  Không được sử dụng rộng rãi như chữ Braille, chữ Moon thường chỉ được những người bị mất thị lực lúc đã lớn tuổi hoặc có nhiều khuyết tật khác mà khó có thể học sử dụng chữ Braille ưa dùng hơn.

    Bộ sưu tập Moon ở NLB là duy nhất ở Anh và lớn nhất trên thế giới. R.N.I.B và NLB là nhà cung cấp chính sách chữ Moon.


    Back to Chapter index
    8.6.4. Dịch vụ thư viện

    Chỉ có một số ít người sử dụng, chi phí và độ cồng kềnh của tài liệu chữ Braille và Moon (một cuốn sách thường khi xuất bản theo các dạng này thì lên đến hơn 5 tập sách Braille và Moon) làm nhiều thư viện không chịu lưu trữ dạng tài liệu này. Thay vì thế, thì họ cung cấp dịch vụ chuyển dạng theo yêu cầu và/ hoặc đảm bảo người dùng Braille hay Moon có thể truy cập vốn tài liệu của NLB và R.N.I.B. Vấn đề này có thể thực hiện qua chương trình mượn liên thư viện hoặc giúp bạn đọc đăng ký sử dụng trực tiếp thư viện ở các nơi này. Catalog sách bìa cứng hay danh mục sách bằng chữ Braille và từ mùa thu năm 2000 NLB có cả mục lục truy cập được qua Internet. Thư viện cũng có thể có phần mềm chuyển đổi chữ Welsh và các ngôn ngữ khác sang Braille. Ví dụ, phần mềm Duxbury D.B.T hiện hỗ trợ được đến 18 thứ tiếng, kể cả Welsh.

    Cán bộ thư viện có thể hỗ trợ người sử dụng bằng cách giúp họ tìm chọn và đặt sách hoặc cung cấp trang thiết bị cho người đọc để họ tự phục vụ.


    Back to Chapter index
    8.6.5. Họa đồ/ Bản đồ/ Biểu đồ nổi

    Đó là những bảng biểu được photocopy hay in trên loại giấy ”phồng” cảm ứng nhiệt. Khi giấy được đưa qua “máy đọc hình ảnh nổi” các đường kẻ màu tối sẽ hút nhiệt nhanh hơn và bị phồng lên. Hình ảnh nổi cần được bảo quản kỹ để đảm bảo các bề mặt nổi không bị hư hay bị xẹp xuống.

    Khả năng sản xuất phục vụ biểu đồ rất quan trọng trong các thư viện trường đại học và trường học, vì thế việc sản xuất tại chỗ rất cần được xét đến (xem phần 13.7.3). Cách khác, một số tổ chức nhận cung cấp dịch vụ, như trường Đại học Hertfordshire, Đại học Queen Alexandra và R.N.I.B, thông qua bộ phận tiếp khách hàng (xem phần 9.8.3). 


    Back to Chapter index
    8.7.1. Sách và thông tin

    Dạng tài liệu ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn là hình thức điện tử. Hầu hết thông tin khi in ra đều có nguồn gốc là dạng điện tử và tỷ lệ xuất bản phẩm điện tử ngày càng chiếm cao hơn, thông qua các kênh truyền hình số hay qua mạng toàn cầu. Vì người khiếm thị có thể truy cập được thông tin điện tử mà không cần sản phẩm chuyển dạng thay thế, do đó họ có cơ hội truy cập được thông tin mà không cần phải chờ đợi xuất bản hay phát sinh các tốn kém khác.

    Qua phần mềm đọc màn hình hay công nghệ liên quan (xem chương 13), việc truy cập thông tin và khả năng chọn lựa hình thức tài liệu của người sử dụng ngày càng rộng rãi và tùy biến hơn, có thể truy cập từ nhà, hay công cộng chẳng hạn như từ thư viện. Điều quan trọng là nên đưa nhu cầu của người khiếm thị vào kế hoạch ngay từ đầu khi chuẩn bị mua mới hệ thống thông tin truyền thông cho thư viện.

    Mặc dù phải làm theo những thực hành tốt nhất để đảm bảo nguồn lực điện tử truy cập được (xem chương 14), vẫn có một số mô hình tiên phong rất thú vị đã được thực hiện. Khu vực HE của HERON (www.heron.ac.uk) cung cấp việc truy cập toàn văn các tài liệu học tập ở trường đại học dưới dạng điện tử; sỡ dĩ thực hiện được là nhờ có theo dõi nhu cầu sử dụng thông tin cụ thể của một số trường. Nhiều dự án thư viện số khác, kể cả những thư viện trong chương trình thư viện điện tử cấp cao học của Anh quốc (eLib), cũng đang tìm hiểu các phương pháp chuyển văn bản điện tử trực tiếp đến người sử dụng.

    Dự án Gutenberg (www.gutenberg.net) cơ sở lưu trữ tất cả các tác phẩm đã quá hạn bản quyền, được thu thập từ nhiều cá nhân và tổ chức trên thế giới. Bộ sưu tập Gutenberg hiện có trên 3.500 nhan đề các loại có thể tải xuống mà không bị tính tiền. Bộ sưu tập có cả những tác phẩm cổ điển như từ “Alice lạc vào xứ thần tiên” cho đến tác phẩm của Shakespeare và các tài liệu tham khảo như từ điển thuật ngữ của Roget, niên giám, từ điển và bách khoa thư. Trang web này có thể tra cứu theo tên tác giả hay nhan đề tài liệu và thậm chí có thể sử dụng để tìm ra nguồn gốc của các câu trích dẫn trong tác phẩm.

    Trong khu vực tình nguyện, tổ chức RNIB đã liên kết với các nhà xuất bản như Penguin để có nhiều nhan đề dạng đĩa như bộ Access Books; và NLB đang xây dựng dịch vụ thư viện số, trong đó có sách điện tử, đối với các tài liệu được phép của quyền tác giả. Bộ sưu tập chính đầu tiên của họ ở dạng sách điện tử có bản quyền hiện đang có trên website. ‘Unseen history’ đã có đến 50 nhan đề lịch sử địa chí Anh có thể tìm đọc tại www.nlbuk.org/unseenhistory/ebookscontents.html

    Khu vực kinh doanh, có dịch vụ thông tin như Chadwyck Healey’s KnowUK (www.knowuk.co.uk), bộ sưu tập của họ có trên 80 nhan đề tài liệu tham khảo từ ‘The Municipal Yearbook’ và ‘Who’s Who’ đến ‘The Which? Guide to Country Pubs’. Dịch vụ này giúp độc giả có thể tìm kiếm đồng thời cả 80 nhan đề đó, hoặc tìm theo chủ đề.

    NLB đã có dự án thử nghiệm để phục vụ miễn phí dịch vụ tham khảo trực tuyến KnowUK cho các thành viên khiếm thị của NLB. NLB đã làm việc với KnowUK để đảm bảo việc truy cập toàn vẹn để bất cứ thư viện công cộng nào đăng ký vào dịch vụ này thì KnowUK có thể phục vụ độc giả khiếm thị của thư viện đó qua các máy trạm truy cập được.

    Ngày càng có nhiều thông tin dạng văn bản hay âm thanh trực tuyến: thơ, niên giám điện thoại, báo, mục tìm việc làm, thậm chí cả tiểu thuyết.

    Hiện nay không phải tất cả các thông tin hiện đang có mà người khiếm thị có thể truy cập được hết cả, vấn đề luật pháp và các ràng buộc trách nhiệm và kết quả là tỷ lệ thông tin truy cập được ngày càng tăng thêm.

    Để có được tổng quan các nguồn thông tin hiện truy cập được, hãy tham quan trang web của Thư viện quốc gia cho người mù NLB (www.nlbuk.org) giới thiệu nhiều dịch vụ khác nhau như tham khảo, tiểu thuyết, thơ và âm thanh dành cho người sử dụng.

    Hiện nay những xu hướng phát triển mới phục vụ cho cộng đồng người khiếm thị để giúp họ có được những kỹ năng thích hợp và động cơ sử dụng hệ thống thông tin truyền thông. Đa số người khiếm thị không sử dụng công nghệ sẽ lệ thuộc vào dịch vụ chuyển dạng theo yêu cầu như là cách thức của họ để có những tài liệu họ mong muốn đọc. (Xem phần 8.11).

    Những hướng phát triển mới như xây dựng thư viện số truy cập qua điện thoại hay truyền hình sẽ hấp dẫn người khiếm thị sử dụng nhiều hơn nữa. Nhà cung ứng dịch vụ truyền hình số được cấp giấy phép thì họ phải đảm bảo một tỷ lệ nào đó của chương trình phát sóng phải có phần thuyết minh mô tả hình ảnh. 


    Back to Chapter index
    8.7.2. Báo điện tử

    Một vài tờ báo hiện có trên Internet, ví dụ The Times, Financial Times, Telegraph, Guardian, (Glasgow) Herald.

     

    TNAUK cung cấp dịch vụ thư điện tử hay số cho 200 nhan đề (www.tnauk.org.uk).

     

    Một số tạp chí chuyên ngành cũng có thể truy cập qua Internet theo các địa chỉ sau:

     

    a) www.shef.ac.uk/library/elec.jnls/introejs.htm

     

    b) www.rylibweb.man.ac.uk/eres/pr/frame.dbinfo/crib.htm.

     

    Trường Đại học Sheffield (www.shef.ac.uk) tạo mục lục chỉ mục cho các nguồn báo và tạp chí điện tử trên.

     

    JISC (Ủy ban Hợp tác Hệ thống Thông tin) tài trợ Trung tâm Dữ liệu Quốc gia cung cấp cho Hội đồng Giáo dục cao học và cán bộ nghiên cứu có thể truy cập vào nội dung, bài trích và toàn văn của hơn 200 nhan đề báo và bản tin hiện hành.

     

    a) BIDS (Bath Information and Data Services)
    www.lib.ed.ac.uk/lib/resources/databases/bids.shtml

     

    b) EDINA (Edinburgh Data and Information Access) www.lib.ed.ac.uk/lib/resources/databases/edina.shtml

     

    c) MIMAS (Manchester Information and Associated Services) www.lib.ed.ac.uk/lib/resources/databases/mimas.shtml

     

    Nhà kinh doanh báo và tạp chí điện tử cũng có trên địa chỉ www.blackwell.co.uk

     


    Back to Chapter index
    8.8. Tài liệu thiếu nhi

    Xem Chương 7 


    Back to Chapter index
    8.9. Tài liệu cho người thiểu số

    Cái khó trong dịch vụ là thiếu tài liệu để đáp ứng nhu cầu ngôn ngữ cho những người thuộc nhóm dân tộc thiểu số mà sự khó khăn của họ luôn bị nhân đôi lên. Một báo cáo nghiên cứu của R.N.I.B cùng với EMERGE đã minh chứng cho vấn đề này từ việc thảo luận với 12 nhóm đối tượng sử dụng từ tháng 11 năm 1997 đến tháng 7 năm 1998. Những điều này lại được khẳng định thêm từ cuộc nghiên cứu thực hiện ở Tây Bắc của nước Anh từ đầu năm 2000.  Những kết luận chính cho tất cả các nhóm người thiểu số là :

    a)  thiếu thông tin tổng quan cập nhật về chính phủ, cộng đồng, kinh doanh, v.v.. vấn đề ở cả tài liệu thay thế và ngôn ngữ

    b)  thiếu tài liệu nói về các nền văn hóa của dân tộc

    c)  thiếu phần mềm công nghệ hỗ trợ để có thể xử lý các ngôn ngữ không phải của Châu Âu

    d)  cũng có chứng cớ cho thấy là các số liệu thống kê đã báo không chính xác số người bị khiếm thị trong những cộng đồng này.


    Back to Chapter index
    8.9.1. Sách chữ lớn và băng cassette

    Hai trong số các nhà kinh doanh tài liệu tiếng dân tộc thiểu số cách đây vài năm đã xuất bản một số nhan đề sách chữ lớn và băng cassette, vì sự hạn chế bổ sung của các thư viện mà hiện nay chỉ có rất ít nhan đề được tiếp tục. Việc đóng sách rất kém và chất lượng của các băng cassette xuất bản lệ thuộc vào nhà sản xuất. Nên theo dõi thông tin tài liệu xuất bản của các nhà sản xuất theo các địa chỉ trong phần liệt kê ở

    Thư viện sách nói Ấn độ có một bộ sưu tập băng sách bằng tiếng Urdu, Gujarati và Hindi. Dịch vụ này đăng ký sử dụng có trả phí.


    Back to Chapter index
    8.9.2. Báo và tạp chí

    Một danh mục báo dành cho người thiểu số được liệt kê ở phần 9.10.2.


    Back to Chapter index
    8.9.3. Thông tin

    'Talking Eyes Service' là dịch vụ băng do tổ chức Birmingham Focus và các thư viện thành phố Birmingham hợp tác sản xuất (bằng tiếng Urdu, Bengali, Gujarati và Punjabi) và thông tin có nhiều chủ đề được bạn đọc quan tâm. Một bản sao của mỗi băng được gửi tới tất cả các thư viện để lấy thông tin hàng năm, kinh phí do chính phủ tài trợ cho Ủy Ban Thông tin Thư viện để thúc đẩy dịch vụ dành cho người khiếm thị. Thông tin trên băng có thể được chép và cho mượn trong thư viện. Cơ quan thư viện và các tổ chức khác có thể đăng ký dịch vụ này có tính phí. Liên hệ với Talking Eyes Information Service để biết thêm chi tiết ở số điện thoại 01214285046.

    Hội người mù Châu Á hàng tháng cũng sản xuất băng thông tin bằng tiếng Hindi và tiếng Anh cho tất cả các thành viên để biết thông tin về người khiếm thị, sản phẩm mới và sách băng. Thành viên tham dự được miễn phí.


    Back to Chapter index
    8.10.1. Mục lục truy cập được

    Quan trọng là người khiếm thị có thể tự tra cứu mục lục thư viện. Nhiều mục lục máy tính hiện nay có những tiện ích khác như phóng to màn hình như Libris Envisage và có thể có thêm chức năng phát âm. Khả năng làm thay đổi màu nền và văn bản như có thể in ra dạng chữ lớn hay Braille hay chép đĩa. Những tính năng này nên được coi là một phần tích hợp trong mục lục điện tử mới.

    Thư viện Islington có Libris Envisage với màn hình phóng to, bàn phím có thể điều chỉnh, phát âm, giao diện, kết hợp điều chỉnh phối màu, giao thức phát âm và phóng đại. Những tiện ích này có thể giúp người mù và khiếm thị có cơ hội bình đẳng truy cập vào mọi thông tin trên mục lục thư viện, mà không cần phải qua sự giúp đỡ của người trung gian và hòa nhập hẳn với cộng đồng độc giả trong thư viện.

    Người khiếm thị cũng cần mục lục có phần mô tả bằng giọng nói và đó cũng sẽ là một tiện ích nữa cho mục lục liên hợp quốc gia (Xem chương 10).


    Back to Chapter index
    8.10.2. Danh mục

    Thư viện đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp độc giả mù chọn được tài liệu, thông qua mục lục hay danh mục tài liệu dạng thay thế như danh mục chữ lớn của vốn tài liệu chữ lớn trong thư viện và thông qua sự hỗ trợ của cán bộ thư viện hay các nguồn liên lạc giữa thư viện và người sử dụng. Danh mục in chữ lớn hay những bản đính kèm mô tả, tóm tắt nội dung tài liệu sẽ có tác dụng khuyến khích đọc là điều rất quan trọng phải làm và phải nằm trong chương trình xuất bản của thư viện. Thư viện hòa nhập cũng sẽ phải đảm bảo nếu bất kỳ khi nào lập danh mục nào để quảng cáo các sự kiện hay trưng bày triển lãm thì sẽ có một số nhan đề hay phiên bản tài liệu dưới dạng thay thế.

    Cũng sẽ rất có ích nếu có bản sao danh mục của các nhà xuất bản cho những tài liệu sắp xuất bản mà ở dạng thay thế, có tại thư viện hay qua dịch vụ giao tận nhà hay thư viện lưu động. Tuy nhiên chưa có một nhà kinh doanh sách nào kể cả sách chữ lớn hay sách nói in danh mục của họ bằng dạng thay thế, chỉ có Chivers đã thực hiện danh mục đọc một số mẫu trích ra từ các xuất bản phẩm của họ.


    Back to Chapter index
    8.10.3. Mượn liên thư viện

    Không một thư viện nào có thể đảm bảo được hết, tất cả những tài liệu mà người khiếm thị có thể cần đến từ vốn tài liệu của riêng mình. Vì thế cần thiết là mọi nhà chức trách ngành thư viện, đặc biệt là tại mỗi điểm dịch vụ có thể truy cập vào được Mục lục Liên hợp quốc gia tài liệu chuyển dạng, mà trước đây là NUCAF và bây giờ gọi là REVEAL. (Xem Chương 10).

    Một dự án cho mượn liên thư viện (Hội đồng cộng đồng Châu Âu, 1997/8, Dự án TESTLAB) được điều hành ở khu vực Tây Bắc. Chương trình này được tạo ra để tạo sự thuận tiện cho việc xây dựng hệ thống truy cập độc lập vào mục lục thư viện và có thể giúp người khiếm thị mượn tài liệu chuyển dạng thông qua chương trình hợp tác giữa các thư viện. Thủ tục này hiện đang được chỉnh sửa trong tất cả dịch vụ thư viện trong khu vực, và có thể dịch vụ mượn tài liệu chuyển dạng giữa các thư viện sẽ xuất hiện lần đầu tiên. (Xem chương 11).


    Back to Chapter index
    8.11. Dịch vụ chuyển dạng

    Để đáp ứng các yêu cầu đặc biệt của độc giả thư viện, thư viện phải có dịch vụ chuyển dạng theo yêu cầu để có thể cung cấp cho độc giả bất kỳ thông tin nào họ cần ở dạng mà họ thích đọc và có đủ thời gian để đọc thì dịch vụ mới gọi là đạt hiệu quả. Với sự xuất hiện của các hình thức truy cập trực tuyến điện tử vào các nguồn thông tin thì hẳn nhiên việc này phải được coi là dịch vụ thiết yếu.


    Back to Chapter index
    8.11.1. Tiện ích tại chỗ

    Có một số dịch vụ chuyển dạng ký kết theo hợp đồng trong thư viện, nhưng tùy theo mức độ những nguồn này được sử dụng như thế nào thì mới được quyết định giữa thư viện và các cơ quan thực hiện.

    Các yếu tố cần xem xét đến gồm:
    a) các trang thiết bị có thể sử dụng
    b) trang thiết bị chuyển dạng sử dụng công cộng
    c) chính sách thư viện trong việc truy cập văn bản điện tử hay truy cập mở vào mạng trực tuyến kể cả trang web
    d) xác suất yêu cầu và hiệu quả của dịch vụ chuyển dạng theo hợp đồng bên ngoài
    e) loại xuất bản phẩm chuyển dạng và hoặc trọn bộ hay rút ngắn tác phẩm.
    Những loại này gồm tờ rời, báo, tạp chí, tài liệu học tập của sinh viên, văn bản của cá nhân, tờ rơi hay cẩm nang hướng dẫn sử dụng, danh mục kinh doanh, niên giám, minh họa, bản đồ, mẫu thêu đan, bản nhạc, thơ/ kịch, chủ đề khoa học kỹ thuật, tài liệu ngoại ngữ.

    Các hình thức yêu cầu: Braille, dạng nổi, Moon, chữ lớn, dạng đọc hay văn bản điện.

    Đối với thư viện mong muốn xây dựng kiến thức và kỹ năng trong việc chuyển dạng tài liệu có một số xuất bản phẩm có thể hỗ trợ và kèm theo các danh mục tài liệu tham khảo. Chẳng hạn, Hiệp hội Dịch vụ chuyển dạng tài liệu (COTIS) cung cấp nhiều hướng dẫn chuyên sâu và mở rộng mà đó là những cẩm nang thực hành rất tốt và đáng tin cậy.

    Được coi là địa chỉ cung cấp dịch vụ chuyển dạng tài liệu, các thư viện sẽ thấy rất có ích khi tham khảo ý kiến của các thư viện đã có kinh nghiệm trong các dịch vụ này. (Xem chương 17).

    Một số thư viện điều chỉnh cách tiếp cận với dịch vụ chuyển dạng. Trong đó có thư viện đại học và khu vực công cộng, dịch vụ AIRS của Gatehead và chương trình ‘Access to Print’  của tổ chức Bradford. Một số thư viện cung cấp dịch vụ theo hợp đồng trên toàn quốc UK như Gateshead (AIRS), Bradford (Access to Print), Leeds (Braille and Large Print Services) và Kirklees.


    Back to Chapter index
    8.11.2. Các dịch vụ chuyển dạng khác

    Có ít nhất 176 tổ chức kể cả thư viện cung cấp dịch vụ chuyển dạng tài liệu. Chúng bao gồm các hội người mù, nhà tù, dịch vụ xã hội, trường học, tổ chức tình nguyện như các dịch vụ hợp đồng tư nhân và báo nói (có nhiều dịch vụ do chính người khiếm thị thực hiện). Khoảng một nửa tổ chức cung cấp dịch vụ tại địa phương/ khu vực và một phần ba phục vụ cho bất cứ ai sống trên đất Anh.

    R.N.I.B có mạng toàn quốc gồm 5 trung tâm chuyển dạng cung cấp dịch vụ chuyển dạng đa truyền thông như bằng chữ lớn, chữ Braille, Moon, băng cassette và dạng điện tử, kể cả văn bản hay biểu đồ. Những dịch vụ này có cả cho người khiếm thị hay các tổ chức có liên quan.

    Tại Anh, hiện tại có một số vấn đề đáng kể đến như trường hợp cấp phép để xuất bản tài liệu chuyển dạng theo yêu cầu. Các nhà xuất bản hiện nay không tuân thủ việc nộp tập trung các bản điện tử các xuất bản phẩm của họ, những phương tiện mà có thể sử dụng để chuyển dạng nhanh theo yêu cầu. Hiện nay vấn đề này vẫn tiếp tục được bàn cãi trên các diễn đàn.

    Mặc dù R.N.I.B là nhà cung cấp chính trong lĩnh vực này, nhưng thư viện vẫn có vai trò quan trọng để thực hiện dịch vụ này vì họ luôn lưu giữ những tài liệu mà những nơi khác không có được.


    Back to Chapter index
    8.11.3. Bản quyền

    Một thư viện cung cấp dịch vụ chuyển dạng tại chỗ dĩ nhiên cũng phải chấp thuận theo luật bản quyền. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ được khắc phục, với việc xây dựng “Hướng dẫn thực hiện Luật bản quyền đối với người khiếm thị” (Hội cấp giấy phép xuất bản, 2001) cho từng bản sao tác phẩm. Việc cải thiện sau này là nhờ vào đề án thông qua Luật bản quyền) hiện đang trình Quốc hội xem xét phê chuẩn. Chi tiết xin tham khảo phần 6.8.

    Dưới tiêu đề “Đối xử công bằng” một phần của Luật bản quyền cho phép một cá nhân chuyển tài liệu của họ đã trả tiền bản quyền hoặc khi nó đã được chuyển dạng. Không cần xin phép trong trường hợp này. Những gì không được phép là sao chụp nhiều bản và cung cấp cho người khác.

    Trước khi thực hiện việc chuyển dạng cho bất kỳ một nhan đề nào, cần kiểm tra với RNIB, có biểu mẫu đăng ký thông báo chuyển dạng tài liệu (NITS), để xem có tổ chức nào vừa mới sản xuất cùng nhan đề và có cùng hình thức đã yêu cầu chuyển dạng chưa.

    Việc chuyển dạng chữ lớn, Tổ chức Cấp phép Bản quyền cho phép trường phổ thông và đại học phóng to tài liệu giảng dạy và học tập cái mà đã được nhà trường mua về để chuyển dạng cho sinh viên và cán bộ mà không cần thỏa thuận trước.


    Back to Chapter index
    8.12.1. Vận động đọc

    Độc giả sử dụng tài liệu thay thế thường gặp khó khăn trong việc tìm tài liệu. Nhiều thư viện và cửa hàng sách không có tài liệu ở dạng mà họ cần. Những người sáng được vận động khuyến khích đọc bằng tranh quảng cáo, trưng bày sách tại cửa hiệu sách, những bìa sách sặc sỡ, những đánh giá, điểm sách, trưng bày triển lãm tại thư viện,…Những phương tiện và cách thức trên đều chỉ phát huy được tác dụng khi đối tượng được vận động còn nhìn thấy được và đọc được. Việc vận động đọc sách vì thế còn quan trọng đối với người khiếm thị còn hơn cả đối với người sáng. Cán bộ thư viện đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng thói quen đọc sách cho công dân thì phải luôn tâm niệm rằng nhu cầu của người không thể đọc được chữ in luôn được tính đến như tài liệu chữ lớn hay dạng âm thanh, trong chương trình cổ động của họ bất cứ khi nào có thể cũng như nhắm đến đối tượng cụ thể là người khiếm thị..

    Một số thư viện (kể cả nhóm North West Time to Read cho cán bộ thư viện) người đang làm việc để xây dựng phong trào đọc, đã sản xuất băng sách nói trong đó có cả phần điểm sách được ghi âm.

    NLB đang kết hợp với Hội phát triển việc đọc sách trong dự án 'Branching Out' để xây dựng những yêu cầu thực hành tốt nhất trong lĩnh vực này. Nếu muốn biết thêm chi tiết, liên hệ

    Linda Corrigan, NLB's Reader Advice Manager
    (email:
    linda.corrigan@nlbuk.org).

    Quan trọng là xây dựng hàng loạt thông tin cổ động cho độc giả khiếm thị. Trong đó có bảng tin, nhóm thảo luận sách, nói chuyện sách trên băng, ngày trưng bày và các sự kiện liên quan đến ngày cổ động đọc toàn quốc (Cũng xem  Chương 15 về quảng cáo dịch vụ thư viện).


    Back to Chapter index
    8.12.2. Thư viện lưu động

    Thư viện lưu động nên tiếp cận được và phải có tài liệu chuyển dạng cho người khiếm thị sử dụng. Cũng nên có mục lục có thể truy cập được qua máy tính xách tay, cùng với bản sao danh mục và thông tin dưới dạng truy cập được.


    Back to Chapter index
    8.12.3. Dịch vụ giao tài liệu tận nhà

    Cần cân nhắc đến nhu cầu của người không đi đứng bị khó khăn hay không tiện khi di chuyển ra khỏi nhà, để đảm bảo là họ cần có tài liệu ở dạng thức thích hợp. Phần lớn người có vấn đề về thị lực là những người chỉ quanh quẩn trong nhà. Số người chỉ ở nhà bị khiếm thị có thể lấy số liệu từ các ban dịch vụ xã hội.

    Nhu cầu từng cá nhân có thể được xét qua các chuyến khảo sát của cán bộ thư viện. Cũng như việc hình thành từ loại tài liệu cần đọc, họ phải biết tài liệu dạng nào và cần có sự hỗ trợ nào được yêu cầu. Nó có thể là các hình thức khác nhau thích hợp cho từng thể loại tài liệu đọc. Truy cập vào nguồn lực thường thông qua mục lục phích đòi hỏi cả sự tham khảo ý kiến của cả bên sử dụng để diễn giải rõ thêm nếu họ cần. 

    Cán bộ thư viện cũng phải đảm bảo là công nghệ thích hợp và công nghệ hỗ trợ là thích hợp cho từng nhu cầu của mỗi cá nhân. Ví dụ, nhiều thư viện cho bạn đọc mượn các thiết bị cơ bản như kính lúp, máy thu băng, v.v.

    Essex Libraries như là một phần trong chương trình Năm quốc gia đọc thử nghiệm dự án Thư viện không tường. Bằng cách sử dụng máy tính xách tay, những người độc giả ở nhà có thể truy cập mục lục thư viện ngay tại nhà của họ. Bạn đọc có thể chọn và yêu cầu bất cứ tài liệu nào từ mục lục. Điều này cho phép bạn đọc chọn những gì họ muốn đọc từ toàn bộ kho sách của thư viện.


    Back to Chapter index
    8.12.4. Chương trình bưu điện dành cho người mù và dịch vụ bưu điện

    Nhu cầu chuyển bưu phẩm miễn phí cho người khiếm thị đã được giao ước trên toàn thế giới. Một số nước còn mở rộng ra cả cho toàn bộ người khuyết tật như Mỹ và các nước Bắc Âu, nhưng ở Anh chỉ giới hạn cho người mù và khiếm thị ví dụ những người gặp khó khăn trong việc đọc hoặc có thị lực chỉ ở độ N 12 hoặc ít hơn thế. Có thể kiểm tra từ các bác sĩ, các chuyên gia khoa mắt hay các nhà bán kính thuốc. Những người đăng ký là người mù đương nhiên là đủ điều kiện được hưởng. Có sự phụ thuộc lớn vào điều kiện giao ước này cho cả người mù và khiếm thị và các nhà cung ứng dịch vụ vì nó cam kết cho tất cả các dịch vụ báo nói hay sách nói và cả dịch vụ do thư viện cung cấp. Vì thế rất quan trọng để đề cập đến quy định luật lệ để thực hiện giao ước này và thúc đẩy mọi sự việc diễn ra theo luật định. Thường là việc này cho phép bưu phẩm hạng một được phép như sách nói, sách chữ Braille, các ấn phẩm in nổi khác cần được dán nhãn và đóng gói cho phù hợp. Luật này bao gồm cả hướng dẫn hiện hành của Bưu điện. (Thư viện thực hiện giao ước chuyển bưu phẩm miễn phí được yêu cầu làm hợp đồng với bưu điện địa phương về việc nhận và phân phối hàng hóa theo đúng điều kiện giao kèo). Quan trọng là thư viện đăng ký với Bưu điện để có thể gửi tài liệu miễn phí đến người sử dụng.

    Chương trình này không bao gồm tài liệu chữ lớn. Có nhu cầu phát triển thêm cả dịch vụ bưu phẩm gửi tài liệu chữ lớn đến người khiếm thị, để đảm bảo mọi tài liệu đều có thể được hưởng điều kiện như nhau do các tổ chức quốc gia và thư viện cung cấp.


    Back to Chapter index
    8.12.5. Cho mượn trang thiết bị

    Một số thư viện, làm việc cùng với các tổ chức đại học hay dịch vụ xã hội tại địa phương cho mượn các trang thiết bị hỗ trợ nhược thị và các thiết bị khác như băng cassette, kính lúp, v.v. Việc cho mượn này có thể trong một thời gian ngắn để sử dụng thử tại nhà, để đánh giá hiệu quả sử dụng của chúng trước khi quyết định mua dụng cụ cho riêng mình, hoặc mượn trong một thời gian dài cho đến khi họ yêu cầu vật dụng nào cụ thể cần dùng. Đối với sinh viên, họ có thể yêu cầu việc mượn này trong suốt khóa học.


    Back to Chapter index
    8.13. Tài liệu tham khảo

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (May 1999). The integrated, accessible library: a model of service development for the 21st century. Report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired Users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation Report 168. Manchester: CERLIM, Manchester Metropolitan University.

     

    Bruce, Ian and Baker, Mark. (2001). Access to written information: the views of 1,000 people with sight problems. London: RNIB.

     

    Bruce, I., McKennell, A. and Walker, E. (1991). Blind and partially sighted adults in Britain: the RNIB survey. Volume 1. London: HMSO

     

    Capital Planning Information Ltd (CPI). (2000). Co-ordinating alternative format title selection. Final report to the Library and Information Commission and Share the Vision. CPI.

     

    Chartres, Stephen. (October 1998 unpublished). The leisure reading needs of visually impaired people from ethnic minority communities. RNIB.

     

    Commission of the European Communities. (1997/8).
    TESTLAB (Testing systems using telematics for library access for blind and visually handicapped readers). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv.htm

     

    Confederation of Transcribed Information Services (COTIS).
    Guidance notes (a series of guidelines for those involved in tape production.)
    General recording technique : Tips on positioning and using the equipment.
    General presentation: Tips on presenting text verbally.
    Reading skills: Tips on enhancing the sound of your voice on tape.
    Publicity: Tips on publicising your service.
    Reading computer material: Tips on reading computer-related material.
    How to deal with tables, graphs, diagrams etc: Tips on presenting visually complicated material.
    Labelling and packaging audio cassettes: Tips on all aspects of labelling and packaging cassettes for producers and users.
    www.cotis.org.uk

     

    Confederation of Transcribed Information Services (COTIS). Reading Masterclass: join Edward Kelsey, "Joe Grundy" of The Archers and master of the spoken word, for tips on how to sound good on tape. COTIS.
    (A 70-minute instructional tape and booklet providing guidance for people involved in reading information on to tape.)

     

    Cornish, Graham P. (1997). Copyright: interpreting the law for libraries, archives and information services. 2nd ed. Library Association Publishing.

     

    Craddock, Peter. (1996). Project Libra: the provision and use of reading aids for visually impaired and other print handicapped people in UK public libraries.
    British Library, Library and Information Research Report, 91.

     

    Davies, J. Eric, Wisdom, Stella and Creaser, Claire. (2001).
    Out of sight but not out of mind. Visually impaired people’s perspectives of library and information services. Report to Resource and Share the Vision. Loughborough: Library and Information Statistics Unit.

     

    eLIB: A brief history to, and background of, the eLib programme. www.ukoln.ac.uk/services/elib/background/history.html

     

    Gloucestershire County Council, Library, Arts and Museum Service. (1998). The Gloucestershire VIP Project: library services for visually impaired people. Gloucestershire County Library.

     

    Gregory, Wendy. (1966). Informability manual: making information accessible in the light of the Disability Discrimination Act. London: Central Office of Information.

     

    Hall, Caroline. (1998). See it and hear it: Islington Library and Information Service. Library Technology, February 1998. Library Association.

     

    Henderson, Dorothy. (2000). Large print - is that all there is? STV News. Issue 33, Summer 2000.

     

    HERON on-line services on demand
    www.heron.ac.uk

     

    Jahoda, Gerald. (1993). How do I do this when I can't see what I'm doing? Information processing for the visually disabled.
    Library of Congress, National Library Service for the Blind and Physically Handicapped.

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi, and Creaser, Claire. (2000). Public library services for visually impaired people. Report to the Library and Information Commission. Loughborough: Library and Information Statistics Unit.

     

    Library Association. (2000). Copyright and the digital environment position paper. www.cilip.org.uk/committees/laca/laca4.html

     

    Machell, Jean. (1996). Library and information services for visually impaired people: national guidelines. Library Association.

     

    Marsland, David. (1992). Read all about it: newspapers for blind people. West London Institute, Centre for Evaluation and Research.

     

    Page, Geraldine. (1990). The public library service and the visually impaired person not yet registered blind: a study submitted in partial fulfilment of the requirements for the degree of Master of Arts in Librarianship. Sheffield University.

     

    RNIB. Read all about it, in any media...your regional RNIB centre. RNIB factsheet.

     

    Talking Newspaper Association UK. (1996). Good practice for talking newspapers. TNAUK.

    Talking Newspaper Association UK. (1999). Guide to tape services for visually impaired and disabled people. TNAUK (annual).

     

    White, P.J. (2001). The deafblind helpbook: practical advice and information for those who support deafblind people. Peterborough: Deafblind UK.
    Deafblind UK also operate a 24 hour helpline (voice and text) for deafblind people on 0800 13 23 20


    Back to Chapter index
    9.1.1. Các nhà cung ứng chính (kinh doanh)

    Chivers Press (BBC)
    Windsor Bridge Road, Bath BA2 3AX
    Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
    email: info@chivers.co.uk website: www.chivers.co.uk
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, một ít sách khoa học và tiểu sử .
    Lượng xuất bản: 360 nhan đề/ năm.
    Hình thức: sách bìa cứng và sách bìa mỏng.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo các danh mục mới xuất bản và danh mục từ trước đến nay.

     

    W.F. Howes Ltd.
    Unit 3, Victoria Mills,
    Fowke Street, Rothley,
    Leicester LE7 7PJ.
    Tel: 0116 230 1144 Fax: 0116 230 1155
    email: info@wfhowes.co.uk
    website: www.wfhowes.co.uk
    Phạm vi: Nhằm mở rộng thị trường sách khoa học và tiểu thuyết đương đại, hoạt động từ tháng 4 năm 2002
    Lượng xuất bản: 96 nhan đề/ năm.
    Hình thức: sách bìa cứng và sách bìa mỏng. Trang bìa laminated, đóng khâu chỉ
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: hàng quý.

     

    Isis Publishing Ltd.
    7 Centremead, Osney Mead,
    Oxford OX2 0ES
    Tel: 01865 250333 Fax: 01865 790358
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết dành cho người lớn, một ít sách khoa học và tiểu sử. Có bộ Reminiscence Series
    Lượng xuất bản: 312 nhan đề/ năm.
    Hình thức: sách bìa cứng và sách bìa mỏng.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: Đặt hàng qua Ulverscroft Large Print Books.
    Mục lục: Thông báo các danh mục mới xuất bản và danh mục từ trước đến nay

    Magna Large Print Books
    Magna HQ, Long Preston, Nr Skipton,
    North Yorkshire BD23 4ND
    Tel: 01729 840225/840251/840526 Fax: 01729 840683
    Phạm vi hoạt động: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, một ít sách khoa học và tiểu sử .
    Lượng xuất bản: 240 nhan đề/ năm.
    Hình thức: sách bìa cứng và sách bìa mỏng.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo các danh mục mới xuất bản và danh mục từ trước đến nay

     

    Severn House
    Bridge End Farm, Long Preston, Skipton BD23 4NN
    Tel: 01729 840010 Fax: 01729 840011
    email: johncressey1@aol.com
    website: www.severnhouse.com
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, xuất bản sách chữ lớn cho bản đầu tiên.
    Lượng xuất bản: 72 nhan đề/ năm.
    Hình thức: sách bìa cứng
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Dạng danh mục in ấn

     

    Ulverscroft Large Print Books Ltd.
    The Green,
    Bradgate Road, Anstey, Leicester LE7 7FU
    Tel: 0116 236 4325 Fax: 0116 234 0205
    email: sales@ulverscroft.co.uk
    website: www.ulverscroft.com
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, một ít sách khoa học và tiểu sử .
    Lượng xuất bản: 456 nhan đề/ năm.
    Hình thức: sách bìa cứng và sách bìa mỏng.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo các danh mục mới xuất bản và danh mục từ trước đến nay

     

    Nhà xuất bản Trẻ
    17 Lý Chính Thắng , Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh
    Tel: 0116 236 4325 Fax: 0116 234 0205
    email: sales@ulverscroft.co.uk
    website: www.ulverscroft.com
    Phạm vi: một ít nhan đề truyện tranh thiếu nhi, giáo dục đạo đức hay tìm hiểu khoa học được in bằng chữ lớn


    Back to Chapter index
    9.1.2. Sách khổ lớn

    RNIB Access books
    RNIB, Customer Services,
    PO Box 173,
    Peterborough PE2 6WS

    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    email: enquiries@rnib.org.uk
    website: www.rnib.org.uk
    Phạm vi: Tài liệu tham khảo, từ điển và bách khoa toàn thư. Ấn phẩm tiếp tục đã ngưng nhưng các nhan đề cũ vẫn còn trong kho.
    Hình thức: sách bìa cứng và sách thường.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo các danh mục mới xuất bản và danh mục từ trước đến nay

     

    Torch Trust for the Blind
    Torch House, Hallaton, Market Harborough,
    Leicestershire LE16 8UJ.
    Tel: 01858 555301 Fax: 0870 770 0262
    email: info@torchtrust.org
    Phạm vi: Cung cấp sách đạo Thiên chúa ở dạng khổ đại hay bằng nhiều hình thức khác nhau. Dịch vụ cho mượn miễn phí chỉ phục vụ cho người sử dụng là cá nhân.


    Back to Chapter index
    9.2. Sách phát âm (Khu vực thương mại)

    Assembled Stories
    PO Box 5212, Grantham, Lincolnshire NG33 5SR
    Tel/Fax: 01476 571333
    email: assembledstories@hotmail.com
    website: www.assembledstories.com
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết cổ điển thế kỷ 19.
    Lượng xuất bản: 12 nhan đề/ năm.
    Hình thức: băng cassette
     
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp hoặc qua Cypher (
    Leeds
    ), Rondo (Dundonald).
    Mục lục: danh mục in.

     

    Audio from Ulverscroft
    Ulverscroft Large Print Books,
    The Green, Bradgate Road, Anstey, Leicester LE7 7FU
    Tel: 0116 236 4325 Fax: 0116 234 0205
    email: sales@ulverscroft.co.uk
    website: www.ulverscroft.com
    Trung tâm cung cấp băng truyện
    . Thông báo ấn phẩm mới hàng quý .

     

    BBC Audio (including BBC Cover to Cover)
    BBC Worldwide, Woodlands, 80 Wood Lane, London W12 0TT
    Tel: 020 8433 2200 Fax: 020 8749 0538
    email: sales@bbc.co.uk
    website: www.bbc.co.uk
    Phạm vi: vốn tài liệu của chương trình phát thanh BBC Radio Collection, gồm kịch, tiểu thuyết, sách thiếu nhi .
    Lượng xuất bản: 100 nhan đề/ năm.
    Hình thức: băng cassette
     và CD.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo danh mục xuất bản phẩm mới bằng danh mục in hay băng cassette .

     

    Chivers Audio Books
    Chivers Press Ltd,
    Windsor Bridge Road, Bath BA2 3AX
    Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
    email: info@chivers.co.uk
    website: www.chivers.co.uk
    Là một phần của BBC trên toàn cầu nhưng tiếp tục cung cấp cho thư viện .
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, một ít sách khoa học và tiểu sử .
    Lượng xuất bản: 200 nhan đề/ năm.
    Hình thức: CD
     hay cassette
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo các danh mục xuất bản phẩm mới xuất bản phẩm đã xuất bản từ trước đến nay.

     

    W.F. Howes Ltd.
    Unit 3, Victoria Mills,
    Fowke Street, Rothley, Leicester LE7 7PJ.
    Tel: 0116 230 1144 Fax: 0116 230 1155
    email: info@wfhowes.co.uk
    website: www.wfhowes.co.uk
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết và sách khoa học, một ít sách thiếu nhi.
    Lượng xuất bản: 176 nhan đề/ năm.
    Hình thức: CD
     và cassette
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo danh mục xuất bản phẩm mới dưới dạng in. Tiếp tục cung cấp các xuất bản phẩm có từ trước.

     

    Isis Audio Books
    Isis Publishing Ltd., 7 Centremead, Osney Mead,
    Oxford OX2 0ES.
    Tel: 01865 250333 Fax: 01865 790358
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, một ít sách khoa học và tiểu sử .
    Lượng xuất bản: 72 CD
     và 192 băng cassette
    / năm.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng qua Ulverscroft Large Print Books.
    Mục lục: Thông báo danh mục xuất bản phẩm mới và xuất bản phẩm đã xuất bản từ trước đến nay.

     

    Magna Story Sound
    Magna HQ, Magna House, Long
    Preston, Nr Skipton,
    North Yorkshire
    BD23 4ND.
    Tel: 01729 840225 Fax: 01729 840683
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, một ít sách khoa học và tiểu sử .
    Lượng xuất bản: 72 băng cassette
     và 24 CD
    / năm.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo danh mục xuất bản phẩm mới và xuất bản phẩm đã xuất bản từ trước đến nay.

     

    Soundings Audio Books
    Isis House, Kings Drive, Whitley Bay, Tyne & Wear NE26 2JT
    Tel: 0191 253 4155 Fax: 0191 251 0662
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, một ít sách khoa học và tiểu sử .
    Lượng xuất bản: 192 băng casstte và 48 CD
    / năm.
    Hình thức: sách bìa cứng và sách bìa mỏng.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng qua Ulverscroft large Print Books.
    Mục lục: Thông báo danh mục xuất bản phẩm mới và xuất bản phẩm đã xuất bản từ trước đến nay.


    Back to Chapter index
    9.3. Sách phát âm (Khu vực tình nguyện)

    CALIBRE
    Aylesbury, Buckinghamshire HP22 5XQ
    Tel: 01296 432339 Fax: 01296 392599
    email: enquiries@calibre.org.uk
    website: www.calibre.org.uk
    Cung cấp dịch vụ gửi bưu điện miễn phí cho sách thu âm đầy đủ cho người mù và khiếm thị .
    Phạm vi: 6500 nhan đề dành cho thiếu nhi và người lớn gồm những tác phẩm bán chạy nhất, sách khoa học phổ thông và những tác phẩm cổ điển tiêu biểu.
    Lượng xuất bản: 350 nhan đề/ năm.
    Hình thức: băng cassette
     chuẩn
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: Sách phân phối qua dịch vụ mượn liên thư viện
     theo quy chế của Thư viện Anh quốc Books. Các tổ chức đăng ký mượn cũng có thể được giải quyết nếu phục vụ cho thành viên đăng ký CALIBRE. Hoặc có chứng nhận của bác sĩ cho các cá nhân không thể đọc sách in ấn
    Mục lục: Mục lục được in chữ lớn, thu băng cassette hay chép trên dĩa máy tính. Danh mục của người lớn sẽ được tính một ít chi phí. Có trên trang web của CALIBRE.

     

    RNIB Talking Book Service
    Customer Services,
    PO Box 173, Peterborough PE2 6WS.
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    Phạm vi: Hơn 12,000 nhan đề chủ yếu là sách văn học cổ điển và khoa học. Đủ loại hình tiểu thuyết: kinh dị, tình cảm, cao bồi miền Tây và cả sách khoa học. Hơn 800 nhan đề cho thiếu nhi, 350 sách ngôn ngữ Châu Á và 300 nhan đề tiếng Welsh .
    Lượng xuất bản: 350 nhan đề/ năm.
    Hình thức: băng cassette
     6 rãnh và CD
     (loại DAISY) .
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo danh mục xuất bản phẩm mới và xuất bản phẩm đã xuất bản từ trước đến nay bằng dạng băng, tệp máy tính hay chữ Braille. Thường kèm tính phí. Thuê máy đọc 32 bảng, mượn sách là 25 bảng, theo chi phí hàng năm. Cá nhân thanh toán theo quý hay theo năm. Chi phí này bao gồm phí máy đọc, mượn không giới hạn và hỗ trợ tình nguyện viên. Lãnh đạo địa phương có thể làm hợp đồng thỏa thuận để phục vụ cộng đồng của họ.

     

    RNIB Cassette Library
    Customer Services, PO Box 173, Peterborough PE2 6WS
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    Phạm vi: khoảng 28,000 nhan đề, sách hướng dẫn (như các mẫu đan, sử dụng máy giặt, v.v..) cũng như các cẩm nang dài hơn như sử dụng máy tính hay các sách thông tin khác; một ít sách giải trí.
    Lượng xuất bản: 360 nhan đề/ năm.
    Hình thức: băng cassette
     2 và 4 rãnh.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: không có danh mục nhưng có mục lục chủ đề nếu khách hàng có yêu cầu  

     

    Torch Trust for the Blind
    Torch House, Hallaton, Market Harborough,
    Leicestershire LE16 8UJ.
    Tel: 01858 555301 Fax: 0870 770 0262
    email: info@torchtrust.org
    Phạm vi: Cung cấp sách văn chương của Thiên chúa giáo. Dịch vụ cho mượn miễn phí chỉ thực hiện cho cá nhân

     

    Thư viện Hà Nội
    41 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
    Cung cấp băng cassette
     về mọi chủ đề phục vụ người lớn và trẻ em.  
     

    Thư viện sách nói Hội Phụ nữ Từ thiện Thành phố Hồ Chí Minh
    180 Nam Kỳ Khởi nghĩa Quận 3, Tp.Hồ Chí Minh 
    Cung cấp băng cassette
     truyện thiếu nhi, tài liệu giải trí, tác phẩm văn học bán chạy nhất, văn học cổ điển nổi tiếng và sách giáo khoa từ lớp 1– 12
    Giá bán 10.000/ băng. Phục vụ miễn phí cho các hội người mù  thông qua các dự án tài trợ

     

    Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp.Hồ Chí Minh. Studio sản xuất sách nói 
    69 Lý Tự Trọng Quận 1 Tp. Hồ Chí Minh
    Tel: 08-8225055 /295632
    Phục vụ tài liệu đa dạng về nội dung như  tâm lý, luật pháp, văn học, phương pháp học, ngoại ngữ, lịch sử, địa lý. Sắp tới sẽ xuất bản sách giáo khoa
    Hình thức: Sách nói kỹ thuật số (DAISY-CD
    ) và băng cassette 
    Lượng xuất bản : 50 nhan đề/ năm
    Đặt hàng trực tiếp: Studio sản xuất sách nói_ Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.
    13.000 đồng/ băng hiệu Maxell; 16.000 đồng/ CD hiệu Maxell; Miễn phí qua các dự án tài trợ của tổ chức và cá nhân.
    Mục lục có thể truy cập tại www.gslhcm.org.vn; Danh mục sách đã xuất bản/ sắp xuất bản được gửi đến các thư viện tỉnh thành trên cả nước và các Hội Người mù.


    Back to Chapter index
    9.4. CD và CD Rom

    Chivers Audio Books on CD and Chivers Ramesis
    Windsor Bridge Road, Bath BA2 3AX
    Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
    email: info@chivers.co.uk
    website: www.ramesis.comwww.chivers.co.uk
    Bộ phận của BBC toàn cầu, tiếp tục phát triển phục vụ cho thư viện.
    Phạm vi: Chủ yếu xuất bản tiểu thuyết, một ít sách khoa học và tiểu sử .
    Lượng xuất bản: 180 nhan đề/ năm.
    Hình thức: CD và CD-ROM
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Thông báo danh mục xuất bản phẩm mới và xuất bản phẩm đã xuất bản từ trước đến nay .
    Tham khảo mục 9.2 đề cập các nhà cung ứng
     vừa CD vừa băng cassette.


    Back to Chapter index
    9.5. Báo và tạp chí chữ lớn

    ‘Big Print’
    P.O. Box 308, Warrington, Cheshire
    Tel: 01925 242222 Fax: 01925 418656
    email: sales@big-print.co.uk
    website: www.big-print.co.uk
    Trả theo quý (£14.75), hai lần/ năm (£27.50) hoặc hàng năm (£52.50).

     

    ‘Reader’s Digest’ (Large print edition),
    Pegasus House, Blagrove,
    Swindon
    SN17 6JJ.
    Tel: 01793 552707 Fax: 01793 552655
    Xuất bản hàng tháng. Chi phí £28.


    Back to Chapter index
    9.6. Báo và tạp chí nói

    AIRS (Access to Information and Reading Services),
    Central Library, Prince
    Consort Road, Gateshead NE8 4LN
    Tel
    : 0191 477 3478 Fax: 0191 477 7852
    Minicom: 0191 478 4839
    email: janiceholmes@gateshead.gov.uk

     

    Association for Blind Catholics
    ‘Mayfield’, 58 Oakwood Road, Horley, Surrey RH6 7BU.
    Tel: 01293 772104
    Cung cấp báo nói
     hàng tháng của Thiên chúa giáo trích từ nhà xuất bản các tờ ‘The Catholic Herald’, ‘The Catholic Times’, ‘The Tablet’ và ‘The Universe’. Phục vụ miễn phí cho thành viên, chi phí đăng ký là (£1 ). Cũng có băng cho thư viện mượn. Các tổ chức muốn sử dụng phải trả phí.

     

    Cue and Review
    18a
    Crowhill Road, Bishopbriggs G64 1QY
    Tel: 0141 563 0306 Fax: 0141 563 0308
    email: information@cueandreview.org.uk
    website: www.cueandreview.org.uk
    Phục vụ cho thanh thiếu niên, phục vụ chuyển dạng theo nhu cầu, có tính thu một ít chi phí

     

    Playback Service for the Blind
    Centre for Sensory Impaired,
    17 Gullane Street, Glasgow G11 6AH.
    Tel: 0141 334 2983 Fax: 0141 334 2983
    email: playback@btinternet.com
    website: www.play-back.com
    Có dịch vụ chuyển dạng, dịch đọc và ghi âm. Xuất bản hàng tháng ‘Playback’ và ghi âm một số báo và tạp chí trên băng. Có các nhan đề sách tiếng
    Scotland trên băng cassette. Thông báo xuất bản phẩm mới dưới dạng in và băng cassette.

     

    Soundings
    Tel: 01273 300001 Fax: 01273 390909
    Soundings Information Line 08457 258852
    email: soundings@afbp.org
    website: www.visound.org
    Chuyên cung cấp tin tức, báo chí và thông tin cho người khiếm thị, Hàng tháng. Miễn phí. Cũng phát trên mạng đài phát thanh toàn cầu hay chương trình ABC Radio, tại www.abcradio.org

     

    Talking Newspaper Association of the UK
    National Recording Centre,
    Heathfield, TN21 8DB
    Tel: 01435 866102 Fax: 01435 865422
    email: info@tnauk.org.uk website: www.tnauk.org.uk
    Phạm vi: 200 nhan đề báo phát hành trên toàn quốc và tạp chí được nhiều người đọc.
    Dạng băng cassette
     được 90 nhan đề văn bản điện tử (CD
     ROM, email).
    Hình thức: sách bìa cứng và sách thường.
    Văn bản: tuyển chọn (băng cassette), tóm tắt (văn bản điện tử)
    Phát hành: gửi qua đ
    ư
    ờng bưu điện. Cung cấp cho các thư viện. Có thể truy cập các văn bản điện tử trực tuyến.
    Mục lục: Thông báo danh mục các xuất bản phẩm mới và danh mục từ trước đến nay
    Chi phí đăng ký: cá nhân trả 45 bảng/ năm (giá ưu đãi là 30 bảng) cho 1 – 3 nhan đề và 105 bảng/ năm (giá ưu đãi là 70 bảng) cho 10 – 15 nhan đề.
    90 bảng/ năm cho dịch vụ gởi CD ROM hàng tuần...
    Giá cả dành cho Thư viện sẽ thay đổi theo nhan đề, nhưng sẽ có giá ưu đãi 250 bảng cho dịch vụ CD ROM

    Tạp chí “Đời mới”. Hội Người mù Việt Nam

    139 Nguyễn Thái Học Hà Nội

    Tel: 04-7333898/ 8452060

    Năm 1991 Hội có trung tâm sản xuất sách nói nên đã chuyển dạng tạp chí ở dạng chữ nổi và chữ in ấn thông thường sang một dạng mới là dạng truyền thanh. Tháng 4 năm 1993 cả 3 loại hình trên của tạp chí đã được Bộ Văn hóa Thông tin cấp phép hoạt động. TW Hội đã xuất bản 9 số báo chữ in ấn thông thường, trung bình mỗi số 3.500 bản; mỗi năm phát hành 6 số báo chữ Braille và 6 số báo băng, với trung bình 650 bản/ số chữ Braille và 320 bản/ số băng.

    Một số tài liệu tuyên truyền dân số và pháp luật được xuất bản bằng băng cassette và chữ Braille

    Là tạp chí dành cho người mù nên mọi chuyện đều là thế giới xung quanh của người mù. Nhưng cũng rất phong phú với 9 chuyên trang, chuyên mục. Từ trang hoạt động Hội, người tốt việc tốt, văn nghệ, phổ biến kiến thức cho đến đất nước con người, trang hoạt động người mù quốc tế...

    Có những dịp kỷ niệm quan trọng cần tuyên truyền và cần có tiếng nói ủng hộ của các cấp ngành, tờ bản in chữ thường mới được xuất bản. Còn định kỳ, tháng chẵn các hội viên có "tờ" chữ nổi, tháng lẻ có "tờ" truyền thanh.

    Năm 1994, Tạp chí đã xuất bản chuyên đề giới thiệu thơ của người mù và thơ viết về người mù mang tên “Hương Đêm”. Tập thơ đã xuất bản trên 5000 cuốn


    Back to Chapter index
    9.7. Thông tin (phát thanh)

    Talking Newspaper Enterprises
    National Recording Centre,
    Heathfield, TN21 8DB
    Tel: 01435 862737 Fax: 01435 865422
    email: tnel@tnauk.org.uk website: www.tnel.co.uk
    Cung cấp thông tin từ cơ quan chính phủ, tổ chức giáo dục và khu vực tình nguyện và kinh doanh.


    Back to Chapter index
    9.8.1. Braille

    National Library for the Blind (NLB)
    Far Cromwell Road, Bredbury, Stockport SK6 2SG
    Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
    Minicom: 0161 355 2043
    email: enquiries@nlbuk.org website: www.nlbuk.org
    Dịch vụ cho mượn miễn phí. Cũng có bán sách tại đây .

    Stock: 40,000 nhan đề in chữ nổi. Có cho mượn về nhà kể cả sách thiếu nhi. Hơn 13,000 nhạc dạng nổi và có thể tải từ thư viện điện tử.
    Hình thức: chữ  Braille.
    Văn bản: đầy đủ.

    Availability: Đặt hàng trực tiếp hay qua hệ thống mượn liên thư viện. Cũng có bán một số nhan đề .

    Catalogues: Mục lục bằng chữ Braille và trên trang web ‘Fiction Café’ www.nlbuk.org/fiction.cafe

     

    Royal National Institute for the Blind (RNIB)
    Customer Services,
    PO Box 173, Peterborough PE2 6WS
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    email: enquiries@rnib.org.uk website: www.rnib.org.uk
    Phạm vi: khoảng 12,000 nhan đề chủ yếu là sách khoa học, nhưng cũng có một số tiểu thuyết cho người lớn và thiếu nhi, báo và nhạc dạng nổi; bán và cho mượn .
    Lượng xuất bản: 500 nhan đề/ năm.
    Hình thức: Braille.
    Văn bản: toàn văn.
    Phát hành: đặt hàng trực tiếp.
    Mục lục: Cung cấp danh mục theo chủ đề. Mục lục Schools và truyện thiếu nhi có trên website không đăng ký cho dịch vụ m
    ượn.

     

    Scottish Braille Press
    Craigmiller Park
    , Edinburgh EH16 5NB.
    Tel: 0131 662 4445 Fax: 0131 662 1968
    email: scot.braille@dial.pipex.com
    website: www.scottish-braille-press.org
    Phạm vi: sách thiếu nhi và người lớn, chủ yếu là sách khoa học phổ thông, làm vườn, nấu ăn, hay chăm sóc sức khỏe gia đình.

     

    Torch Trust for the Blind
    Torch House, Hallaton, Market Harborough,
    Leicestershire LE16 8UJ.
    Tel: 01858 555301 Fax: 0870 770 0262
    email: info@torchtrust.org
    Phạm vi: Văn chương đạo Thiên chúa. Dạng chữ nổi, băng và cả sách in chữ lớn. Lưu hành toàn cầu dưới dạng tạp chí hoặc sách mỏng. Chỉ có cá nhân mới có thể mượn miễn phí .

     

    Hội người mù Việt Nam
    139 Nguyễn Thái Học, Hà Nội
    Do nhu cầu học tập của người mù và để đáp ứng định hướng chiến lược về phát triển Hội, năm 1971 TW Hội đã thành lập tổ nghiên cứu cải tiến thống nhất chữ tắt Braille Tiếng Việt gồm 29 ng
    ư
    ời do ông Đinh Thuyên làm tổ trưởng. Tổ được Viện Nghiên cứu ngôn ngữ và khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp giúp đỡ. Sau 5 năm nghiên cứu và thực nghiệm từ năm 1971 – 1975 tổ đã hoàn thành một bản chữ tắt Tiếng Việt rút ngắn được 40% so với chữ đủ. Hội đã ban hành hệ thống chữ tắt này trên toàn quốc. Đặc biệt chữ Braille Tiếng Việt thời gian này được trình bày khác nhau về dấu thanh. Tuy không có cuộc thảo luận nào nhưng khi đất nước thống nhất thì anh chị em ở cả 3 miền đã tự sử dụng cách đặt dấu như ở miền Bắc vì tiện lợi và đơn giản hơn.
    Năm 1981 – 1982 TW Hội đã biên soạn ký hiệu chữ Braille dùng trong toán học, âm nhạc và biên soạn tài liệu thanh toán mù chữ và làm một số sách có hình ảnh nổi cho các trẻ mù. Năm 1991 TW Hội đã nghiên cứu, biên soạn và xuất bản 2 bộ sách giáo khoa với 2.000 cuốn xóa mù chữ mức 1 (M1) và 1.000 cuốn mức 2 (M2).

    Các cấp Hội cơ sở đã tự đánh máy hơn 1.477 cuốn sách chữ Braille để trang bị tủ sách cho đơn vị

    Câu lạc bộ Thơ Chữ nổi

    Quận hội Hai Bà Trưng

    Thành lập năm 1996

     

    Trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu
    Chi nhánh Tp. Hồ Chí Minh: 184 Nguyễn Chí Thanh, P3, Q10
    Tel: 08-8352959 / 8397470
    email:
    ndc-edu@hcm.vnn/vn
    website:
    www.nguyendinhchieu.thuonghieuviet.com
    Chi nhánh Hà Nội: 195 Đường Nam Bộ

    • Trường tật học - nội trú.
    • Nuôi dạy chăm sóc trẻ khiếm thị từ 3 đến 20 tuổi (từ mẫu giáo đến tốt nghiệp THPT)
    • Hướng nghiệp dạy nghề cho hoc sinh khiếm thị trên 15 tuổi

    Sản xuất sách chữ nổi, thu băng sách nói, in ấn sách giáo khoa

     

    Thư viện KHTH Tp.Hồ Chí Minh. Phòng Đọc dành cho người khiếm thị
    69 Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tel: 08-8225055 / 295632   Fax: 08-293632
    email:
    gsl.hcmc@hcm.vnn.vn
    website:
    www.gslhcm.org.vn
    Chuyển dạng tài liệu sang file điện tử theo yêu cầu.
    Đọc trực tiếp
    Hướng dẫn sử dụng các phần mềm và trang thiết bị
     chuyên dụng


    Back to Chapter index
    9.8.2. Tài liệu chữ Moon

    National Library for the Blind (NLB)
    Far Cromwell Road
    , Bredbury, Stockport SK6 2SG
    Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
    Minicom: 0161 355 2043
    email: enquiries@nlbuk.org website: www.nlbuk.org
    Phạm vi : tiểu thuyết và khoa học, khoảng 5,500 tựa cho người lớn và 100 sách thiếu nhi.


    Back to Chapter index
    9.8.3. Biểu đồ, bản đồ nổi...

    National Centre for Tactile Diagrams
    University
    of Hertfordshire, College Lane, Hatfield,
    Herts AL10 9AB
    Tel: 01707 286348 Fax: 01707 285059
    email: info@nctd.org.uk website: www.nctd.org.uk

     

    Queen Alexandra College
    49 Court Oak Road, Harborne, Birmingham B17 9TG
    Tel: 0121 428 5018 Fax: 0121 428 5048
    email: enquiries@qac.ac.uk website: www.qac.ac.uk

     

    RNIB via Customer Service
    PO Box 173, Peterborough PE2 6WS
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    email: enquiries@rnib.org.uk website: www.rnib.org.uk

     

    Zychem Ltd.
    Deanway Business Park
    , Wilmslow Road, Handforth, Wilmslow, Cheshire SK9 3HW
    Tel: 01625 528811 Fax: 01625 528833
    email: info@zychem-ltd.co.uk website: www.zychem-ltd.co.uk
    Cung cấp thiết bị và giấy để sản xuất .

     

    Thư viện KHTH Tp.Hồ Chí Minh. Phòng Đọc của người khiếm thị
    69 Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tel: 08-8225055 / 295632   Fax: 08-293632
    email:
    gsl.hcmc@hcm.vnn.vn
    website:
    www.gslhcm.org.vn
    Phục vụ chuyển dạng và xây dựng CSDL đồ họa các hình ảnh, biểu đồ, bản đồ nổi phục vụ người khiếm thị. Hàng năm, tổ chức hội thi vẽ tranh cho các em mù tại các mái ấm, nhà mở và trường Nguyễn Đình Chiểu.


    Back to Chapter index
    9.9. Sách thiếu nhi

    Nhiều nhà cung ứng trong thị trường phục vụ thiếu nhi đã liệt kê ở trên. Cần có thêm nhiều nhà cung ứng chuyên nghiệp hơn nữa để phát triển vốn tài liệu cho các em. Xem chi tiết ở cuối chương 7


    Back to Chapter index
    9.10.1. Sách chữ lớn và băng cassette

    RNIB Talking Book Service có khoảng 300 sách tiếng thổ ngữ Indic. Đa số là tiếng Hindi (150) và một số ít khác là tiếng Urdu, Gujarati, Bengali và  Punjabi.

    Trong khu vực kinh doanh có các nhà cung ứng
     :

     

    Indian Talking Library
    Tel: 020 7609 3590 (Work) 07768 732122 (
    Mobile)
    (Mr Narendra Mehta)
    Gồm có các nhan đề băng cassette
     bằng tiếng Hindi, Urdu và Gujarati.

     

    Rolex Books
    81-83 Wilmslow Road, Rusholme, Manchester M14 5SU.
    Tel: 0161 225 4448 Fax: 0161 255 4884 (Mr Atif Darr)
    email: rolexbooks@iname.com
    Gồm có các nhan đề băng cassette
     bằng tiếng Urdu, Hindi and Gujarati.

     

    Sonex Marketing
    100 College Road, Harrow, Middlesex HA1 1EN
    Tel: 020 8424 8816 or 020 8422 5172 (Mr Morar)
    Fax: 020 8424 8411
    Có khoảng 70 nhan đề băng tiếng Indic trên băng cassette
     và phục vụ cho thiếu nhi theo yêu cầu

     

    Star Publishers Distributors
    112
    Whitfield St., London W1T 5EE
    Tel: 020 7380 0622 Fax: 020 7419 9169
    Sách chữ lớn các ngôn ngữ Hindi, Urdu, Gujarati, Bengali; và băng cassette
     bằng tiếng Hindi, Urdu, Gujarati và Punjabi.

     

    Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Studio sản xuất sách nói 69 Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tel: 08-8225055 / 295632   Fax: 08-293632
    email:
    gsl.hcmc@hcm.vnn.vn
    website:
    www.gslhcm.org.vn
    Chọn bài theo chuyên đề / theo yêu cầu. Sản xuất sách nói phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số
    . Đã phát hành CD và băng thu âm tài liệu tiếng Khơme, Ê đê và Xơ đăng.


    Back to Chapter index
    9.10.2. Báo và tạp chí

    Hội người mù Châu Á
    Garrow House,
    190 Kensal Road, North Kensington,
    London
    W10 5BT.
    Tel: 020 8962 2633 Fax: 020 8962 2630
    email: bhartipunjani@hotmail.com
    Tiếng Hindi (hàng tháng)

     

    Bradford Talking Magazines
    Cathedral Centre,
    Captain Street, Bradford BD1 4EL
    Tel: 01274 848150 Fax: 01274 848152
    Bhol Chal_ tiếng Urdu (hai tuần 1 lần)
    Ghat Baat_ tiếng Punjabi (hàng tháng)

     

    Kiran Talking Newspapers
    Brent Asian Visually Handicapped Group, Cameron House,
    80 Pound Lane, Willesden, London NW1O 2HT
    Tel: 020 8451 4354
    Tiếng Gujarati (hàng tuần)

     

    Leicestershire and Rutland Society For the Blind
    Resources Centre,
    Gedding Road, Leicester LE5 5DU
    Tel: 0116 249 0909 Fax: 0116 249 8828
    email: leicsblind@btconnect.com
    Tiếng Gujarati, Punjabi

     

    Liverpool Voluntary Society for the Blind
    Murial Crooke House,
    Yoens Way, Liverpool LI4 2EP
    Tel: 0151 221 0888 Fax: 0151 221 0889
    email: lvsb@lvsb.freeserve.co.uk
    Tin tức tiếng Hoa (hàng tháng)

     

    Organisation of Blind African Caribbeans
    1st Floor, Gloucester House,
    8 Camberwell New Road,
    London SE5 ORZ

    Tel: 01772 744148
    Tiếng Gujarati (hai tuần 1 lần) và tiếng Urdu (hàng tháng)

     

    Punjabi Talking Newspapers
    c/o Ealing Talking Newspapers, Bedford Hall, Bedford Road, Ealing, London W13 OSP
    Tel: 020 8840 2313
    Tiếng Punjabi (hàng tháng)

     

    Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Studio sản xuất sách nói 69 Lý Tự Trọng, Quận 1, Tp.Hồ Chí Minh, Việt Nam
    Tel: 08-8225055 / 295632   Fax: 08-293632
    email:
    gsl.hcmc@hcm.vnn.vn
    website:
    www.gslhcm.org.vn
    Sản xuất báo nói
     theo chuyên đề và theo yêu cầu. Ví dụ đã phát hành DAISY- CD bộ sưu tập bài báo về Sài Gòn - Địa danh; Sài Gòn – Nhân vật


    Back to Chapter index
    9.10.3. Thông tin

    Talking Eyes Information Service
    Birmingham Libraries and Birmingham Focus.
    c/o
    Birmingham Focus Resource Centre, 48 Woodville Road, Harborne, Birmingham
    B17 9AT.
    Tel: 0121 428 5046 Fax: 0121 428 5008
    email:
    usha@birminghamfocus.org.uk
    Tiếng Gujarati, Urdu, Bengali, Punjabi.
    Thông tin về cộng đồng, tin tức và nhu cầu tiêu dùng. Có phiên bản tiếng Anh.

     

    Hội người mù Việt Nam
    139 Nguyễn Thái Học, Hà Nội.
    Năm 1970 Hội đã xuất bản tờ “Tin tức hoạt động” bằng chữ Braille và chữ thường, in ấn Điều lệ Hội, các tài liệu văn bản của Đại hội, giới thiệu chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người mù, tổ chức và hoạt động của Hội. Đến 1973 tờ tin tức hoạt động được đổi thành bản tin. Năm 1975 nội san Đời mới bằng chữ Braille được xuất bản thay cho bản tin. Năm 1981 Hội được tài trợ một xưởng in chữ Braille nên chất lượng in ấn cũng như số lượng bản in được tăng. Năm 1985 Trung Ương Hội đã quyết định đổi “Nội san Đời Mới” thành “Tạp chí Đời Mới”.


    Back to Chapter index
    9.11. Băng hình có thuyết minh mô tả hình ảnh

    Royal National Institute for the Blind
    Customer Services,
    PO Box 173, Peterborough PE2 6WS.
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    email: enquiries@rnib.org.uk website: www.rnib.org.uk
    Phạm vi: Các phim mới, kể cả kịch và phim thiếu nhi. Thuê hoặc mua.
    Lượng xuất bản: 15 nhan đề/ năm.
    Hình thức: VHS.
    Văn bản: toàn văn và thêm phần thuyết minh mô tả .
     Mục lục: Thông báo hàng năm bằng chữ lớn, băng tiếng và chữ nổi cũng như qua email và đĩa máy tính .
    Đăng ký : thuê  2,50 bảng/ nhan đề trong vòng 2 tuần. Cá nhân có thể mua theo giá bán lẻ chính thức.

     

    Các cơ quan, tổ chức phục vụ người mù và khiếm thị tại Việt Nam

     

    Hội Người Mù Việt Nam

    Hội người Mù Việt Nam, thành lập ngày 17/4/1969, là một tổ chức tập hợp hàng trăm ngàn người mù, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí vươn lên hoà nhập vào cộng đồng của người mù. Trải qua 35 năm xây dựng và phát triển, Hội Người Mù đã không ngừng lớn mạnh về nhiều mặt. Cán bộ, hội viên ngày càng được chăm sóc tốt hơn, được học chữ, học nghề, có công ăn việc làm, sống có ích cho xã hội. Hội đã mở rộng quan hệ đối ngoại với nhiều tổ chức quốc tế, thu hút các chương trình, dự án tạo điều kiện cho hội viên được vay vốn, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho bản thân và gia đình. Hội đã làm tốt nhiệm vụ chính trị của mình là chăm lo đời sống cho hội viên, động viên giáo dục cán bộ, hội viên chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tham gia các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước... Phát triển tổ chức, phát triển hội viên; động viên người mù phát huy tình đồng tật, đoàn kết, thương yêu nhau, chăm lo giúp đỡ nhau về tinh thần và vật chất, cùng phấn đấu vươn lên hoà nhập vào cuộc sống gia đình và xã hội; bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên và người mù, quan tâm chăm lo phụ nữ và trẻ em mù; tổ chức, tạo điều kiện phục hồi chức năng, dạy chữ, dạy nghề, quản lý các cơ sở sự nghiệp, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ do Hội thành lập; góp phần giải quyết việc làm, từng bước ổn định cuộc sống, nâng cao trình độ văn hoá, nghề nghiệp và dân trí cho hội viên; đề đạt, kiến nghị với Nhà nước ban hành chính sách, chế độ cần thiết cho người mù và tổ chức Hội, tích cực tác động để những chính sách đó nhanh chóng đi vào cuộc sống; phối hợp với các cơ quan chức năng của Nhà nước giúp đỡ Hội xây dựng kế hoạch và thực hiện các chương trình chăm lo đời sống cho người mù, đẩy mạnh "Xã hội hoá hoạt động Hội"; mở rộng, tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với các tổ chức người mù và kém mắt, các tổ chức nhân đạo, từ thiện trên thế giới; cùng các tổ chức xã hội khác, tích cực đấu tranh, bảo vệ hoà bình, đẩy lùi các tệ nạn xã hội, ngăn ngừa các tai nạn, bảo đảm an toàn lao động đề phòng chống mù loà.

     

    Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ mồ côi Việt Nam

    Hội Bảo trợ Người tàn tật và Trẻ mồ côi VN được thành lập từ năm 1992. Qua 13 năm hoạt động, Hội đã vận động, tập hợp sự ủng hộ, tài trợ của các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước để góp phần chăm sóc sức khoẻ, phục hồi chức năng, hỗ trợ học văn hoá, học nghề, tạo việc làm cho hàng vạn người tàn tật và trẻ mồ côi.

    Riêng năm 2004, ở TW và địa phương đã có hàng ngàn tổ chức, các nhà hảo tâm ủng hộ số tiền và hiện vật trị giá hơn 18 tỷ đồng. Hội đã hỗ trợ số tiền này cho người tàn tật và trẻ mồ côi qua các chương trình.

     

    Ban Điều phối các Hoạt động Hỗ trợ Người tàn tật Việt Nam (NCCD)

    Được Chính phủ cho phép, Ban Điều phối các Hoạt động Hỗ trợ Người tàn tật Việt Nam (NCCD) được thành lập tháng 1/2001. Đến nay có 26 uỷ viên từ 15 Bộ, ngành hữu quan và 5 tổ chức người tàn tật và vì người tàn tật. Sau 4 năm hoạt động, NCCD đã có nhiều đóng góp, tham mưu cho Chính phủ, các Bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện các Nghị quyết của Liên Hợp Quốc, UNESCAP, các chương trình hành động khu vực Châu Á - TBD; đôn đốc theo dõi, giám sát các chính sách, chế độ đối với người tàn tật, góp phần thúc đẩy việc ban hành bộ Quy chuẩn, tiêu chuẩn đầu tiên ở Việt Nam về xây dựng các công trình để đảm bảo cho người tàn tật tiếp cận sử dụng, hoà nhập cộng đồng.

    Thông qua các hoạt động, NCCD đã tăng cường quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế để được hỗ trợ, giúp các chương trình, dự án, các phương tiện chuyên dùng cho người tàn tật, đặc biệt các khoá đào tạo, bồi dưỡng tập huấn nâng cao năng lực cho người tàn tật. Đã có chuyển biến bước đầu trong việc quan tâm dạy văn hoá, dạy nghề và bố trí việc làm phù hợp đối với người tàn tật có đủ điều kiện làm việc...

     

    Diễn đàn Người Khuyết tật Việt Nam http://www.vndisability.net

    Diễn Đàn Người Khuyết Tật Việt Nam được thành lập với mục đích làm nơi tập trung người Việt Nam trên khắp thế giới để có thể cùng nhau giao lưu, trao đổi, học hỏi, an ủi và giúp đỡ người khuyết tật.

    Diễn đàn Người Khuyết tật ở Việt Nam là mạng lưới quốc tế gồm nhiều tổ chức phi chính phủ và các tổ chức phục vụ người khuyết tật ở Việt Nam. Điều phối bởi Trung tâm nguồn lực VUFO-NGO ở Hà nội. Thông tin về các dịch vụ sức khỏe và phục hồi, việc làm, hội nhập và đào tạo nghề, phòng chống bệnh tật , nhận thức về người khuyết tật và việc tiếp cận không rào cản vào những công trình công cộng

    Chủ trì: Ms Nguyen Hong Ha, Disability Forum <forum@hn.vnn.vn>

    The Disability Forum
    Khách sạn 33b Phạm Ngũ Lão, Hà nội, Việt Nam
    Tel/Fax: (84-4) 933 1239
    Website:
    http://forum.wso.net

     

    Câu lạc bộ Tin học khiếm thị Hà Nội

    Số 11 Ngő 1 Tạ Quang Bửu

    Được Viện Nghiên cứu hỗ trợ phát triển giáo dục Hà Nội tài trợ. Tổ chức các khóa học NDC (chương trình soạn thảo văn bản dành cho người khiếm thị) và JAWS đã có thể đánh word, viết email, lướt web thành thạo

     

    Trung tâm Tia Sáng

    Tầng II, số 844, Minh Khai (quận Hai Bà Trưng)

    Đào tạo miễn phí tin học và Internet cho người khiếm thị. Các môn chính là Soạn thảo văn bản NDC, chương trình hỗ trợ tin học cho người khiếm thị JAWS, Microsoft Word, khai thác thông tin trên Internet, viết Email… Tất nhiên, mọi thứ đều hoàn toàn miễn phí.

     

    Câu lạc bộ Bừng sáng

    Từ năm 1985 đến nay, là nơi nuôi dưỡng và dạy dỗ các học trò khiếm thị.

     

    Câu lạc bộ Tháng Năm

    Dự án đọc sách thu băng cho các em trường Nguyễn Đình Chiểu

    Bạch Thùy Linh (Nguyet-ca)
    Hoặc: P.311 – D2 –
    Mobile
    : 0904 291 854
    Email:
    nguyetca1985@yahoo.de

     

    Mái ấm Thiên Ân

    40 / 34 Tân Hương, phường 16, quận Tân Bình,

     

    Trường Khiếm thị Nhật Hồng

    20/4 Xô Viết Nghệ Tĩnh, phường 19, quận Bình Thạnh

    Nhật Hồng là một trong ba cơ sở nuôi dạy trẻ khiếm thị được các Sơ dòng Mến Thánh Giá thành lập từ năm 1995. Hiện nay có 38 em bị khiếm thị bẩm sinh, với độ tuổi từ 9 đến 20 đang được các Sơ chăm sóc và dạy một nghề nhất định để làm hành trang bước vào đời sống tự lập sau này.

    Nhằm giúp các em có điều kiện nhập hội vào xã hội các Sơ đã dạy các em cách đọc chữ nổi (chữ Braille) và gởi các em đến học tại các trường dành cho người khiếm thị. Kể từ năm 2001 với sự ủng hộ về phần mềm của chương trình phát âm giúp người khiếm thị Nguyễn Đình Chiểu, trường đã bắt đầu sử dụng máy vi tính để giúp các em nghe các bản tin, đọc các trang web và liên lạc qua e-mail bằng âm thanh hay ánh sáng và chữ nổi Braile.

    Từ khi thành lập đến nay đã có 5 em rời khỏi Nhật Hồng hoà nhập vào cuộc sống xã hội. Trong đó có 4 em đã lập gia đình, 1 em du học tại Nhật. Theo sự đánh giá của các Sơ, em này học rất khá, từng đậu vào trường Cao Đẳng Sư Phạm ngành Anh Văn. Ngoài việc học ra em còn giỏi về đàn, nhạc, biết tiếng Nhật và biết massage. Với vốn tiếng Nhật sẵn có cộng thêm sự nổ lực từ bản thân, em đã tài trợ sang Nhật du học. Riêng các em đã lập gia đình vẫn được các Sơ quan tâm, giúp đỡ...

    Là một Tổ chức từ thiện dân lập với 100% chi phí do nhà dòng và các nhà hảo tâm đài thọ, trường luôn mong ước nhận được sự góp tay của các nhà hảo tâm khắp nơi

     

    Trung tâm từ thiện xã hội Chùa Kỳ Quang

    136 Khu phố 3, P.Thạnh Lộc, Q12, TPHCM

    Tiếp nhận, nuôi dưỡng, giáo dục và dạy nghề cho hơn 200 trẻ khiếm thị, khiếm thính, chậm phát triển trí tuệ, tâm thần, bại liệt, bại não, hội chứng Down, nhiễm chất độc da cam và nhiễm HIV.

    Ngoài việc chăm sóc nuôi dưỡng, phục hồi chức năng, giáo dục văn hóa, cơ sở còn tổ chức các lớp dạy nghề, dạy võ thuật và vật lý trị liệu cho các em. Đến nay đã có 6 lớp phổ cập cấp II cho các em khiếm thị, 5 lớp cấp I trẻ sáng mắt với 102 em, 1 lớp mẫu giáo cho các em mồ côi và dị tật nhẹ, 5 lớp cấp I cho các em khiếm thị, 1 lớp vật lý trị liệu cho các em đa tật, trong đó có 36 em khiếm thị được đào tạo từ lớp Đông Y bấm huyệt massage, được cấp chứng chỉ hành nghề phục vụ tại phòng khám Tuệ Tĩnh Đường (chùa Kỳ Quang II).

    Ngoài ra, cơ sở còn thành lập các lớp dạy tân, cổ nhạc, đội bóng đá và lớp nhu đạo dưỡng sinh cho 35 em khiếm thị, mở các lớp dạy nghề thủ công, thổ cẩm, cây kiểng non bộ, các mặt hàng song mây được làm từ cây, quả dừa khô, tre, các loại hoa vải. Mặt hàng do các em làm ra được trưng bày và tiêu thụ mang lại thu nhập, nguồn vui cho các em.

    Còn rất nhiều trung tâm mái ấm nhà mở khác tổ chức nuôi dưỡng, giáo dục và giúp đỡ tạo mọi điều kiện có thể được để đưa người khiếm thị hòa nhập nhanh hơn và cuộc sống như Trường khuyết tật Thiên Phước_ Củ Chi, Tổ Hợp Hồng phúc, Trường nuôi dạy trẻ em khuyết tật Thành Tâm_ Cần Giờ, Bến xe Miền Đông, Xóm Mới, Bình chánh - Lạng Sơn, Trường Hoàng Mai,…

    Các mái ấm Nhà mở với nhiều hoạt động tương tự hay hoạt động đặc trưng của địa phương ở miền Trung và miền Bắc.


    Back to Chapter index
    10.1.1. Khó khăn

    Giống như bao người khác trong cộng đồng, người khiếm thị cũng có nhu cầu thông tin và học tập; vấn đề là họ phải tiếp cận với nguồn lực này bằng những hình thức chuyển dạng thay thế cho tài liệu in. Tuy nhiên số tài liệu ở dạng mà họ có thể đọc được rất hạn chế. Trong khoảng 100,000 tài liệu được xuất bản mới ở Anh hàng năm, chỉ có 5% nhan đề được chuyển qua dạng thay thế cho loại in ấn thông thường và chỉ có một số ít các cơ quan tổ chức sản xuất những tài liệu này. Các tổ chức này thường có phạm vi hoạt động nhỏ (ở Anh là CALIBRE, Clear Vision) chuyên xuất bản các tài liệu đặc biệt cho người khiếm thị. Các nhà kinh doanh thường sản xuất sách cỡ lớn như Ulverscroft, Cover to Cover, Isis chủ yếu cung cấp cho thư viện công cộng với số lượng rất hạn chế và chỉ nhắm vào độc giả người khiếm thị cao tuổi. Tài liệu sách báo nói được xuất bản nhiều hơn nhằm thể hiện sự quan tâm đến nhu cầu giải trí hay thông tin của cả người lớn lẫn trẻ em vì loại hình tài liệu này có thể sử dụng trên xe ô tô hay dùng máy cầm tay và hiện nay được xuất bản ở cả dạng CD và băng cassette.

    Ở Việt Nam, số lượng tài liệu chuyển dạng quá ít đến nỗi không thể tính được tỷ lệ phần trăm của chúng so với số đầu tài liệu được phát hành hằng năm. Hiện nay, các trường phổ thông đặc biệt, hội người mù, câu lạc bộ, tổ chức từ thiện và một số thư viện tích cực tham gia sản xuất sách chữ nổi, sách nói analog, sách nói kỹ thuật số…Nhưng tất cả đều chưa đáp ứng được nhu cầu học tập, giải trí, thông tin và văn hoá của người khiếm thị ở Việt Nam


    Back to Chapter index
    10.1.2. Công cụ chủ yếu

    Phải xử lý biên mục tài liệu chuyển dạng vào mục lục quốc gia, mục lục liên hợp của khu vực và cơ sở dữ liệu giới thiệu sách, kể cả ấn phẩm của các nhà xuất bản mang tính thương mại cũng như phi thương mại để giới thiệu cho công chúng độc giả. Vì các nguồn lực bị giới hạn về số lượng, chỉ được một số tổ chức nhỏ xuất bản và lưu giữ các tài liệu đó, nên cần phải xây dựng mục lục liên hợp cho những tài liệu này. Đây là công cụ chủ yếu để độc giả có thông tin về những nhan đề tài liệu nào đã được chuyển dạng và chuyển dạng qua hình thức nào. Mục lục liên hợp có giá trị kiểm soát thư mục, thủ tục mượn liên thư viện, chọn lựa tài liệu và thuận lợi cho các hoạt động khuyến khích người dân đọc sách.


    Back to Chapter index
    10.1.3. NUCAF

    Mục lục liên hợp quốc gia về các nguồn tài liệu chuyển dạng của các tổ chức xuất bản phi lợi nhuận được Viện Hoàng gia Anh cho người mù (RNIB) xây dựng. Là một nhà sản xuất tài liệu chuyển dạng, RNIB tự xây dựng mục lục cho vốn tài liệu nội bộ của mình. Năm 1984, RNIB bắt đầu thu thập thông tin về tài liệu của các nhà xuất bản chữ Braille hay tài liệu nói trong các tổ chức tình nguyện, để có thêm nguồn thông tin tư liệu khác. Tuy nhiên, việc thu thập thông tin không theo hệ thống và kết quả chỉ được phản ánh một phần nào đó. Vào năm 1989, RNIB bắt đầu thực hiện tin học hoá hệ thống mục lục phích, kết quả là NUCAF - Mục lục liên hợp quốc gia được hình thành.


    Back to Chapter index
    10.1.4. Đánh giá NUCAF

    Là một phần trong chương trình được Bộ văn hoá, Thông tin và Thể thao tài trợ để cải tiến dịch vụ thông tin và thư viện cho người khiếm thị, vai trò của NUCAF được đánh giá vào năm 1999 (Chapman, 1999). Bảng đánh giá kết luận mục lục liên hợp quốc gia của các tài liệu chuyển dạng là công cụ cần thiết để cung cấp dịch vụ và trong khi NUCAF có phần hạn chế trong hình thức trình bày, đặc biệt là mặt truy cập, thì nó cũng đã tạo được bước cơ bản tốt cho việc xây dựng một cơ sở dữ liệu toàn diện hơn.


    Back to Chapter index
    10.1.5. Định hướng tương lai

    Bảng đánh giá đề nghị Thư viện Anh phải chịu trách nhiệm chính về cơ sở dữ liệu tài liệu chuyển dạng như là một phần của thư mục quốc gia, nhưng phải có sự phối hợp giữa Thư viện quốc gia của người mù và Viện Hoàng gia của người mù là những nơi đóng vai trò chủ trì và tạo dựng nên. Bảng đánh giá cũng đề nghị cơ sở dữ liệu mới này phải tập trung các nhan đề xuất bản và lưu trữ của các nhà xuất bản không mang tính thương mại và phải có hợp đồng hợp tác giữa những cơ sở dữ liệu và những mục lục liên hợp có sẵn của các xuất bản phẩm mang tính thương mại.


    Back to Chapter index
    10.1.6. Truy cập

    Nhiều người sẽ hưởng lợi ích nhờ vào khả năng truy cập vào cơ sở dữ liệu. Người khiếm thị từ trẻ em đến người lớn, với nhiều khả năng trình độ, cần thông tin tài liệu để làm việc, nghiên cứu, giải trí và có một số người chịu ảnh hưởng thêm từ một hay nhiều khuyết tật khác. Cả những người làm việc trong môi trường gần gũi với người khiếm thị (giáo viên và phụ huynh của người khiếm thị, con cái của người khiếm thị và người chăm sóc người đa khuyết tật). Bên cạnh thư viện, nhiều cán bộ cơ quan khác (bác sĩ, nha sĩ và cán bộ y tế, ngân hàng, trung tâm tư vấn, ngành điện lực, khí đốt và nước, văn phòng du lịch, tổ chức giáo dục và trường học, văn phòng chính phủ và người cung cấp các dịch vụ khác) cũng sẽ sử dụng cơ sở dữ liệu này hay giới thiệu nó cho người khác sử dụng. Hiện nay người khiếm thị và những người đang làm việc để hỗ trợ họ khi sử dụng NUCAF còn gặp một số trở ngại. Cơ sở dữ liệu mới sẽ được thiết kế để người sử dụng và nhân viên thư viện có thể dễ dàng truy cập hơn. Để đạt được điều đó, cơ sở dữ liệu phải được tổ chức trên hệ thống web, có cả phiên bản CD và tệp điện tử khác.


    Back to Chapter index
    10.1.6.1. Truy cập qua Web

    Đây là sự lựa chọn mang tính linh động nhất của cơ sở dữ liệu và cho phép truy cập tuỳ chọn đối với nhiều đối tượng sử dụng khác nhau kể cả nhân viên thư viện hay người sử dụng. Hàng loạt chức năng trình bày dữ liệu sẽ sẵn sàng phục vụ nhiều thành phần độc giả. Tuy nhiên, việc cung cấp Internet thì đa dạng, cá nhân và một số tổ chức nhỏ hiện nay ít có khả năng truy cập và đối với phần lớn những người này tình trạng này sẽ không thay đổi nhiều trong thời gian tới. Do đó, phải có cách khác để tiếp cận cơ sở dữ liệu này.


    Back to Chapter index
    10.1.6.2. Phiên bản CD_ROM

    Khi không có hay không thể sử dụng Internet, thì CD-ROM nên được phổ biến sử dụng (ví dụ trong nhà chung cư, dịch vụ thư viện lưu động, thư viện bệnh viện cho bệnh nhân, nhà xuất bản tài liệu chuyển dạng khu vực tình nguyện và các cá nhân) và giúp giảm bớt áp lực cho các điểm truy cập dịch vụ trực tuyến.


    Back to Chapter index
    10.1.6.3. Tệp điện tử

    Là một phần tích hợp trong cơ cấu mượn liên thư viện quốc gia, tệp CSDL phải nên đưa vào mục lục liên hợp của hệ thống thư viện khu vực thông qua Unity và V.3 Online (trước đây là Viscount) và đưa vào thư mục quốc gia.


    Back to Chapter index
    10.1.7. Tiến trình

    Những đề nghị này được Ban hợp tác giữa Ủy ban Thông tin và Thư viện và tổ chức Share The Vision (LIC/ STV) quyết định ưu tiên đưa việc xây dựng CSDL vào kế hoạch chương trình. Những đề nghị này hiện cũng được bàn bạc bởi các tổ chức đã được đề nghị hỗ trợ, quản lý và bảo trì CSDL như: Thư viện Anh, NLB và RNIB. Ban hợp tác LIC/ STV đã chọn Reveal làm tên của CSDL nâng cao. Chương trình phối hợp và cộng tác của Thư viện Anh tài trợ nghiên cứu tính khả thi (Chapman, 1999), để đưa ra những đề nghị cụ thể cho các bước tiếp theo của dự án. Dựa vào những đề nghị này, cơ quan nguồn lực đã đưa tiêu chuẩn kỹ thuật cho hệ thống quản lý thư viện để làm Reveal và BLCPP tài trợ cho nhà quản lý dự án Reveal trong một thời hạn nhất định.


    Back to Chapter index
    10.2.1. Phạm vi hoạt động

    NUCAF hiện đang có khoảng 90.000 biểu ghi từ hơn 260 tổ chức. Trong số này, hơn 63.000 biểu ghi từ RNIB, khoảng 11.400 biểu ghi của NLB và khoảng 5.800 của Cablire. Các tổ chức còn lại có ít hơn 1.000 biểu ghi trên CSDL, có tổ chức có ít hơn, chỉ vài trăm biểu ghi.


    Back to Chapter index
    10.2.2. Hình thức tài liệu

    Tài liệu hiện có trong CSDL nhiều nhất là ở dạng truyền thống, tài liệu chữ nổi và tài liệu nói của các tổ chức phục vụ người khiếm thị. Số lượng chiếm đa số là tài liệu chữ Braille, hơn bốn mươi ngàn biểu ghi. Cũng có hơn một ngàn biểu ghi của tài liệu Moon và các dạng nổi khác. Tài liệu nói được chia thành băng cassette, có hai hay bốn track (hơn hai mươi bốn ngàn biểu ghi) và sách nói, có 6 track và đòi hỏi có thiết bị nghe đọc đặc biệt (hơn mười một ngàn biểu ghi). Ngoài ra, có khoảng năm trăm biểu ghi tài liệu chữ lớn và khoảng bảy mươi biểu ghi văn bản điện tử. Dịch vụ sách nói kỹ thuật số mới từ RNIB dự định sẽ ra đời vào ngày 22 tháng 4 năm 2002 và biểu ghi cho các nhan đề dạng đó sẽ xuất hiện trên NUCAF kể từ sau ngày đó.


    Back to Chapter index
    10.2.3. Tài liệu chưa được tập trung vào CSDL

    Đó là một số tài liệu chưa tập trung liệt kê trong NUCAF. Hiện nay, NUCAF không có tài liệu nói và cỡ lớn do các nhà xuất bản có tính thương mại sản xuất, vốn tài liệu thư viện công cộng về mảng tài liệu nói và khổ lớn hay các nhan đề báo tạp chí nói của địa phương. Khác với CSDL truy cập từ RNIB, NUCAF không có văn bản điện tử.


    Back to Chapter index
    10.2.4. Nội dung tài liệu

    Tài liệu liệt kê trên NUCAF rất đa dạng. Về tiểu thuyết có các tác phẩm cổ điển lẫn hiện đại, kể cả tài liệu cho từng nhóm đối tượng, cho cả người lớn và trẻ em. Tài liệu khác tiểu thuyết từ sách dạy nấu ăn đến cẩm nang sử dụng máy tính; kể cả nhan đề học thuật chuyên ngành, tài liệu ở ngôn ngữ khác và sách nhạc Braille. Ngoài ra còn có các tài liệu ít xuất hiện trong mục lục của thư viện (ví dụ, bảng hướng dẫn sử dụng máy giặt).


    Back to Chapter index
    10.3.1. Khả năng truy cập của NUCAF

    Hiện NUCAF được lưu trên CSDL của RNIB; vì những giới hạn của hệ thống mà nó không truy cập trực tiếp được. Tuy nhiên, hồ sơ của NUCAF hiện sẵn sàng trên CSDL UnityWeb do Talis và CSDL V3.Web (trước đây là V.3 Online) nhằm phục vụ mượn liên thư viện. Truy cập UnityWeb và V3.Web thường là truy cập qua bộ phận mượn liên thư viện của các thư viện. Các cán bộ thư viện ở các bộ phận khác – ví dụ, bàn thông tin, bàn lưu hành, điểm phục vụ thiếu nhi, thư viện chi nhánh, dịch vụ lưu động và phân phối tài liệu thư viện trường học nên yêu cầu bộ phận mượn liên thư viện cung cấp thông tin tư liệu chi tiết.


    Back to Chapter index
    10.3.2. Truy cập qua UnityWeb

    CSDL UnityWeb (www.unityweb.org) bao gồm một dạng mục lục liên hợp, CSDL thư mục Quốc gia Anh và CSDL của các bộ sưu tập chính của Thư viện Anh. Mục lục liên hợp nhiều thư viện cộng cộng ở Vương quốc Anh và Ireland, Trung tâm cung cấp tài liệu thư viện của Anh và vài trường đại học và thư viện chuyên ngành và NUCAF.

    Người đăng ký có thể truy cập Unityweb từ bất kỳ máy tính đơn nào có trình duyệt Web nối Internet. Nó được cập nhật thường xuyên. Có thể tra cứu theo tên tác giả, nhan đề, chủ đề, ngày tháng, số (ví dụ ISBN, ISSN), hình thức, ngôn ngữ và địa điểm lưu trữ. Hình thức của tài liệu được ghi cụ thể:

    - Sách khổ lớn
    - Tài liệu nói
    - Sách chữ nổi Braille của NUCAF
    - Sách Nói của NUCAF
    - Băng cassette của NUCAF
    - Chữ nổi Moon của NUCAF
    - Tài liệu in của NUCAF (ví dụ, in chữ lớn)

    Sử dụng các chức năng tìm kiếm nâng cao, kết quả tra cứu có thể được chọn lọc tốt hơn. Kết quả có thể được lưu và tích hợp với nhau. Ví dụ, tài liệu có thể truy cập bằng các cách tìm sau:

    - Tài liệu nói và băng casstte của NUCAF
    - Tài liệu nói và băng casstte của NUCAF và Braille của NUCAF
    - Chữ lớn và tài liệu in của NUCAF.


    Back to Chapter index
    10.3.3. Truy cập qua V3.Web

    V3.Web (www.v3web.com) là bước kế thừa dạng web của hệ thống mượn liên thư viện V.3 online. CSDL có mục lục liên hợp theo địa phương của các thành viên của nó (Luân đôn và khu vực Đông nam, Tây Midlands và Nam xứ Wales) và một số CSDL của một số nơi khác nữa, (trong đó có hồ sơ của NUCAF). Vào tháng giêng của năm 2000, tất cả thư viện thành viên truy cập trực tuyến trực tiếp đến CSDL thư mục chính cũng như vào CILLA (Hợp tác lưu giữ tài liệu thư viện ngôn ngữ Indic), tài liệu của NUCAF và ấn phẩm định kỳ của Thư viện Anh. Hồ sơ của NUCAF được cập nhật định kỳ hàng quý.

    Có thể tìm tin trên CSDL theo tác giả, nhan đề, từ khoá và ISBN và cách thức tra cứu có thể được giới hạn theo cách của CSDL NUCAF để đảm bảo có được kết quả chính xác. Trong hồ sơ của NUCAF, có thể giới hạn phép tra cứu ở dạng tài liệu cụ thể như:

    - Tài liệu nói
    - Braille
    - Moon
    - Băng hình

    Phép tra cứu có thể kết hợp, ví dụ tìm cả hai dạng Braille và tài liệu nói và có thể tài liệu của địa phương và tài liệu của NUCAF. Hiện nay các chỉ mục hình thức không có dạng chữ lớn. Kết quả tra tìm được trình bày trên từng dòng truy xuất riêng và có đường dẫn liên kết đến biểu ghi trình bày đầy đủ

    Các yêu cầu về bất cứ tài liệu nào đều có thể gửi trực tiếp đến NLB và khi thông tin trong phiếu yêu cầu mượn tương thích với mã mượn liên thư viện đối với NLB thì nó tự động được đưa vào bảng phân công của thư viện. Người sử dụng V3.Web có thể tạo phiếu yêu cầu liên thư viện hoàn toàn theo quy trình điện tử.

    NLB truy cập trực tiếp đến V3.Web và giám sát hệ thống hàng ngày để theo dõi yêu cầu gửi đến. NLB nhận yêu cầu trực tiếp rồi chuyển chúng đến các cơ quan giữ tài liệu (ví dụ: RNIB, CALIBRE, v.v). Cần phải hợp nhất CSDL của NLB và RNIB để thông tin tư liệu duy nhất sẽ được chuyển qua V3.Web cho biết nơi giữ tài liệu cụ thể, sau đó các thủ tục được tiến hành bằng cách điện tử.


    Back to Chapter index
    10.3.4. Tính sẵn sàng của tài liệu

    Biểu ghi trên CSDL liên quan đến tài liệu được nhiều tổ chức chuyên nghiệp phi thương mại lưu trữ và việc mở rộng phục vụ tài liệu sẽ do các tổ chức đó xác định. Yêu cầu mượn tài liệu liệt kê trên NUCAF phải được thực hiện theo các thủ tục mượn liên thư viện (Xem chương 11)


    Back to Chapter index
    10.3.5. Các tệp máy tính được truy xuất

    Ngoài các tệp truy xuất hoàn toàn qua Unity và V.3Web, có hai hồ sơ phụ của NUCAF có thể phục vụ từ RNIB. Những hồ sơ này truy xuất theo hình thức mã ASCII để tải về hệ thống khác. Các tệp tin phụ đã có này bao gồm CSDL Tài liệu Giáo khoa cho Người khiếm thị (VIDE) phục vụ cho trường học và Gói tài liệu của Thư viện trường Đại học (ALP) cho tài liệu chương trình sau đại học. Dịch vụ thư viện của trường học quan tâm đến việc sử dụng các hồ sơ phụ này sẽ liên hệ với RNIB để biết thêm chi tiết.


    Back to Chapter index
    10.4.1. Mở rộng phạm vi hoạt động sang các khu vực chuyên gia

    Do thiếu hoạt động cập nhật bổ sung một cách hệ thống các dữ liệu từ tổ chức khác bên ngoài, nên có sự thiếu hụt trong bộ sưu tập của NUCAF. CSDL REVEAL được xây dựng sẽ đảm bảo bù lấp được sự thiếu hụt trong CSDL và các dữ liệu thông tin tư liệu hiện không có trên CSDL thì sẽ được thêm vào. Theo Brazier, Dane và Leeves, 1999, hiện nay có hơn tám mươi lăm ngàn biểu ghi xác định cần đưa vào CSDL. Một số công việc biên mục hồi cố được tài trợ qua chương trình DCMS. Kết quả của công việc này là có thêm tám trăm năm mươi biểu ghi cho các nhan đề mà CALIBRE lưu trữ. Biểu ghi biên mục cũng được xuất bản cho vốn tài liệu của Dịch vụ Giáo dục Leeds, trường Linden Lodge và những nhan đề NLB bỏ sót không được đưa vào NUCAF. Dự định là tất cả những nhan đề trên sẽ đưa vào mục lục liên hợp Reveal như một phần của quá trình hoà nhập của NUCAF. Một số kế hoạch biên mục hồi cố sẽ được lên kế hoạch thực hiện.


    Back to Chapter index
    10.4.2. Mở rộng phạm vi hoạt động sang các khu vực thương mại

    Bên cạnh việc tập trung thu thập thông tin tư liệu được xuất bản từ khu vực phi thương mại, Reveal sẽ tiếp tục mở rộng sang dữ liệu sách mang tính thương mại của các nhà cung cấp và hệ thống thư viện khu vực nhằm tạo ra Hồ sơ dữ liệu sách xuất bản trong đó có sách nói và chữ lớn.


    Back to Chapter index
    10.4.3. Mở rộng khả năng truy cập

    CSDL REVEAL sẽ đưa nhiều cách thức truy cập khác nhau:

    a) Hệ thống trên web sẵn sàng cho tất cả mọi người truy cập Internet
    b) Có trên UnityWeb và V3.Web và các CSDL khác thông qua hồ sơ truy xuất;
    c) Có trên dạng CD Rom (rất tiện cho dịch vụ thư viện lưu động, dịch vụ phát chuyển tài liệu về nhà, trường học,v.v.)


    Back to Chapter index
    10.4.4. Khi nào REVEAL sẵn sàng?

    Việc phát triển NUCAF thành REVEAL hiện là lĩnh vực ưu tiên trong kế hoạch của Ban hợp tác nguồn lực của Share The Vision, với nhiều công việc dự định yêu cầu hoàn thành trong 18 tháng. Các đặc tính kỹ thuật đã được đưa ra và quy trình tìm hệ thống thích hợp như nền chạy CSDL đã được bắt đầu. Nhiều công việc hơn cũng cần được đưa ra để qui định và thực hiện cơ cấu hỗ trợ quản lý và hình thành quỹ cho dịch vụ; một nghiên cứu được báo cáo vào tháng 3 năm 2002. Nhà cung cấp hệ thống theo hợp đồng sẽ đưa ra các sửa đổi cần thiết và cài đặt hệ thống. Biểu ghi sẽ được xuất từ hồ sơ NUCAF hiện nay vào hệ thống mới và hồ sơ này sau đó được tăng thêm nhờ việc bổ sung biểu ghi qua chương trình chuyển đổi hồi cố. Khi việc hoà nhập biểu ghi được hoàn thành, REVEAL sẽ khai trương dịch vụ vào đầu năm 2003; dự án hợp tác dành cho hồ sơ lưu trữ thư viện và tài liệu xuất bản sẽ được tính vào giai đoạn hai

    Để hỗ trợ cộng đồng người khiếm thị việc khám phá nguồn lực càng sớm càng tốt, Ban hợp tác nguồn lực của STV sẽ tài trợ cho việc phát triển Hồ sơ đăng ký bộ sưu tập REVEAL. Ghi nhận chi tiết của bộ sưu tập của các tài liệu truy cập trên nước Anh sẽ cho phép người sử dụng xác định được tài liệu theo nhan đề, hình thức chuyển dạng, ngôn ngữ và theo chủ đề cụ thể. Dự tính sẽ thực hiện chương trình này vào đầu năm 2002


    Back to Chapter index
    10.4.5. Đặc điểm của RevealWeb

    Nội dung của Revealweb; cơ sở dữ liệu tài liệu truy cập được

    Chính sách chỉ rõ những gì đưa vào và những gì không đưa vào CSDL Revealweb và/ hoặc đăng ký người cung ứng

    Mô tả Revealweb

    Revealweb là mục lục trên web tập trung thông tin nhan đề tài liệu được xuất bản ở dạng ở dạng truy cập được của nhiều tổ chức khác nhau.

    Revealweb sẽ :

    - Tìm sách dạng Braille, moon, băng sách, sách nói số hóa, đồ thị nổi và chữ lớn.
    - Tìm nhan đề hiện đang được xuất bản ở dạng thay thế để tránh trùng lắp
    - Tìm nơi xuất bản, cho mượn và bán các tài liệu dạng thay thế
    - Là trung tâm đăng ký bản quyền

    Revealweb sẽ không:

    - Sắp xếp việc cung cấp nguồn lực hơn là cung cấp thông tin liên lạc
    - Chịu trách nhiệm về sự hiện hữu của tài liệu
    - Chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng của nguồn lực
    - Chịu trách nhiệm về chất lượng dịch vụ của các nhà cung ứng
    - Quảng bá hay chứng thực chất lượng sản phẩm

    Đối tượng

    Revealweb nhằm để phục vụ người khiếm thị và những người có liên quan đến họ.

    Các loại hình dữ liệu được chấp nhận

    Loại hình truy cập được
    Nguồn lực phải tồn tại ở một hay nhiều dạng truy cập được

    Braille

    Sử dụng sự kết hợp 6 chấm nổi để hình thành các chữ và số. Một người khiếm thị có thể dịch giải những chấm này khi di chuyển các ngón tay dọc theo hàng chữ nổi.

    Có hai cấp độ chữ Braille. Cấp độ 1 là từng ký hiệu Braille là một ký tự hay dấu chấm. Braille cấp 2 có ký hiệu đặc biệt thay thế cho chữ, giúp đọc và viết nhanh hơn và giảm bớt lượng giấy cần dùng .

    Moon

    Mã chữ nổi đơn giản của hình dáng con chữ bình thường. Ký tự đơn giản Moon dễ học hơn chữ Braille và giúp những người già tiếp tục tự đọc một mình được nếu mặt kém thị lực đi

    Nhạc Braille

    Cũng dựa trên 6 chấm theo chữ Braille truyền thống nhưng có thêm các ký hiệu khác cho nốt nhạc, phím, thời gian và nhịp điệu

    Braille và in

    Văn bản chữ Braille và chữ in đựơc cung cấp. Thỉnh thoảng in chen lẫn xen kẽ vào nhau.

    Moon và in

    Văn bản chữ Moon và chữ in được cung cấp. Thỉnh thoảng in chen lẫn xen kẽ vào nhau.

    Biểu và bản đồ nổi

    Những biểu đồ này photocopy hay in trên giấy “phồng “ ứng nhiệt. Khi giấy được đưa qua máy “làm hình ảnh nổi lên” các đường đen hút nhiệt nhanh và phồng lên. Hình ảnh nổi cần lưu trữ cẩn thận để đảm bảo bề mặt nổi không bị hư hỏng hay bị làm xẹp xuống. Chúng có thể được dán nhãn và chú thích bằng chữ Braille hay các loại chữ nổi khác. Mô tả băng nói cũng rất hữu ích để hỗ trợ cho biểu đồ, bản đồ và hình nổi.

    Băng cassettes 2 rãnh

    Thường do tác giả hay các nghệ sĩ đọc thu vào băng cassette.

    Băng cassettes 4 rãnh

    Thường do tác giả hay các nghệ sĩ đọc thu vào băng cassette. Dùng thiết bị đọc đặc biệt.

    Sách nói 8 rãnh

    RNIB dùng cassette 8 rãnh cần có thiết bị thu và đọc đặc biệt. Vui lòng xem định nghĩa hình thức DAISY (DTB) format cho loại sách nói kỹ thuật số.

    Đĩa sách nói

    Sách nói xuất bản trên CD có thể nghe bằng máy hát CD thông thường.

    Hình thức DAISY (DTB)

    Hệ thống thông tin truy cập kỹ thuật số cho phép định vị các phần của bài đọc từ chương hay phần. Trong khi bạn có thể dùng đầu đọc DAISY để nghe CD bình thường nhưng không thể dùng máy đọc CD bình thường để đọc đĩa DAISY. Cũng có thể nghe bằng máy tính nhưng phải có phần mềm đọc đặc biệt.

    Tệp văn bản điện tử

    Đây là những tệp tin dạng điện tử có thể tải bằng máy tính. Thường chúng có thể đọc bằng phần mềm xử lý văn bản

    Tệp nhạc Braille điện tử

    Đây là những tệp tin dạng điện tử có thể tải bằng máy tính. Để có thể đọc được những tệp tin này, máy tính phải có phần mềm dịch nhạc Braille.

    Chữ Braille điện tử

    Đây là những tệp tin dạng điện tử có thể tải bằng máy tính. Để có thể đọc được những tệp tin này, máy tính phải có phần mềm chuyển chữ Braille.

    Chữ lớn

    Tài liệu in cỡ chữ lớn hơn bình thường. Từ 14 ppt. trở lên. Cỡ từ 18 ppt trở lên được coi là cỡ chữ đại.

    Băng hình có thuyết minh mô tả hình ảnh

    Có thể mở bằng máy đọc video bình thường và có lời thuyết minh cho hình ảnh diễn ra trên phim. Những lời thuyết minh làm tăng thêm phần diễn xuất cho diễn viên.

    Các hình thức tài liệu truy cập được sẽ được đánh giá khi chúng được tạo ra.

    Tài liệu in thông thường không đưa vào CSDL Revealweb. Tuy nhiên đăng ký dịch vụ sẽ có luôn liên kết với vốn tài liệu hữu ích ở dạng in thông thường khi có thể.

    Tập tin duy nhất và bản gốc

    Tập tin duy nhất và bản gốc được xác định cùng với các chi tiết làm thế nào có những bản bổ sung ở hình thức mong muốn.

    Chủ đề

    Tất cả mọi chủ đề đều được đưa vào. Chỉ có nguồn lực và tài liệu chứa thông tin có hại hoặc bất hợp pháp thì sẽ bị loại trừ. Nội dung được thông báo trong biểu ghi biên mục.

    Loại tài liệu được chấp nhận

    Nơi cung cấp biểu ghi sẽ quyết định việc chuyển biểu ghi hay không chuyển vào cơ sở dữ liệu Revealweb tùy thuộc vào giá trị tồn tại của tài liệu. Họ cũng chịu trách nhiệm về tính hiện hữu của tài liệu theo cam kết của hợp đồng đóng góp biểu ghi Revealweb.

    Nguồn thông tin được chấp nhận

    Thông tin từ nguồn của trường đại học, chính phủ, cơ quan kinh doanh, thương mại và công nghiệp phi lợi nhuận và tư nhân đều được chấp nhận miễn là chúng đáp ứng tính truy cập được và đảm bảo các tiêu chí đánh giá và có độ bền vững.

    Mức độ khó có thể chấp nhận được

    Nội dung nguồn lực phải đảm bảo có tất cả mức độ khó để nhiều người có thể tìm được tài liệu ở tất cả cấp độ họ đọc được.

    Quảng cáo

    Người đăng ký sẽ không kèm theo thông tin về nhà cung ứng dịch vụ công nghệ hỗ trợ vì nó có thể được hiểu là quảng cáo cho sản phẩm.

    Khả năng

    Độ cập nhật

    Nhà cung cấp sẽ chỉ cung cấp thông tin về tài liệu cho độc giả. Tài liệu hiện đang chuẩn bị xuất bản cũng có thể được đưa vào. Nhưng những tài liệu không có thì không đưa vào.

    Công bố nơi lưu trữ

    Những tài liệu không có thông tin địa điểm trực tiếp kèm theo, ví dụ tài liệu của các nhà xuất bản được giữ tại các thư viện công cộng địa phương. (được xét đến khi có ý kiến của các cung ứng kinh doanh)

    Phí

    Nguồn lực kinh doanh hay có thu phí sẽ được xem xét nhưng thông tin giá cả phải được thông báo trong phiếu đăng ký cho khách hàng biết.

    Đăng ký

    Sẽ xem xét những tài liệu đã đăng ký sử dụng trước nhưng thông tin đăng ký cần thiết phải đề cho khách hàng biết trong phiếu đăng ký.

    Phạm vi địa lý

    Tài liệu nếu truy cập được ở nước ngoài sẽ được đưa vào. Phiếu đăng ký phải cho biết thông tin về các điều kiện truy cập.

    Ngôn ngữ

    Tài liệu ở bất cứu ngôn ngữ nào ngoài tiếng Anh.

    Liên kết các CDSL khác

    CSDL Revealweb cũng tương thích giao thức Z39.50 và vì thế có thể tra cứu qua các dịch vụ trên web khác theo chuẩn Z39.50.

    Bản quyền

    Revealweb là cơ quan đăng ký bản quyền chính thức và sẽ thu âm tài liệu theo các điều khoản của giấy phép CLA.

    Trách nhiệm của nhà sản xuất là thông báo các tài liệu chuyển dạng trên CSDL Revealweb.

    Phạm vi của Revealweb sẽ được đánh giá hàng năm theo nhóm Hợp tác quản lý Revealweb

    Tháng 2 năm 2004

    Tiêu chuẩn Revealweb

    Trang web Revealweb được xây dựng theo hướng dẫn khởi xướng trang web truy cập được của mạng toàn cầu (W3C Web Accessibility Initiative (WAI).

    CSDL Revealweb dùng chuẩn biên mục theo khổ mẫu đọc máy
    MARC21 bibliographic standard cho phép xác định đâu là tài liệu chuyển dạng.

    CSDL Revealweb cũng tương thích với chuẩn giao thức Z39.50 và vì thế có thể tìm qua các dịch vụ trên web hợp chuẩn (
    Z39.50 standard
    ).

     

    Quản lý Revealweb

     

    Nhà quản lý Revealweb

     

    Nhà quản lý Revealweb Manager hợp tác điều hành Revealweb, giám sát việc sử dụng và phân phối dịch vụ và theo dõi các xu hướng phát triển mới. Nhà quản lý báo cáo trực tiếp cho Nhóm hợp tác quản lý.

     

    Nhóm hợp tác quản lý

     

    Nhóm hợp tác quản lý gồm các thành viên của NLB và RNIB và đại diện của Ban nguồn lực, đại diện cho các nhà đóng góp để đảm bảo tính hiệu quả của Revealweb.

     

    Ban tư vấn chính sách Revealweb

     

    Ban tư vấn chính sách Revealweb chịu trách nhiệm về xu hướng phát triển trong tương lai của Revealweb. Ban này họp mặt hai lần trong năm và có cả đại diện của các nhà đóng góp và khách hàng.

     

    Hỗ trợ và tài trợ

     

    Revealweb cần sự tài trợ để điều hành dịch vụ. Nếu bạn có quan tâm đến đầu tư cho Revealweb xin vui lòng liên hệ với nhà quản lý Revealweb.

     

    Cám ơn tất cả các nhà tài trợ, hỗ trợ, cung ứng đã làm cho Revealweb trở thành hiện thực và cảm ơn tất cả các tổ chức đóng góp dữ liệu vào dịch vụ.

     

    Revealweb được tài trợ bởi:

     

    - Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao (DCMS).
    - Nguồn lực, hội đồng bảo tàng, thư viện và lưu trữ.
    - Chương hợp tác và thành viên của Thư viện Anh quốc.
    - Quỹ Lloyds TSB.
    - Quỹ Ellerman.
    - Thư viện quốc gia cho người mù (NLB).
    - Viện nghiên cứu người mù hoàng gia Anh (RNIB).

     

    Revealweb cũng được hỗ trợ bởi:

     

    - Share the Vision (STV).
    - Văn phòng Vương quốc Anh phụ trách về mạng lưới thư viện (UKOLN).

     

    Revealweb cũng cảm ơn những đồng sự gắn bó với dự án:

     

    - Juliet Leeves, cố vấn kỹ thuật biên mục.
    - Ann Chapman, cố vấn dữ liệu biên mục.
    - Rik Shepherd, cố vấn truy cập web.
    - Geac Ltd, mục lục trên web và hệ thống thư viện.

    http://www.revealweb.org.uk/about/faq.htm#content

    Back to Chapter index
    10.5. Tài liệu tham khảo

    Brazier, Helen, Dnae, Karen và Leeves, Juliet.(1999). Dự án chuyển đổi hồi cố NUCAF, giai đoạn 1- Điều tra. Báo cáo gửi Ban hợp tác LIC/ STV giai đoạn 1

     

    Chapman, Ann(1999). Dự án 1: xây dựng và phát triển mục lục liên hợp quốc gia cho tài liệu chuyển dạng. Phần A: Vai trò tương lai của NUCAF và đặc tính kỹ thuật của yêu cầu siêu dữ liệu. Báo cáo gửi Ban hợp tác LIC/ STV của Dự án 1

    Cả hai báo cáo này hiện có trên website của UKOLN tại địa chỉ www.ukoln.ac.uk

     

    Chapman, Ann (2000) Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia nguồn lực tài liệu chuyển dạng: nghiên cứu tính khả thi

    Báo cáo cho chương trình hợp tác và phối hợp Thư viện Anh từ Ban điều hành phát triển Reveal của STV


    Back to Chapter index
    10.2.1. Độ lớn

    NUCAF hiện đang có khoảng chín mươi ngàn biểu ghi từ hơn 260 tổ chức. Trong số này, hơn sáu mươi ba ngàn biểu ghi từ RNIB, khoảng mười một ngàn bốn trăm biểu ghi của NLB và khoảng năm ngàn tám trăm của Cablire. Các tổ chức còn lại có ít hơn một ngàn biểu ghi trên CSDL, nhiều nơi khác thì có ít hơn một trăm biểu ghi.


    Back to Chapter index
    10.2.2. Hình thức

    Các nhan đề liệt kê trong CSDL nhiều nhất là hình thức truyền thống dưới dạng nổi và tài liệu nói từ các nhà xuất bản có tổ chức phục vụ người khiếm thị. Số lớn nhất là tài liệu chữ Braille, hơn bốn mươi ngàn biểu ghi. Cũng có hơn một ngàn biểu ghi của tài liệu Moon và các dạng nổi khác. Tài liệu nói được chia thành băng cassette, có hai hay bốn track (hơn hai mươi bốn ngàn biểu ghi) và sách nói, có 6 track và đòi hỏi có thiết bị nghe đọc đặc biệt (hơn mười một ngàn biểu ghi). Còn nữa, có khoảng năm trăm biểu ghi tài liệu chữ lớn và khoảng bảy mươi biểu ghi văn bản điện tử. Dịch vụ sách nói kỹ thuật số mới từ RNIB dự định sẽ ra đời vào ngày 22 tháng 4 năm 2002 và biểu ghi cho các nhan đề dạng đó sẽ xuất hiện trên NUCAF kể từ say ngày đó.


    Back to Chapter index
    10.2.3. Tài liệu ngoại lệ

    Đó là một số tài liệu không được liệt kê trong NUCAF. Hiện nay, NUCAF không chứa tài liệu nói và cỡ lớn, vốn tài liệu thư viện công cộng của tài liệu nói và cỡ lớn, hay báo tạp chí nói địa phương. Khác với tài liệu truy cập ở RNIB, nó không có văn bản điện tử.


    Back to Chapter index
    10.2.4. Dạng tài liệu

    Tài liệu liệt kê trên NUCAF rất đa dạng. Về tiểu thuyết có nhan đề cổ điển lẫn hiện đại, kể cả tài liệu cho từng nhóm đi tượng, cho cả người lớn và trẻ em. Tài liệu phi tiểu thuyết từ sách dạy nấu ăn đến cẩm nang máy tính; kể cả nhan đề học thuật chuyên ngành, tài liệu ở ngôn ngữ khác và sách nhạc Braille. Còn có các tài liệu không thường có mặt trong mục lục của thư viện (ví dụ, tờ rời hướng dẫn sử dụng máy giặt).


    Back to Chapter index
    10.3.1. Truy cập NUCAF

    Hiện NUCAF được lưu trên CSDL của RNIB; vì những giới hạn của hệ thống mà nó không truy cập trực tiếp được, Tuy nhiên, hồ sơ của NUCAF hiện sẵn sàng trên CSDL UnityWeb do Talis và CSDL V3.Web (trước đây là V.3 Online) nhằm phục vụ mượn liên thư viện. Truy cập UnityWeb và V3.Web thường là chỉ qua bộ phận mượn liên thư viện của các thư viện. Các cán bộ thư viện dựa vào các bộ phận nơi họ cần tư vấn cho những người sử dụng trực tiếp – ví dụ, bàn thông tin, bàn lưu hành, khu vực thiếu nhi, thư viện chi nhánh, dịch vụ lưu động và phân phối tài liệu về nhà dân, và dịch vụ thư viện trường học yêu cầu bộ phận mượn liên thư viện cung cấp thông tin tư liệu chi tiết


    Back to Chapter index
    10.3.2. Truy cập qua UnityWeb

    CSDL UnityWeb (www.unityweb.org) ở dưới dạng mục lục liên hợp, CSDL thư mục Quốc gia Anh và CSDL của các bộ sưu tập chính của Thư viện Anh. Mục lục liên hợp có nhiều thư viện cộng cộng ở Vương quốc Anh và Ireland, Trung tâm cung cấp tài liệu thư viện của Anh, và vài trường đại học và thư viện chuyên ngành, và NUCAF

     

    Người đăng ký có thể truy cập Unityweb từ bất kỳ máy tính đơn nào có trình duyệt Web nối Internet. Nó được cập nhật thường xuyên. Các loại tra cứu theo tên tác giả, nhan đề, chủ đề, ngày tháng, số (ví dụ, ISBN, ISSN), hình thức, ngôn ngữ, và địa điểm lưu giữ. Hình thức của tài liệu có thể được ghi cụ thể trong lúc tìm kiếm gồm có:

    • Sách cỡ lớn
    • Tài liệu nói
    • Braille NUCAF
    • Sách Nói của NUCAF
    • Băng cassette của NUCAF
    • Moon của NUCAF
    • Tài liệu in của NUCAF (ví dụ, in chữ lớn)

    Sử dụng các chức năng tìm kiếm nâng cao, kết quả tra cứu có thể được chọn lọc tốt hơn. Kết quả có thể được lưu và phối hợp với nhau. Ví dụ, tài liệu có thể truy cập bằng các cách tìm sau:

    • Tài liệu nói và Casstte của NUCAF
    • Tài liệu nói và Casstte của NUCAF và Braille của NUCAF
    • Chữ lớn và tài liệu in của NUCAF

     


    Back to Chapter index
    10.3.3. Truy cập qua V3.Web

    V3.Web (www.v3web.com) là bước kế thừa dạng web của hệ thống mượn liên thư viện V.3 online. CSDL có chứa mục lục liên hợp khu vực của các thành viên của nó (Luân đôn, và khu vực Đông nam, tây Midlans và Nam xứ Wales) và một số hồ sơ của nơi khác nữa, (trong đó có hồ sơ của NUCAF). Vào tháng giêng của năm 2000, tất cả thư viện thành viên truy cập trực tuyến trực tiếp đến CSDL thư mục chính cũng như vào CILLA (Hợp tác lưu giữ tài liệu thư viện ngôn ngữ Indic), tài liệu của NUCAF và tài liệu nhiều kỳ của Thư viện Anh. Hồ sơ của NUCAF được cập nhật theo quý.

     

    CSDL có thể tra tìm theo nhiều cách chi tiết như tác giả, nhan đề, từ khoá, và số (như ISBN) và một phép tra cứu có thể được giới hạn trong CSDL NUCAF để đảm bảo nhiều biểu ghi trong phép tra cứu được trình bày. Trong hồ sơ của NUCAF, có thể giới hạn phép tra cứu ở hình thức cụ thể. Hình thức đó là:

    -          Tài liệu nói

    -          Braille

    -          Moon

    -          Băng hình

     

    Hình thức cũng có thể kết hợp, ví dụ tìm cả hai dạng Braille, và tài liệu nói, và tra tìm có thể chọn cả khu vực và tài liệu của NUCAF. Hiện nay các chỉ mục hình thức không có dạng chữ lớn. Kết quả tra tìm được trình bày trên từng dòng truy xuất riêng, và có đường dẫn liên kết đến biểu ghi trình bày đầy đủ.

     

    Yêu cầu bất cứ tài liệu nào có thể trực tiếp đến NLB, và khi yêu cầu mượn liên thư viện tương thích với mã liên thư viện thì tự động biểu ghi đưa vào nơi đưa yêu cầu. V3.Web có thể tạo yêu cầu liên thư viện quản lý hoàn toàn theo quy trình điện tử.

     

    NLB truy cập trực tiếp đến V3.Web và quan sát hệ thống hàng ngày để theo dõi yêu cầu gửi đến. Hiện tại thì NLB sau khi nhận yêu cầu sẽ gửi nhan đề yêu cầu trực tiếp đến cơ quan lưu giữ chúng (như RNIB, Calibre,v.v) có thể dự đoán  trước khi nhiệm vụ hợp nhất CSDL của NLB và RNIB hoàn thành và chỉ còn có một CSDL, thì thông tin tư liệu sẽ được chuyển qua V3.Web để có địa chỉ lưu giữ tài liệu cụ thể, tất cả sau đó sẽ được chỉ ra trực tiếp theo con đường truy xuất  điện tử.


    Back to Chapter index
    10.3.4. Tình trạng tài liệu

    Biểu ghi trên CSDL liên quan đến tài liệu được lưu trữ do nhiều tổ chức chuyên nghiệp phi thương mại, và trạng thái sẵn sàng của tài liệu sẽ do các tổ chức đó xác định. Yêu cầu tài liệu được liệt kê trên NUCAF qua thủ tục mượn liên thư viện (Xem chương 11)


    Back to Chapter index
    10.3.5. Các tệp máy tính được truy xuất

    Ngoài các tệp truy xuất hoàn toàn qua Unity và V.3Web, có hai hồ sơ phụ của NUCAF có thể phục vụ từ RNIB. Những hồ sơ này truy xuất theo hình thức mã ASCII để tải về hệ thống. Hồ sơ này cũng có mặt trong CSDL tài liệu gíao khoa cho người khiếm thị (VIDE) phục vụ cho trường học và Hệ thống thư viện trường đại học (ALP) để trao đổi mượn tài liệu học tập ở cổng 16. Dịch vụ thư viện của trường học quan tâm đến việc sử dụng các hồ sơ phụ này sẽ liên hệ với RNIB để biết thêm chi tiết


    Back to Chapter index
    10.4.1. Mở rộng pham vi hoạt động sang các khu vực chuyên ngành

    Vì thiếu việc bổ sung có hệ thống các dữ liệu từ tổ chức khác ngoài bản thân RNIB, sự thiếu hụt xảy ra từ bộ sưu tập của NUCAF. Khi CSDL REVEAL được xây dựng, cơ hội này sẽ đảm bảo lấp được sự thiếu hụt trong CSDL và các dữ liệu của tài liệu hiện không có trên CSDL thì sẽ được thêm vào. Công việc hiện nay (Brazier, Dane và Leeves, 1999) xác định có hơn tám mươi lăm ngàn biểu ghi cần đưa vào CSDL. Một số công việc biên mục hồi cố được tài trợ qua chương trình DCMS. Kết quả của công việc này có thêm tám trăm năm mươi ngàn biểu ghi cho các nhan đề của Cablire lưu trữ. Biểu ghi biên mục cũng được xuất bản cho vốn tài liệu của Dịch vụ Giáo dục Leeds, trường Linden Lodge và những nhan đề NLB bỏ sót không được đưa vào NUCAF, nó được tính là tất cả những nhan đề trên sẽ đưa vào mục lục liên hợp Reveal như một phần của quá trình hoà nhập của NUCAF. Một số kế hoạch biên mục hồi cố sẽ được lên kế hoạch thực hiện


    Back to Chapter index
    10.4.2. Mở rộng phạm vi hoạt động sang các khu vực thương mại

    Bên cạnh việc nâng cao hồ sơ thống nhất của khu vực phi thương mại, về sau Reveal sẽ tiếp tục mở rộng sang dữ liệu sách thương mại của các nhà cung cấp và hệ thống thư viện khu vực nhằm tạo ra Hồ sơ sách xuất bản và hồ sơ tài liệu thư viện cho sách nói và chữ lớn thương mại.


    Back to Chapter index
    10.4.3. Mở rộng truy cập

    CSDL REVEAL sẽ cung cấp hàng loạt các con đường truy cập khác nhau:

    a)  thống trên web sẵn sàng cho tất cả mọi người truy cập Internet;

    b)  có trên UnityWeb và V3.Web và các CSDL khác thông qua hồ sơ truy xuất;

    c)  có trên dạng CD Rom (rất có ích cho dịch vụ thư viện lưu động, dịch vụ phát chuyển tài liệu về nhà, trường học,v.v.)


    Back to Chapter index
    10.4.4. Khi nào REVEAL sẵn sàng

    Việc phát triển NUCAF thành REVEAL hiện là thứ hạng ưu tiên trong kế hoạch của Ban hợp tác nguồn lực của Share The Vision, với nhiều công việc dự định yêu cầu hoàn thành trong 18 tháng. Cac đặc tính kỹ thuật đã được đưa ra và quy trình tìm hệ thống thích hợp như nền chạy CSDL đã được bắt đầu. Nhiều công việc hơn cũng được cần thiết để định ra và thực hiện cơ cấu hỗ trợ quản lý và hình thành quỹ cho dịch vụ; một nghiên cứu được báo cáo vào tháng 3 năm 2002. Hệ thống được hợp đồng sẽ xây dựng bất cứ các yêu cầu bổ sung được yêu cầu và cài đặt hệ thống. Biểu ghi sẽ được truy xuất từ hồ sơ NUCAF hiện nay vào hệ thống mới và hồ sơ này sau đó được tăng thêm nhờ việc bổ sung biểu ghi qua chương trình chuyển đổi hồi cố. Khi việc hoà nhập biểu ghi được hoàn thành, REVEAL sẽ khai trương dịch vụ vo đầu năm 2003; dự án hợp tác sẽ được phát triển cả hồ sơ lưu trữ thư viện và tài liệu xuất bản sẽ được tính vào giai đoạn hai.

     

    Để hỗ trợ cộng đồng người khiếm thị việc khám páh nguồn lực sớm như có thể, Ban hợp tác nguồn lực của STV sẽ tài trợ cho việc phát triển Hồ sơ đăng ký bộ sưu tập REVEAL . Ghi nhận chi tiết của bộ sưu tập của các tài liệu truy cập trên nước Anh, điều đó sẽ cho phép người sử dụng định ra vốn tài liệu của các nhan đề theo hình thức, ngôn ngữ và chủ đề cụ thể. Dự tính sẽ thực hiện chương trình này vào mùa xuân năm 2002.


    Back to Chapter index
    10.4.5. Đặc điểm của Revealweb

    Nội dung của Revealweb; cơ sở dữ liệu tài liệu truy cập được

    Chính sách chỉ rõ những gì đưa vào và những gì không đưa vào CSDL Revealweb và/ hoặc đăng ký người cung ứng

     

    Mô tả Revealweb

    Revealweb là mục lục trên web tập trung thông tin nhan đề tài liệu được xuất bản ở dạng ở dạng truy cập được của nhiều tổ chức khác nhau.

     

    Revealweb sẽ :

    - Tìm sách dạng Braille, moon, băng sách, sách nói số hóa, đồ thị nổi và chữ lớn.

    - Tìm nhan đề hiện đang được xuất bản ở dạng thay thế để tránh trùng lắp

    - Tìm nơi xuất bản, cho mượn và bán các tài liệu dạng thay thế

    - Là trung tâm đăng ký bản quyền

     

    Revealweb sẽ không:

    - Sắp xếp nguồn lực hơn là cung cấp thông tin liên lạc

    - Chịu trách nhiệm về sự hiện hữu của tài liệu

    - Chịu trách nhiệm về nội dung và chất lượng của nguồn lực

    - Chịu trách nhiệm về chất lượng dịch vụ của các nhà cung ứng

    - Quảng bá hay chứng thực chất lượng sản phẩm

     

    Đối tượng

    Revealweb nhằm để phục vụ  người khiếm thị và những người có liên quan đến họ.

    Các loại hình dữ liệu được chấp nhận

    Loại hình truy cập được

     

    Nguồn lực phải tồn tại ở một hay nhiều dạng truy cập được -

     

    Braille

    Sử dụng sự kết hợp 6 chấm nổi để hình thành các chữ và số. Một người khiếm thị có thể dịch giải những chấm này khi di chuyển các ngón tay dọc theo hàng chữ nổi.

    Có hai cấp độ chữ Braille. Cấp độ 1 là từng ký hiệu Braille là một ký tự hay dấu chấm. Braille cấp 2 có ký hiệu đặc biệt thay thế cho chữ, giúp đọc và viết nhanh hơn và giảm bớt lượng giấy cần dùng .

     

    Nhạc Braille

    Cũng dựa trên 6 chấm theo chữ Braille truyền thống nhưng có thêm các ký hiệu khác cho nốt nhạc, phím, thời gian và nhịp điệu 

     

    Moon

    Mã chữ nổi đơn giản của hình dáng con chữ bình thường. Ký tự đơn giản Moon dễ học hơn chữ Braille và giúp những người già tiếp tục tự đọc một mình được nếu mặt kém thị lực đi

     

    Braille và in

    Văn bản chữ Braille và chữ in đựơc cung cấp. Thỉnh thoảng in chen lẫn xen kẽ vào nhau.

     

    Moon và in

    Văn bản chữ Moon và chữ in đựơc cung cấp. Thỉnh thoảng in chen lẫn xen kẽ vào nhau.

    Biểu và bản đồ nổi

    Những biểu đồ này photocopy hay in trên giấy “phồng “ ứng nhiệt. Khi giấy được đưa qua máy “làm hình ảnh nổi lên” các đường đen hút nhiệt nhanh và phồng lên. Hình ảnh nổi cần lưu trữ cẩn thận để đảm bảo bề mặt nổi không bị hư hỏng hay bị làm xệp xuống. Chúng có thể được dán nhãn và chú thích bằng chữ Braille hay các loại chữ nổi khác. Mô tả băng nói cũng rất hữu ích để hỗ trợ cho biểu đồm bản đồ và hình nổi.

     

    Băng cassettes 2 rãnh

    Thường do tác giả hay các nghệ sĩ đọc thu vào băng cassette.

     

    Băng cassettes 4 rãnh

    Thường do tác giả hay các nghệ sĩ đọc thu vào băng cassette. Dùng thiết bị đọc đặc biệt.

     

    Sách nói 8 rãnh

    RNIB dùng cassette 8 rãnh cần có thiết bị thu và đọc đặc biệt. Vui lòng xem định nghĩa hình thức DAISY (DTB) format cho loại sách nói kỹ thuật số.

     

    Đĩa sách nói

    Sách nói xuất bản trên CD có thể nghe bằng máy hát CD thông thường.

     

    Hình thức DAISY (DTB)

    Hệ thống thông tin truy cập kỹ thuật số cho phép định vị các phần của bài đọc từ chương hay phần. Trong khi bạn có thể dùng đầu đọc DAISY để hát CD bình thường nhưng không thể dùng máy hát CD bình thường để đọc đĩa DAISY. Cũng có thể nghe bằng máy tính nhưng phải có phần mềm đọc đặc biệt.

     

    Tệp văn bản điện tử

    Đây là những tệp tin dạng điện tử có thể tải bằng máy tính. Thường chúng có thể đọc bằng phần mềm xử lý văn bản

     

    Tệp nhạc Braille điện tử

    Đây là những tệp tin dạng điện tử có thể tải bằng máy tính. Để có thể đọc được những tệp tin này, máy tính phải có phần mềm dịch nhạc Braille.

     

    Chữ Braille điện tử

    Đây là những tệp tin dạng điện tử có thể tải bằng máy tính. Để có thể đọc được những tệp tin này, máy tính phải có phần mềm chuyển chữ Braille.

     

    Chữ lớn

    Tài liệu in cỡ chữ lớn hơn bình thường. Từ 14 ppt. trở lên. Cỡ từ 18 ppt trở lên được coi là cỡ chữ đại.

     

    Băng hình có thuyết minh hình ảnh

    Có thể hát băng máy hát video bình thường và có lời thuyết minh cho hình ảnh diễn ra trên phim. Những lời thuyết minh làm tăng thêm phần diễn xuất cho diễn viên.

    Các hình thức tài liệu truy cập được sẽ được đánh giá khi chúng được tạo ra.

    Tài liệu in thông thường không đưa vào CSDL Revealweb. Tuy nhiên đăng ký dịch vụ sẽ có luôn liên kết với vốn tài liệu hữu ích ở dạng in thông thường khi có thể.

     

    Tập tin duy nhất và bản gốc

    Tập tin duy nhất và bản gốc được xác định cùng với các chi tiết làm thế nào có những bản bổ sung ở hình thức được thích dùng.

     

    Vấn đề chủ đề

    Tất cả mọi chủ đề đều được đưa vào. Chỉ có nguồn lực và tài liệu chứa thông tin có hại đến bản chất của luật pháp thì sẽ bị loại trừ. Nội dung được thông báo trong biểu ghi biên mục.

     

    Loại tài liệu được chấp nhận

    Tài liệu có thể được xét về khoảng thời gian tồn tại nhà đóng góp sẽ quyết định về chuyển biểu ghi hay không vào Revealweb. Các nhà đóng góp cũng nhận trách nhiệm về tính hiện hữu của tài liệu theo cam kết của hợp đồng dịch vụ nhà đóng góp biểu ghi và Revealweb.

     

    Nguồn thông tin được chấp nhận

    Thông tin từ nguồn của trường đại học, chính phủ, kinh doanh, thương mại và công nghiệp, tư nhân hay nhà nước đều được chấp nhận miễn là chúng đáp ứng tính truy cập được và đảm bảo các tiêu chí đánh giá và có độ bền vững.

     

    Mức độ khó có thể chấp nhận được

    Nội dung nguồn lực phải đảm bảo có tất cả mức độ khó mà nhiều người có thể tìm được tài liệu ở tất cả cấp độ họ có thể đọc được.

     

    Quảng cáo

    Người đăng ký sẽ không kèm theo nhà cung ứng dịch vụ công nghệ thông tin hỗ trợ vì nó có thể được hiểu thành quảng cáo cho sản phẩm.

     

    Khả năng

    Độ cập nhật

    Nhà đóng góp sẽ chỉ cung cấp thông tin về tài liệu cho độc giả. Tài liệu hiện đang chuẩn bị xuất bản cũng có thể đưa vào. Nhưng những tài liệu không có thì không được đưa vào.

     

    Công bố nơi lưu trữ

    Những tài liệu không có thông tin địa điểm trực tiếp kèm theo, ví dụ tài liệu của các nhà xuất bản được giữ tại các thư viện công cộng, địa điểm của tài liệu phải được khai báo những nơi có chúng như các địa điểm thư viện địa phương. (được xét đến khi có ý kiến của các cung ứng kinh doanh)

     

    Phí

    Nguồn lực kinh doanh hay có thu phí sẽ được xem xét nhưng thông tin giá cả còn phải được thông báo trong phiếu đăng ký cho khách hàng biết.

     

    Đăng ký

    Người sử dụng đăng ký tài liệu yêu cầu được xem xét tài liệu trước khi sử dụng sẽ được xét đến nhưng thông tin đăng ký thích hợp phải được cho khách hàng biết trong phiếu đăng ký.

     

    Phạm vi

    Tài liệu nếu truy cập được ở nước ngòai sẽ được đưa vào. Phiếu đăng ký phải cho biết thông tin về các điều kiện truy cập.

     

    Ngôn ngữ

    Tài liệu ở bất cứu ngôn ngữ nào ngoài tiếng Anh ra.

     

    Liên kết các CDSL khác

    CSDL Revealweb cũng tương thích giao thức Z39.50 và vì thế có thể tra cứu qua dịch vụ trên web theo chuẩn  Z39.50.

     

    Bản quyền

    Revealweb là cơ quan đăng ký bản quyền chính thức và sẽ thu âm tài liệu dưới các điều khoản của giấy phép CLA.

    Trách nhiệm của nhà sản xuất là thông báo các tài liệu chuyển dạng trên CSDL Revealweb.

     

    Phạm vi của Revealweb sẽ được đánh giá hàng năm theo

    - Nhóm Hợp tác quản lý

    - Nhóm Hợp tác quản lý Revealweb

    Tháng 2 năm 2004

     

    Tiêu chuẩn Revealweb

    Trang web Revealweb được xây dựng theo hướng dẫn khởi xướng trang web truy cập được của mạng toàn cầu (W3C Web Accessibility Initiative (WAI) guidelines).

    CSDL Revealweb dùng chuẩn biên mục theo  khổ mẫu đọc máy MARC21 bibliographic standard cho phép xác định đâu là tài liệu chuyển dạng.

    CSDL Revealweb cũng tương thích với chuẩn giao thức Z39.50 và vì thế có thể  tìm qua các dịch vụ trên web hợp chuẩn (Z39.50 standard).

     

    Quản lý Revealweb

    Nhà quản lý Revealweb

    Nhà quản lý Revealweb Manager hợp tác điều hành  Revealweb, giám sát việc sử dụng và phân phối dịch vụ và theo dõi các xu hướng phát triển mới. Nhà quản lý báo cáo trực tiếp cho Nhóm hợp tác quản lý.

     

    Nhóm hợp tác quản lý

    Nhóm hợp tác quản lý gồm các thành viên của NLB và  RNIB và đại diện của Ban nguồn lực, đại diện cho các nhà đóng góp để đảm bảo tính hiệu quả của Revealweb.

    Ban tư vấn chính sách Revealweb

    Ban tư vấn chính sách Revealweb chịu trách nhiệm về xu hướng phát triển trong tương lai của Revealweb. Ban này họp mặt hai lần trong năm và có cả đại diện của các nhà đóng góp và khách hàng.

     

    Hỗ trợ và tài trợ

    Revealweb sẽ cần tài trợ để giúp điều hành dịch vụ. Nếu bạn có quan tâm đến đầu tư cho Revealweb xin vui lòng liên hệ với nhà quản lý Revealweb.

    Cám ơn tất cả các nhà tài trợ, hỗ trợ, cung ứng đã làm cho Revealweb trở thành hiện thực, và cảm ơn đến tất cả các tổ chức đóng góp dữ liệu vào dịch vụ.

     

    Revealweb được tài trợ bởi:

    - Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao (DCMS).

    - Nguồn lực, hội đồng bảo tàng, thư viện và lưu trữ.

    - Chương hợp tác và thành viên của thư viện Anh quốc.

    - Quỹ Lloyds TSB.

    - Quỹ Ellerman.

    - Thư viện quốc gia cho người mù (NLB).

    - Viện hoàng gia Anh nghiên cứu người mù (RNIB).

     

    Revealweb cũng được hỗ trợ bởi:

    - Share the Vision (STV).

    - Văn phòng Vương quốc Anh phụ trách về mạng lưới thư viện (UKOLN).

     

    Revealweb cũng cảm ơn những đồng sự gắn bó với dự án:

    - Juliet Leeves, cố vấn kỹ thuật biên mục.

    - Ann Chapman, cố vấn dữ liệu biên mục.

    - Rik Shepherd, cố vấn truy cập web.

    - Geac Ltd, mục lục trên web và hệ thống thư viện.

    http://www.revealweb.org.uk/about/faq.htm#content


    Back to Chapter index
    10.5. Tài liệu tham khảo

    Brazier, Helen, Dnae, Karen và Leeves, Juliet.(1999). Dự án chuyển đổi hồi cố NUCAF, giai đoạn 1- Điều tra. Báo cáo gửi Ban hợp tác LIC/ STV giai đoạn 1

     

    Chapman, Ann(1999). Dự án 1: xây dựng và phát triển mục lục liên hợp quốc gia cho tài liệu chuyển dạng. Phần A: Vai trò tương lai của NUCAF và đặc tính kỹ thuật của yêu cầu siêu dữ liệu. Báo cáo gửi Ban hợp tác LIC/ STV của Dự án 1

    Cả hai báo cáo này hiện có trên website của UKOLN tại địa chỉ www.ukoln.ac.uk

     

    Chapman, Ann (2000) Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia nguồn lực tài liệu chuyển dạng: nghiên cứu tính khả thi

    Báo cáo cho chương trình hợp tác và phối hợp Thư viện Anh từ Ban điều hành phát triển Reveal của STV


    Back to Chapter index
    11.1. Giới thiệu

    Mặc dù hệ thống mượn liên thư viện đã được hình thành từ nhiều thập niên qua đối với tài liệu in ấn thông thường đã bị mạng lưới hợp tác này bỏ quên. Người khiếm thị lẽ ra phải được cung cấp tài liệu ở hình thức thích hợp sử dụng thì quyền lợi đó đã bị cắt xén và giảm bớt đi. Dưới đạo luật DDA, một thư viện bị coi là vi phạm luật nếu từ chối yêu cầu của độc giả cho mượn tài liệu chuyển dạng và hệ thống mượn liên thư viện vì thế phải có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu đó.   

    Để đáp ứng những yêu cầu mượn tài liệu của độc giả khiếm thị, hệ thống mượn liên thư viện đã có sẵn nhưng cần được mở rộng không chỉ để hỗ trợ việc sử dụng rộng hơn vốn tài liệu thư viện mà còn cung cấp một cổng thông tin chung về nguồn lực của tất cả các tổ chức quốc gia như RNIB, NLB, TNAUK và CALIBRE phản hồi kết quả cùng một lúc cho một yêu cầu tra tìm tài liệu để mượn. Các thủ tục đã được xây dựng để phản ánh với hoạt động hiện tại. Sẽ phải tiếp tục đánh giá để đảm bảo có thể thích ứng với bất kỳ xu hướng phát triển mới nào trong tương lai.

    Theo chủ trương mới, cá nhân có thể liên lạc với thư viện địa phương bất kể họ là người khiếm thị, mù lòa hay có khuyết tật về đọc để yêu cầu sử dụng những loại tài liệu chuyển dạng mà họ cần chứ không chỉ có một số ít tài liệu hiện diện tại thư viện đó.

    Trong khi thiết lập quy chế dịch vụ cần phải nhớ tỷ lệ đáp ứng yêu cầu mượn tài liệu còn phụ thuộc vào sự hiểu biết về vốn tài liệu của các tổ chức này. Các yêu cầu phải được xác định một cách hệ thống hơn là suy diễn – vừa mất thời gian lại vừa phí nguồn lực và thường dẫn đến những kết quả là người mượn không được hài lòng. Các thư viện hiện nay là thành viên của Hệ thống thư viện khu vực được khuyến khích nắm bắt thông tin tư liệu để có thêm nhiều công cụ tìm kiếm tài liệu thích hợp. Tuy nhiên, chỉ có một số thư viện báo cáo thường xuyên đều đặn và toàn diện. Để đảm bảo thực hiện mượn liên thư viện hiệu quả, các thư viện cần đảm bảo là tất cả tài liệu được biên mục vào cơ sở dữ liệu; điều này bao gồm cả tài liệu chuyển dạng và loại in ấn cỡ lớn.

    Nhà cung ứng hay sản xuất tài liệu chuyển dạng cũng có mô hình tương tự. Họ chỉ cần các nhan đề do họ xuất bản và lưu trữ cho CSDL quốc gia, REVEAL, các nguồn lực có thể truy cập được.

    Việc tập trung thông tin từ hai hệ thống trên sẽ trở thành một nguồn lực chung giúp công tác tổ chức dịch vụ này có thể điều hành phân phối dịch vụ tốt hơn.


    Back to Chapter index
    11.2.1. Tiếp nhận yêu cầu

    Một số người yêu cầu mượn tài liệu là độc giả mới hoàn toàn, vì thế cần cố gắng đáp ứng những yêu cầu của họ và kết quả đó giúp họ nhận ra được sự sẵn sàng tiếp đón của thư viện. Phải đón tiếp niềm nở thân thiện và giúp đỡ họ được càng nhiều càng tốt.


    Back to Chapter index
    11.2.2. Đăng ký dịch vụ

    Nếu người yêu cầu tài liệu không phải là độc giả tại thư viện, thì thủ tục đăng ký cũng diễn như bình thường. Nếu thư viện có chế độ tự điền mẫu thì cần coi lại hình thức của mẫu đăng ký. Một số người khiếm thị có thể tự điền mẫu đăng ký dạng chữ lớn hay dạng điện tử.

     

    Tuy nhiên, một số độc giả phải nhờ đến sự trợ giúp của nhân viên thư viện. Cần  tế nhị giúp đỡ, bản thân nhân viên được yêu cầu phải tự tin và không làm cho người yêu cầu có cảm giác bị ngại ngùng. Chương trình tập huấn thích hợp sẽ trang bị cho nhân viên những kỹ năng cần thiết để có thể đối phó với các tình huống, vì thế nên khuyến khích toàn thể nhân viên tham gia các chương trình như thế này để nâng cao nhận thức về công tác phục vụ người khuyết tật thông qua các buổi thực tập, giới thiệu thư viện và phải tổ chức đều đặn các khóa tập huấn lại.

     

    Để đảm bảo dịch vụ được thực hiện đầy đủ, nên yêu cầu thêm các thông tin sau:

    a) Xác định người nộp đơn có đăng ký là thành viên của một trong bốn tổ chức CALIBRE, NLB, RNIB hay TNAUK; hay của một hiệp hội mới
    b) Theo dõi việc mượn tài liệu của họ
    c) Nếu họ không phải là thành viên của bốn tổ chức trên thì đề nghị điền phiếu đăng ký (xem 11.2.3) và phiếu phải được một nhân viên công tác xã hội hay tổ chức y tế xác nhận.

    Xin nhớ là Sách nói RNIB phải có máy đọc chuyên dụng mà chỉ cấp cho thành viên của dịch vụ này. Tuy nhiên, có thể mượn các loại thiết bị thông thường thông qua chương trình mượn tài liệu của RNIB Cassette.  


    Back to Chapter index
    11.2.3. Mẫu đăng ký

    Nếu người yêu cầu chưa phải là thành viên của bất cứ tổ chức nào trong số nói trên, thì cả bốn tổ chức đó đều đồng ý chấp nhận chung một loại mẫu khai báo để chứng minh người yêu cầu là độc giả khiếm thị từ bất cứ thư viện nào gửi đến.

     

    Thư viện phục vụ người khiếm thị phải yêu cầu người sử dụng điền đầy đủ vào mẫu khai báo này và phải xin xác nhận của một nhân viên của tổ chức công tác xã hội hay y tế, đề cập đến một số ý sau:

    a) làm rõ trách nhiệm bảo vệ bản quyền
    b) nhu cầu sử dụng tài liệu của họ là chính đáng
    c) yêu cầu cần được chấp nhận, phải xem xét rồi mới quyết định và có phần đăng ký chuyển tài liệu miễn phí.

     

    Hệ thống thư viện trong khu vực nên có mẫu này: và khi có yêu cầu thì sao ra cho khách hàng đăng ký. Mẫu đăng ký sau đó sẽ được gửi đến Văn phòng mượn liên thư viện và được giải quyết theo quy trình mượn liên thư viện thông thường. Nhiều thư viện có những chính sách và hướng dẫn khuyến khích bỏ qua các phí thư viện cho người khiếm thị như phí đặt sách. 

     

    Tổ chức mượn liên thư viện quốc gia phải có tài liệu chuyển dạng cho người mù, người giảm thị lực và người có khuyết tật đọc.

     

    Mẫu đăng ký

    Xem tài liệu dạng .pdf

     

    Gửi người quan tâm và có yêu cầu sử dụng dịch vụ này:

    Rất quan trọng để thư viện đại diện bạn đọc đăng ký gia nhập vào các tổ chức quốc gia, nhưng các cơ quan này yêu cầu phải cam kết chứng nhận là cá nhân đó có đủ điều kiện để đăng ký. Yêu cầu cần kèm theo mẫu đăng ký đã ký tên (trừ trường hợp sử dụng Thư viện quốc gia người mù hay để mượn sách chữ Braille từ RNIB), trước khi họ đăng ký là thành viên mới. Như các tổ chức CALIBRE, Thư viện quốc gia của người mù (NLB), Viện nghiên cứu người mù hoàng gia Anh (RNIB) và Hội báo nói Anh quốc (TNAUK).

    Cám ơn bạn đã quan tâm đến các dịch vụ này.

    * Tôi khẳng định ................................ là người mù/ người mất thị lực.

    Hoặc:

    * Tôi cam kết rằng, theo nhận định cá nhân, …………..……. không thể đọc sách chữ in thông thường theo cách bình thường được.

    Ký tên .................

    Tên .................

    (* Bác sĩ/ Nhân viên y tế/ nhân viên trung tâm phục hồi/ xã hội)

    Ngày .................

    * Xin vui lòng phản hồi khi nhận được phiếu đăng ký

    Cần biết thêm chi tiết, xin liên hệ: .......................


    Back to Chapter index
    11.2.4. Phiếu yêu cầu/ Phiếu đặt sách

    Có thể theo mẫu chung nhưng cần thêm vào:

     

    a) Đầy đủ chi tiết về yêu cầu của độc giả và luôn chú ý ghi hình thức tài liệu là sách nói, chữ Braille cấp 1 hay cấp 2, chữ Moon,…

    b) Gửi yêu cầu đó đến phòng mượn liên thư viện kèm theo tên độc giả cùng với tên tổ chức quốc gia mà họ vừa mới đăng ký hoặc nếu không là thành viên thì kèm theo mẫu khai báo xác nhận.

    c) Bất kỳ những yêu cầu mượn tiếp theo chỉ cần yêu cầu đánh dấu tên của độc giả trên mẫu đăng ký bằng từ viết tắt VIP – người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    11.2.5. Gửi nhận tài liệu

    a) Thông báo cho bạn đọc biết là tài liệu có thể cho mượn được.


    b) Nếu tài liệu của một trong các tổ chức quốc gia thì nó sẽ được đóng gói bằng bao bì đặc biệt có thể sử dụng được nhiều lần và miễn chi phí gửi bưu điện. Nên nhắc độc giả đừng bỏ bao bì này đi vì sẽ được dùng lại để gửi trả tài liệu cho thư viện; tuy nhiên, nếu người yêu cầu là thành viên của một trong các tổ chức này thì họ sẽ sử dụng gói đó để trả lại cho tổ chức nơi mà họ đã mượn (cũng có trường hợp độc giả sẽ bị nhầm giữa tài liệu mượn trực tiếp từ thư viện hay mượn liên thư viện). Nếu trường hợp này xảy ra thì nên nhắc khéo độc giả thông tin tài liệu mượn bị quá hạn. Thư viện cũng có thể hỏi tổ chức cho mượn để xem tài liệu đã gửi trả về đó hay chưa? (xem phần 17.1 để biết thêm chi tiết).


    Back to Chapter index
    11.3.1. Thông tin về nguồn và nơi lưu trữ tài liệu

    Dùng công cụ kiểm soát thư mục thông thường có thể kiểm tra ngay từ đầu về thông tin tư liệu độc già cần mượn. Cả UnityWeb và V3.Web hiện giữ một phần CSDL Mục lục liên hợp quốc gia về tài liệu chuyển dạng (NUCAF). Một hệ thống mới có tên là REVEAL được phát hành vào đầu năm 2003. Chi tiết xem kỹ Chương 10: Từ NUCAF đến REVEAL.


    Back to Chapter index
    11.3.2. Mượn tài liệu của các thư viện trong khu vực

    Phải giới thiệu các hình thức tài liệu chuyển dạng như tài liệu nói, Moon, Braille v.v. trong mẫu đăng ký mượn chính thức của thư viện trong khu vực (theo quy trình thủ tục mượn liên thư viện có sẵn).

    Thông báo rõ ràng để biết được về người yêu cầu tài liệu là người khiếm thị (VIP).

    Luôn kèm thông tin hình thức tài liệu mà độc giả muốn mượn.

     

    Nếu tài liệu không có trong khu vực thì nộp yêu cầu sang khu vực khác (xem phần 11.3.3) hoặc nếu khu vực khác cũng không có nữa thì nộp thẳng về các tổ chức quốc gia nói trên (xem phần 11.3.4).


    Back to Chapter index
    11.3.3. Nộp phiếu mượn đến các tổ chức hay ở các khu vực khác

    Tất cả phiếu mượn không thuộc khu vực hay ở các khu vực khác gửi đến thư viện thì phải dùng mẫu mượn liên thư viện của thư viện Anh quốc (theo thủ tục mượn liên thư viện đã có sẵn).

     

    Yêu cầu phải nêu rõ người mượn là người khiếm thị (VIP). Cho biết hình thức tài liệu chuyển dạng muốn mượn.


    Back to Chapter index
    11.3.4. Đăng ký mượn ở tổ chức quốc gia (Calibre, NLB, RNIB và TNAUK) thông qua dịch vụ mượn liên thư viện

    a) Phiếu mượn gửi đến các tổ chức quốc gia bằng mẫu mượn của thư viện Anh quốc (theo thủ tục mượn liên thư viện đã có sẵn). Có thể lấy mẫu từ:

    Trung tâm cung cấp tài liệu thư viện Anh quốc (BLDSC)
    Boston Spa, Wetherby, West Yorkshire, LS27 7BQ
    Tel: 01937 546060 Fax: 01937 546333.
    b) Nếu độc giả không tham gia bất kỳ tổ chức nào trong bốn tổ chức quốc gia thì phiếu mượn phải đính kèm theo một mẫu xác nhận về tình trạng thị lực.

    c) Đề nghị nhân viên thư viện giữ một bản photo của mẫu xác nhận thị lực của độc giả đó để tham khảo cho các yêu cầu lần sau.

    d) Nêu rõ người đăng ký mượn là người khiếm thị cùng với thông tin chi tiết về tài liệu cần mượn.

    e) Không cần mẫu xác nhận khi độc giả đã là thành viên của một trong bốn tổ chức hoặc vừa mới đăng ký gia nhập xong nhưng nhớ bao giờ cũng kèm theo tên bạn đọc.

    f) Thư viện yêu cầu nộp phiếu mượn như thường lệ dùng mẫu BL (và có mẫu xác nhận nếu có thể) và gửi đến một tổ chức có lưu trữ tài liệu mà họ cần.

    g) Giả sử tổ chức quốc gia có thể cho mượn tài liệu, họ sẽ gửi miễn phí đến thư viện đặt mượn tài liệu kèm theo bản sao của phiếu yêu cầu và giữ lại một bản sao cho tổ chức đó để làm biên nhận thu hồi tài liệu lại.


    Back to Chapter index
    11.3.5. Đăng ký mượn quốc tế

    a) Yêu cầu mượn tài liệu chữ Braille (kể cả tài liệu nhạc) nên được chuyển đển NLB, mới có hợp đồng hợp tác với Viện Quốc gia Canada cho người mù, Thư viện Quốc hội Mỹ (LoC) (chỉ dành cho tài liệu nhạc) và các thư viện quốc tế khác. (Tư vấn bạn đọc/ NLB: 0161 355 2053).

    b) Đăng ký mượn tài liệu không phải là nhạc từ Thư viện Quốc hội Mỹ (LoC) thì nên thông qua trung tâm RNIB đại diện cho LoC ở Anh quốc. (Dịch vụ khách hàng/ RNIB: 0845 702 3153).


    Back to Chapter index
    11.3.6. Thư viện gửi yêu cầu

    a) Thông báo cho bạn đọc biết để đến nhận tài liệu. Bạn nên nhớ nhắc bạn đọc đem trả tài liệu đó cho thư viện chứ không phải gửi trực tiếp trả về cho các tổ chức quốc gia.

    b) Có trách nhiệm đem tài liệu trả tại văn phòng mượn liên thư viện
     và bộ phận này sẽ trả tài liệu cho các tổ chức quốc gia thông qua đường bưu điện miễn phí.


    Back to Chapter index
    11.3.7. Vận chuyển và đóng gói

    Dịch vụ bưu điện phải tuân theo các quy định phục vụ người khiếm thị là cho phép gửi tài liệu băng tiếng miễn phí đến người sử dụng. Vì thế tên độc giả phải đính kèm trên gói hàng mặc dù kiện hàng sẽ được gửi đến thư viện.

    Bất kỳ tài liệu nào của các tổ chức quốc gia phải được đựng trong loại bao bì tái sử dụng được.


    Back to Chapter index
    11.3.8. Tài liệu mất hoặc hư hỏng

    Thư viện mượn sẽ có trách nhiệm nếu xảy ra chuyện tài liệu bị mất hay hư hỏng và sẽ bị nộp phạt theo yêu cầu của tổ chức cho mượn.


    Back to Chapter index
    11.3.9. Giám sát việc mượn liên thư viện tài liệu chuyển dạng

    Phải thống kê số liệu yêu cầu mượn liên thư viện hàng tháng trong khu vực và ghi lại ở phần 5, Tài liệu chuyển dạng.


    Back to Chapter index
    11.4. Các tổ chức quốc gia

    Các tổ chức quốc gia sau là nơi có thể hỗ trợ tốt trong việc tổ chức hệ thống mượn liên thư viện: CALIBRE, NLB, RNIB và TNAUK.

    Chi tiết đầy đủ về các dịch vụ của họ và thông tin liên lạc ở Chương 17, phần 17.1.

     

    Đề nghị là thư viện nên gia nhập vào các tổ chức này nếu chưa đăng ký, mẫu xác nhận cũng có hiệu lực như là mẫu khai báo đăng ký vì thế sẽ giảm được số lượng thủ tục hành chính mà người khiếm thị phải thực hiện.

    Một số thư viện đăng ký trực tiếp vào các tổ chức như Sách nói RNIB và Báo nói TNAUK để đảm bảo cho độc giả tại địa phương sử dụng được các dịch vụ này. Cũng khuyến nghị nơi nào dịch vụ thư viện có thể thực hiện thì ban quản lý phải tính đến chuyện tài trợ phí đăng ký thành viên cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    11.5.1. Ấn bản Bee Aware

    Tất cả các điểm dịch vụ thư viện mở cửa hơn 10 giờ trong một ngày sẽ nhận được gói “Bee Aware”  có tài liệu hướng dẫn cho nhân viên phục vụ và một số tài liệu phát hành khác gồm một cái thiệp và bộ hình dán. Ghé thăm trang web  Bee Aware.


    Back to Chapter index
    11.5.2. Nhận thức của nhân viên

    Chủ yếu là nhân viên thư viện phải biết cần tăng cường việc mượn liên thư viện và giới thiệu cho độc giả biết thông tin về những dịch vụ này cũng như giới thiệu qua các văn bản quảng bá dịch vụ.


    Back to Chapter index
    11.5.3. Vận động tham gia chương trình

    Thư viện phải nắm chương trình mượn liên thư viện tổ chức cho cộng đồng người khiếm thị và các tổ chức cung cấp dịch vụ cho họ. (Xem Quảng bá dịch vụ Chương 15).


    Back to Chapter index
    12.1. Giới thiệu

    Nếu thư viện có thể đáp ứng được nhu cầu của người khiếm thị thì cũng sẽ phục vụ cho các đối tượng khác tốt hơn. Người khiếm thị thích đến những thư viện dễ sử dụng, nơi có điều kiện để họ có thể tự chọn lựa tài liệu mà không phải lệ thuộc nhiều vào người khác.  


    Back to Chapter index
    12.1.1.

    Chương này tóm tắt tổng quát những điểm quan trọng trong Cẩm nang thực hành tốt nhất hướng dẫn cho thư viện biết cách tổ chức phục vụ người khiếm thị. Nội dung cần chỉ rõ việc đáp ứng nhu cầu sử dụng thư viện của người khiếm thị cũng phải được giải quyết tốt như đối với các đối tượng khiếm khuyết về khả năng vận động và thính giác. Tương tự việc thiết kế để đáp ứng nhu cầu chung của người sử dụng, vấn đề tiện nghi sử dụng cũng như việc sắp xếp các kho tài liệu, các phương tiện truy cập thông tin phải được lưu ý nhất là đối với các khối cơ quan lưu trữ, nhà trưng bày, triển lãm hay các viện bảo tàng.


    Back to Chapter index
    12.1.2.

    Mỗi một vấn đề trình bày dưới đây đều mang tính thích ứng cho cả đối tượng người sử dụng thích hợp cho việc tiếp cận đối với có khiếm khuyết vận động hay thính giác, trừ một số yếu tố bị mâu thuẫn đã được ghi chú ở phần 12.7.1. Có nhiều điểm có thể thực hiện được mà không bị tốn kém quá nhiều, chúng phải được đem ra xem xét trước khi dự án điều chỉnh xây dựng được phê chuẩn. Đôi khi chỉ cần thay đổi màu sắc để tạo được hiệu ứng tương phản và đó là giải pháp đơn giản dễ làm và ít tốn kém nhưng vẫn có thể giúp tăng cường khả năng tiếp cận của người khiếm thị. Khi thảo luận về kế hoạch xây dựng với các kiến trúc sư và các nhà thiết kế trang trí nội thất  thư viện cũng phải trình bày tóm lược những yêu cầu để vừa đảm bảo tính dễ dàng truy cập và tính thẩm mỹ.


    Back to Chapter index
    12.1.3.

    Các tiêu chuẩn yêu cầu đảm bảo kích thước sẽ được quy định cụ thể  trong tiêu chuẩn mới về thiết kế xây dựng công trình công cộng.


    Back to Chapter index
    12.1.4.

    Khi có kế hoạch tu bổ lớn thì phải yêu cầu một tổ chức tư vấn hay chuyên gia trong lĩnh vực phục vụ người khuyết tật tổng kiểm tra đánh giá khả năng tiếp cận thư viện và cũng sẽ làm việc với các nhà thiết kế và kiến trúc sư để đảm bảo đạt được những thực hành tốt nhất cho điều kiện tiếp cận trụ sở của thư viện.


    Back to Chapter index
    12.2.1.

    Nơi xuống xe, đậu xe, hay trạm xe buýt v.v. chỉ nên cách thư viện khoảng 50 mét (lý tưởng nhất là không quá 20 mét) tính từ cổng chính vào. Nên có những bảng chỉ dẫn trên màu nền tương phản mạnh đặt ở cổng vào hay tại các bến đậu xe.


    Back to Chapter index
    12.2.2.

    Lối đi phải bằng phẳng, ở tình trạng tốt và được chiếu sáng. Lối vào phải được tráng theo quy định xây dựng.

     

     

     Điều 52, Luật Xây dựng (có hiệu lực từ ngày 1/7/2004):

     

    1. Thiết kế xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu chung sau đây:

    ...

    đ) An toàn, tiết kiệm, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn liên quan; đối với những công trình công cộng phải đảm bảo thiết kế theo tiêu chuẩn cho người tàn tật;

     

    Thực trạng về vấn đề này tại Việt Nam

     

    Ðể người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng


    Phần lớn các công trình đang xây dựng và sử dụng hầu hết thiếu phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội.

     

    Hiện nay nước ta có khoảng 6,5-7 triệu người khuyết tật. Họ đang gặp trở ngại trong việc sử dụng các công trình xây dựng và giao thông. Bởi lẽ các công trình đang xây dựng và sử dụng hầu hết thiếu các phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật. Ðây là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội.

     

    Ðiều 26, Pháp lệnh về người khuyết tật đã quy định: "Việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, các công trình công cộng và thiết kế, chế tạo các dụng cụ sinh hoạt, các phương tiện giao thông liên lạc phải tính đến nhu cầu sử dụng thuận tiện của người khuyết tật, trước hết là người khuyết tật các dạng thị giác, đồng thời phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành". Ngày 10-7-1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 55/1999/NÐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về người khuyết tật. Trong đó, có quy định các bộ, ngành phải có kế hoạch triển khai pháp lệnh trên.

     

    Thực hiện Pháp lệnh về người khuyết tật và Nghị định của Chính phủ, năm 2002, Bộ Xây dựng đã chính thức ban hành Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng. Ðây là hệ thống các văn bản pháp quy và hướng dẫn về kỹ thuật bảo đảm việc thiết kế xây dựng mới và cải tạo các công trình công cộng, nhà ở chung cư, đường và hè phố tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, đồng thời cũng sử dụng cho các cơ quan có chức năng khi xem xét, thẩm định cấp phép các dự án đầu tư xây dựng.

     

    Ngày 1-7-2004, Luật Xây dựng cũng đã chính thức có hiệu lực thi hành, trong đó tại Ðiều 52 ghi rõ: "Ðối với các công trình công cộng, phải bảo đảm thiết kế theo tiêu chuẩn cho người khuyết tật".

     

    Ðể bảo đảm mọi hoạt động xây dựng tuân thủ theo quy chuẩn xây dựng đã được ban hành và thực hiện theo quy định của Luật Xây dựng, các cơ quan chức năng phải thực hiện chặt chẽ khâu kiểm tra, giám sát và thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình công cộng và các công trình giao thông, tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng dễ dàng.

     

    Kiều Linh
    (Hà Nội)

    http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=54&article=24376

    Việt Nam thiếu không gian cho người khuyết tật

     http://www.vtv.vn/vi-vn/VTV3/sacmau/2004/9/25775.vtv
    3:22, 08/09/2004
    Thành Lưu - Lương Huệ thực hiện

    "Người khuyết tật ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc đi lại, đến trường, đến các công sở để làm việc, hoặc tới những nơi giải trí..., bởi thiết kế của các công trình xây dựng hầu như không dành cho họ. Vì vậy, họ không được giáo dục đầy đủ, không có cơ hội tìm việc làm - và trở thành gánh nặng của xã hội", ông John Lancaster, nguyên Giám đốc Văn phòng hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, nói với VTV như vậy.

     

    Việc đi lại là rất khó khăn đối với người khuyết tật Việt Nam, và với tôi cũng thế. Rất nhiều toà nhà của Chính phủ mà tôi không thể vào được, nếu không có sự hỗ trợ của những người khoẻ mạnh. Tôi đã làm việc với một số dự án và ngay cả với Bộ Xây dựng, nhưng những toà nhà của các cơ quan này, tôi không thể tự mình vào được. Nếu các toà nhà này có một chiếc thang máy phù hợp, có lẽ tôi có thể đi lại dễ dàng hơn. Ngay cả những đường dốc làm tạm dành cho người khuyết tật ở một số nơi, thiết kế cũng không được phù hợp lắm - thường quá dốc và chúng tôi không thể tự lên được. Còn nhiều nơi công cộng khác như ngân hàng, siêu thị... thì chỉ có bậc thang, mà bậc thang thì những người khuyết tật như tôi không thể sử dụng được - dường như những nơi này không dành cho người khuyết tật vậy

    Mấy năm gần đây thì Chính phủ Việt Nam cũng đã bắt đầu chú ý hơn tới không gian dành cho người khuyết tật, và đã có một số công trình xây dựng được thiết kế để người khuyết tật có thể tiếp cận được. Nhưng điều đáng tiếc là những nỗ lực như vậy đã không tiếp tục được thực hiện, và hầu hết các địa phương đều lờ đi những chi tiết này. Việt Nam đang có một nền kinh tế tăng trưởng mạnh, và ngày càng có nhiều các toà nhà cao tầng được xây dựng, nhưng không ai qua tâm xem người khuyết tật cần gì để có thể tiếp cận những toà nhà mới đó. Chính những điều đó cũng khiến đất nước này chịu thiệt hại, bởi trong tương lai, những người khuyết tật sẽ không thể đến trường, không thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, thương mại, không thể đến các trung tâm giải trí... và sẽ trở thành gánh nặng thực sự cho xã hội. Đây là một vấn đề rất lớn đối với Việt Nam. Tôi thực sự mong muốn Chính phủ sẽ quan tâm hơn tới những vấn đề này.

    Ở các nước phát triển, từ vài thập kỷ trở lại đây, Chính phủ đã quy định tất cả các toà nhà phải có thiết kế sao cho người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng thì mới được xây dựng. Ở nước tôi, thậm chí người ta còn tổ chức những cơ quan chuyên theo dõi việc thực thi những quy định này. Chúng tôi kiểm tra tất cả các toà nhà trên khắp đất nước, xem chúng có thể khiến người khuyết tật tiếp cận dễ dàng hay không. Chính phủ nước tôi không bao giờ cho phép xây dựng một công trình mà người khuyết tật không thể tiếp cận được. Ngoài công việc kiểm tra chất lượng công trình như đường dây điện, nền móng... như các bạn đang làm, chúng tôi còn kiểm tra để chắc chắn rằng, người khuyết tật sẽ không gặp khó khăn gì khi tiếp cận công trình này. Chính phủ rất kiên quyết thực hiện các quy định này. Ngoài ra, đối với những toà nhà xây dựng từ trước khi có quy định này, chính quyền địa phương sẽ đến kiểm tra và đề nghị chủ toà nhà khắc phục, sao cho người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng. Chúng tôi đã có những tiến bộ vượt bậc, không chỉ bởi có luật pháp tốt, mà còn bởi Chính phủ kiên quyết thực hiện các điều luật đó. Kết quả là người khuyết tật có cơ hội được học hành, nhiều người khuyết tật có việc làm, họ có thể vui chơi cùng bạn bè... Đơn giản bởi tất cả mọi không gian họ đều tiếp cận được, và sử dụng được, kể từ tàu điện ngầm, tàu hoả, rồi taxi, xe buýt, máy bay...

     

    Tôi không nói chỉ có hai điều kiện trên. Tôi nghĩ, các bạn còn phải chú trọng tới vấn đề nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về sự cần thiết trong việc tạo dựng môi trường có thể tiếp cận đối với người khuyết tật. Bên cạnh đó, các bạn cũng cần có những kiến trúc sư được đào tạo căn bản để có thể thiết kế những toà nhà dành cho người bình thường và khuyết tật. Trên thực tế ở đất nước chúng tôi, chúng tôi không có thiết kế riêng cho những người khuyết tật, mà là những thiết kế chung cho các toà nhà, hệ thống giao thông, để làm sao, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận và sử dụng được một cách thuận tiện nhất, bất kể họ là người bình thường hay người khuyết tật.

    Ông đang nói về việc hỗ trợ thiết kế môi trường cho người khuyết tật ở Việt Nam, ông nghĩ gì về những tác động của thực tế hiện nay ở Việt Nam đối với cuộc sống, tương lai của những người khuyết tật ?

     

    Có hai hướng ảnh hưởng. Hiện nay, ở Việt Nam, có rất, rất ít trẻ em khuyết tật có thể đến trường. Tôi đã cùng với UNICEF thực hiện một nghiên cứu về vấn đề này, và một kết quả đáng ngạc nhiên, và cũng đáng buồn là có tới trên 80% trẻ khuyết tật ở Việt Nam không thể tới trường. Đơn giản bởi trẻ khuyết tật không làm sao để đến trường được, bởi trường học không được thiết kế phù hợp với chúng. Thực ra, không tốn quá nhiều tiền bạc để làm một đường dốc vừa phải bên cạnh các cầu thang, thiết kế bàn ghế thấp hơn, toilet thuận tiện hơn cho người khuyết tật... Và đặc biệt là khi người ta xây dựng một ngôi trường mới, thì việc thiết kế phải đảm bảo tất cả trẻ em, kể cả trẻ khuyết tật, có thể tiếp cận và sử dụng là điều không phải bàn cãi. Nếu cứ xây dựng như hiện nay, trẻ khuyết tật không thể được học hành. Và nếu chúng không thể được học hành, tương lai của chúng sẽ ra sao, liệu chúng có thể ra ngoài, làm việc như tôi và bạn không? Không đến được các toà nhà, các trung tâm thương mại, không sử dụng được các phương tiện giao thông... họ không thể làm việc. Từ đó, sẽ dẫn tới hướng ảnh hưởng thứ hai, đó là chất lượng cuộc sống, là khả năng tài chính của người khuyết tật sẽ rất kém.

    Ông có thể nói một vài yêu cầu đối với các kiến trúc sư thiết kế đường riêng cho người khuyết tật?

     

    Tôi nghĩ rằng kiến trúc sư nên ngồi cùng những người khuyết tật khi thiết kế toà nhà để biết chắc toà nhà đó phù hợp với người khuyết tật. Việt Nam có một đội ngũ kiến trúc sư tài năng. Họ cần phải tiếp xúc thật nhiều với người khuyết tật, để biết phải thiết kế như thế nào để những người khuyết tật có thể tiếp cận và sử dụng các công trình của họ. Tôi không nghĩ rằng bất cứ kiến trúc sư nào cũng có thể thiết kế các toà nhà mà người khuyết tật sử dụng được, nếu không tiếp xúc với họ, nói chuyện với họ. Chỉ những người khuyết tật mới biết họ cần dốc lên với độ nghiêng thế nào, cần cửa rộng ra sao để có thể đi lại bằng xe lăn.... Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cần phải ban hành và kiên quyết thực hiện các quy định, các tiêu chuẩn trong xây dựng để các toà nhà, các công trình giao thông... đều hữu dụng với tất cả mọi người, trong đó có người khuyết tật.

     


    Back to Chapter index
    12.2.3. Đường dốc

    Đường dốc sẽ có ích đối với người khiếm thị và cả người bị khuyết tật về vận động. Chuẩn BS 8300 thông tin về những yêu cầu kỹ thuật của các loại đường dốc khác nhau về độ dài cũng như cách thiết kế. Yêu cầu cơ bản như sau:


    Back to Chapter index
    12.2.3.1.

    Đường dốc phải có tay vịn hai bên, chiều cao tối thiểu là 900 mm và tối đa là 1000 mm. Phải có lề an toàn 100mm trên gờ đường dốc


    Back to Chapter index
    12.2.3.2.

    Hầu hết các dường dốc cần có tay vịn cả hai bên thấp nhất là 900mm và cao nhất là 1000mm. Cũng nên có bờ kè khoảng 100mm bên các gờ của ray, để mà các đầu gậy hay bánh xe không bị trượt ra khỏi. Một tay cầm phụ khoảng 600mm cũng nên có để đảm bảo an toàn cho các em bé. Tay vịn nên có màu sắc tương phản với xung quanh và phải chìa ra ngoài ít nhất là 300mm cả hai điểm đầu và cuối đường dốc. Tay vịn cũng nên tạo ra cảm giác thoải mái và dễ nắm.


    Back to Chapter index
    12.2.3.3.

    Đường dốc vừa đủ cạn để dễ bước xuống hay lên, có chiếu nghỉ ở dốc đầu và chân dốc rộng bằng chiều ngang đường đốc và dài tối thiểu 1200mm không vướng và dễ mở cửa. Mỗi đoạn đường dốc không được dài quá 10 mét và cao quá 500mm. Các chiếu nghỉ phải dài 1500mm, độ dốc cho phép tối đa từ 1/12, cứ cách 2 mét thì có 1 chiếu nghỉ.


    Back to Chapter index
    12.2.3.4.

    Chiều rộng bề mặt tối thiểu của đường dốc là 1200mm. Bề mặt không bị trơn trượt, bám tốt và thoát nước tốt

     

    Hình minh họa 12a: Ray

     

    Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.


    Back to Chapter index
    12.3.1.

    Cửa ra vào phải được thiết kế để dễ dàng nhận và chừa khoảng mở ra vào cỡ 1500x1500mm ở mỗi bên, nên phân biệt rõ với môi trường xung quanh. Ở mỗi bên có cửa sơn một màu và màu sơn tương phản với khung và nền xung quanh. Cửa kính nên có khung sơn một màu và dãy khắc phía trên với môi trường xung quanh dễ nhận ra từ 900 đến 1500mm kể từ bề mặt sàn. Dãy dưới thấp khoảng 600mm để dành cho trẻ bị khiếm thị


    Back to Chapter index
    12.3.2.

    Nếu cửa vào không tự động mở chúng nên dán nhãn “đẩy vào” hay “đẩy ra” có màu tương phản với nền xung quanh. Tay nắm cửa cũng phải tương phản với màu cửa. Cửa thiết kế theo kiểu cân xứng để mở dễ dàng. Nếu cửa được gắn với thiết bị đóng tự động, không nên để chế độ quá mạnh có thể gây nguy hiểm cho người khiếm thị hoặc đối với người di chuyển chậm


    Back to Chapter index
    12.3.3.

    Cửa tự động điều khiển có hai loại:

    a) Cửa tự mở bằng cách nhận vào nút điều khiển. Nếu những cửa này được dùng thì bảng điều khiển nên có màu tương phản với xung quanh để dễ nhận biết

    b) Cửa cảm ứng theo nhiệt độ hay do sự di chuyển. Nên có âm thanh báo hiệu để biết chúng đang mở hay đóng


    Back to Chapter index
    12.3.4.

    Cửa xoay- thậm chí với loại điều khiển mạnh – cũng không hề thích hợp cho người khiếm thị cũng như đối với người đi xe lăn, vì thế nên đổi hay có cửa phụ kế bên dùng để thay thế


    Back to Chapter index
    12.3.5.

    Nơi mà ngưỡng cửa bảo vệ chống lại thời tiết là điều cần có, nên thấp hơn có màu tương phản với đường đi

    Hình minh họa 12b: Cửa ra vào 

     

    Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.

     

     

     


    Back to Chapter index
    12.4.1.

    Quầy tiếp tân nên đặt ở nơi giúp người khiếm thị dễ nhận ra, bố trí ở gần cửa ra vào và để bảng tên quầy.


    Back to Chapter index
    12.4.2.

    Ánh sáng thì cần cho tất cả mọi người nhưng có đến 4% người khiếm thị không có khái niệm về ánh sáng. Sự phản chiếu các màu chủ lực chung quanh càng mạnh, càng phát huy hiệu quả ánh sáng. Những yêu cầu cơ bản về ánh sáng:  


    Back to Chapter index
    12.4.2.1.

    Sự phân bố ánh sáng đồng đều sẽ rất hữu ích đối người già và khiếm thị. Bóng đèn dài cho ánh sáng khuếch tán hay bóng đèn tròn sẽ cho ánh sáng tập trung (không nên chiếu thẳng vào mắt người sử dụng) nên bố trí để vùng phủ sáng được đồng đều và giúp người khiếm thị cảm thấy thoải mái. Nên tránh tình trạng chỗ thì sáng còn chỗ thì mờ, vì vậy cần phải thêm hoặc thay bóng đèn ở những nơi bị thiếu hay bị hỏng. Nên nhớ là bóng đèn dài có thể gây phiền cho người sử dụng thiết bị nghe.


    Back to Chapter index
    12.4.2.2.

    Việc bố trí thêm ánh sáng cho những khu vực đặc biệt nên rọi trực tiếp vào tài liệu (ví dụ như khu vực trưng bày) mà không nên chiếu vào mắt người khác. Ánh sáng bên trong các kệ trưng bày thì nên rọi xuống phía dưới và đèn bàn thì nên che.


    Back to Chapter index
    12.5. Độ tương phản màu sắc

    Màu sắc và độ tương phản của màu sắc là những điểm cần lưu ý cho việc thiết kế mộ môi trường phục vụ cho người khiếm thị. Tránh phối màu quá lòe loẹt, mà phải dựa trên gam màu và độ đậm nhạt. Người khiếm thị sử dụng sự thay đổi làm màu sắc làm phương tiện để định hướng, vì thế sự tương phản cũng là một trong những yếu tố an toàn đáng lưu ý.

     

    Hướng dẫn thiết kế ICI về việc sử dụng màu sắc và độ tương phản (ICI, 1997) cung cấp thông tin chi tiết về cách sử dụng màu, bảng phối màu dựa trên bảng màu của Dulux. Màu sắc mà mắt nhận biết là kết quả của sự phối hợp tỷ lệ màu, độ phản chiếu ánh sáng, sắc độ và độ phân giải. Vì thế cũng có khi tạo được sự tương phản nhờ độ bóng hay độ sâu khác nhau trên cùng một màu.


    Back to Chapter index
    12.6.1.

    Thảm chùi chân ở cửa ra vào nên sát với mặt sàn để không gây trở ngại (hay gây cản trở cho người đi xe lăn, những người này cần có thêm yêu cầu khác nữa về việc bố trí và sử dụng thảm). Nên sử dụng các loại thảm vải giả nhung.


    Back to Chapter index
    12.6.2.

    Thảm phủ sàn nhà không được trơn trượt và có độ bám. Các loại thảm dệt mỏng và chặt là tốt nhất cho người khuyết tật về vận động, người khiếm thính và cả người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    12.6.3.

    Giữ tấm thảm trải sàn ở tình trạng tốt. Ngay cả chỗ rách nhỏ và chỗ nối không đều có thể gây rủi ro cho người mắt kém.


    Back to Chapter index
    12.6.4.

    Lối đi có chiếu sáng để định hướng phải tương phản với thảm trải sàn về cả màu sắc lẫn kết cấu. 


    Back to Chapter index
    12.6.5.

    Phải dẹp bỏ các vật cản để thường xuyên hay tạm thời như chậu hoa, thùng rác hay những chồng sách v.v.  trên lối đi và các vị trí gần cửa, thang máy hay cầu thang.


    Back to Chapter index
    12.7. Trang bị nội thất

    Màu sắc của trang bị nội thất phải tương phản với sàn và tường. Nơi nào có thể được thì bố trí thêm tay vịn vững chắc cao từ 75 – 100mm tính từ mặt sàn sao cho người sử dụng gậy cũng định vị được. Không sử dụng kiểu tay vịn này ở các khu vực kê bàn ghế vì nó sẽ cản trở người đi xe lăn. Phải dẹp bỏ đồ đạc cản trở tại các lối đi chính trong tòa nhà.  

    Hình minh họa 12c: Kệ sách và màu sắc

    (Hình : Hội đồng Quận Somerset) 

     

    Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.

     


    Back to Chapter index
    12.7.1.

    Theo các khuyến cáo mới đây, mức xếp giá thuận tiện nhất cho việc quan sát của đa số người khiếm thị là trong khoảng 850 – 1750mm tính từ mặt sàn. Tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với nhu cầu người đi xe lăn thường chỉ sử dụng kệ cao từ 650-1150 mm. Vì thế càng phải có hướng dẫn rõ ràng (xem 12.9.2), và nhân viên phải dành thời gian để trợ giúp khi cần thiết.


    Back to Chapter index
    12.7.2.

    Trang thiết bị đặt sát tường như máy photocopy tự động thì quy định không được nhô ra quá 100mm và phải treo hoặc dựng bảng cảnh báo rủi ro nếu đặt máy gần đường đi hoặc hành lang để người sử dụng gậy có thể dò được mà tránh.


    Back to Chapter index
    12.8. Trưng bày

    Các quầy trưng bày tương ứng với bề mặt tường, kệ trưng bày phải dễ nhìn thấy nhờ có độ tương phản màu sắc với tường và nền. Nếu được lắp kính thì nên dùng kính không phản quang 


    Back to Chapter index
    12.9. Hướng dẫn và bảng hiệu

    Nên kết hợp cả hai kiểu viết thường và in vì chỉ dùng chữ in thì rất khó nhìn do không nhìn rõ hình dạng các từ, thậm chí có khi không nhận ra được từng ký tự một. Kiểu chữ chân phương như Arial thì dễ đọc hơn những loại cầu kỳ như Times New Roman. Helvetica medium, Futura và Avant Garde cũng được khuyến khích dùng. Có độ tương phản tốt so với màu nền, kích thước và độ dày vừa đủ, không dùng các vật liệu phản quang. Bảng chú thích và bảng hiệu không bị phản chiếu do đèn và ánh sáng để giúp mọi người có thể nhìn thấy.


    Back to Chapter index
    12.9.1.

    Ở các tòa nhà lớn, nên có bản đồ nổi của tòa nhà đặt gần cửa ra vào, Tham khảo các trung tâm hỗ trợ người khuyết tật hay hội người mù để biết các dấu hiệu cần thiết và nên đặt ở vị trí nào để phát huy hết hiệu quả.


    Back to Chapter index
    12.9.2.

    Bảng hướng dẫn cuối phòng nên có khoảng cách từ 1200 đến 1700mm tính từ mặt sàn (FFL). BS 8300 cho là nên có chiều cao “x” ít nhất là 30mm. Hướng dẫn phía trên phòng nên có chiều cao “x” ít nhất là 40mm. Các hướng dẫn trên kệ cao khoảng 1200 mm tính từ mặt sàn (FFL) được khuyến khích cho người khiếm thị cũng như người đi xe lăn, nếu sử dụng độ màu tương phản cao so với các kệ xung quanh và có bảng chỉ dẫn.

     

    Hình minh họa 12d: Bảng chữ 

    (Hình ảnh: Hội đồng Quận Somerset) 

     

    Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.

     


    Back to Chapter index
    12.10.1.

    Thang máy là phương tiện di chuyển theo trục thẳng đứng an toàn và tốt nhất. Thang máy phải dừng ở mặt phẳng ngang với mức sàn nhà. Các nút điều khiển phải đặt hàng ngang ở độ cao khoảng 900-1100mm so với mức sàn nhà. Số tầng lầu ghi bằng chữ số Ả rập bằng chữ Braille. Nên có tín hiệu âm thanh hay đọc số thứ tự tầng lầu khi đến. Hướng dẫn quy định di chuyển trong tòa nhà cho xe lăn cũng giúp ích cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    12.10.2.

    Gương soi phía sau buồng thang máy phải có đường viền rõ và tương phản với màu nền để những người kém mắt nặng không nhầm bóng của mình trong gương, nghĩ rằng có người đang rời khỏi thang máy và lùi lại khi cửa đóng.


    Back to Chapter index
    12.10.3.

    Cửa thang máy nên định thời gian mở khoảng 20-25 giây


    Back to Chapter index
    12.10.4.

    Cầu thang nghiêng ở góc 90 độ so với lối đi chính. Gầm cầu thang nên được bít kín để không gây nguy hiểm cho người khiếm thị


    Back to Chapter index
    12.10.5.

    Phải có khoảng trống 1500x1500 mm phía trên và dưới chân cầu thang để di chuyển. Khoảng trống này phải được che bởi một đường viền hình gậy chẻ đôi làm bằng vải giả nhung hay bằng các vật liệu chắc như quy định xây dựng phần M.


    Back to Chapter index
    12.10.6. Bậc thang

    Bậc thang để ngỏ gây nguy hiểm nên phải được che lại. Cũng vì lý do này, phần nhô ra ngoài giữa hai bậc kế tiếp nhau phải là 25mm. Bậc thang phải rộng tối thiểu là 1000 mm và sâu tính từ ngoài vào trong là ít nhất là 280mm. Chiều cao lý tưởng của nấc thang khoảng từ 150-170 mm, cao nhất cho phép là 170 mm. Mép bậc thang phải có mép bo và có màu tương phản thì sẽ an toàn hơn cho mọi người; miếng bo này phải bằng phẳng với phần còn lại của bậc thang.


    Back to Chapter index
    12.10.7.

    Nhất thiết phải có tay vịn gắn hai bên cầu thang có chiều cao là 900-1000mm. Bề dày tay vịn là 45 – 50mm liên tục theo chiều dài của cầu thang và để thừa ngoài nấc thang cuối bên dưới và nấc thang cuối bên trên khoảng 300mm, lý tưởng là 500mm. Cầu thang rộng hơn 1800mm cần có tay vịn ở giữa. Tay vịn phải tương phản màu với thảm và tường bên cạnh. Nếu cầu thang không có khung bao quanh thì gắn tấm chắn trong suốt ở bên hông để bảo vệ là tốt nhất. Nên có thêm tay vịn cao 450-500 mm tính từ mặt sàn thì sẽ có ích cho các em khiếm thị.


    Back to Chapter index
    12.10.8.

    Đường dốc bên trong giúp ích cho người kém thị lực- Dốc cao hơn 600 mm phải có rào bảo vệ. Đường dốc dài phải có rào bảo vệ bên cạnh như thể đường dốc bên ngoài, các đường dốc giúp ích cho người ngồi xe lăn nên hai bên bảo vệ phải trong suốt với các vạch cho dễ nhìn thấy. 

     


    Back to Chapter index
    12.10.9.

    Thư viện lưu động cũng phải dễ tiếp cận. Nhiều người già khiếm thị thích dùng thang nâng hơn là bậc thang bước lên. Ánh sáng, trang thiết bị cũng theo chỉ dẫn như các nguyên tắc nêu trên


    Back to Chapter index
    12.10.10.

    Quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng công trình của Việt Nam để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng

    Bộ Xây dựng Việt Nam ký ban hành các quy chuẩn và tiêu chuẩn được Viện Nghiên cứu Kiến trúc Việt Nam biên soạn nhằm quy định những nguyên tắc cũng như chất lượng thiết kế công trình chính và phụ phải đảm bảo theo đúng điều 26 Pháp lệnh về người tàn tật “Việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình và thếit kế chế tạo dụng cụ sinh hoạt, phương tiện giao thông liên lạc phải tính đến nhu cầu sử dụng thuận tiện của người tàn tật, trước hết là người tàn tật dạng vận động, thị giác, đồng thời phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành”

    Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 01: 2002 để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng

    Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 264: 2002 quy định nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo cho trụ sở và công trình mà người tàn tật tiếp cận sử dụng

    Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 265: 2002 quy định nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo cho đường và hè phố mà người tàn tật tiếp cận sử dụng

    Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 266: 2002 quy định nguyên tắc cơ bản xây dựng công trình để đảm bảo cho nhà ở mà người tàn tật tiếp cận sử dụng

    Tiêu chuẩn xây dựng 228: 1998 quy định lối đi cho người tàn tật trong công trình và các yêu cầu thiết kế


    Back to Chapter index
    12.11. Công nghệ hỗ trợ

    Nhiều công nghệ hỗ trợ được bàn đến ở chương 13


    Back to Chapter index
    12.12.

    Vị trí hợp lý của trang thiết bị chuyên dụng cũng có thể giúp hỗ trợ hay cản trở việc tiếp cận. Ở các thư viện nhỏ thường những thiết bị chuyên dụng như máy phóng đại CCTV, hay máy quét có lẽ là được truy cập (và sẽ được sử dụng) nhiều nhất ở các khu phục vụ chính. Ở các thư viện lớn hơn có bộ phận đặc biệt với nhân sự chuyên trách phục vụ người khiếm thị thì sẽ hiệu quả hơn. Bố trí riêng biệt như vậy cũng có nghĩa tiếng ồn của các thiết bị đọc sẽ không làm phiền các độc giả khiếm thính có thể có mặt tại thư viện.


    Back to Chapter index
    12.12.1.

    Nhân viên phải được tập huấn để sử dụng tất cả những công cụ chuyển dạng và thiết bị hỗ trợ khác. Nếu họ không rõ cách sử dụng thì họ sẽ không tự tin và không sẵn sàng trợ giúp cho độc giả khiếm thị được, cũng không thúc đẩy được việc sử dụng các dịch vụ hay các trang thiết bị này.


    Back to Chapter index
    12.12.2.

    Các hướng dẫn cách sử dụng các loại máy móc cần được ghi ra cho nhân viên vì họ dễ quên do ít khi sử dụng đến và nên có bảng chuyển dạng hay phóng to ở hình thức và kích cỡ thích hợp để người khiếm thị đọc được. Ví dụ nếu cung cấp máy quét để chuyển văn bản sang dạng đọc máy thì nên cung cấp  phương tiện nghe, chẳng hạn nếu thu trên vật mang tin là băng cassette thì cần phải có máy cassette và giúp họ biết cách sử dụng các thiết bị này mà không phải lệ thuộc nhiều thủ thư. Bảng hướng dẫn sử dụng này nên viết bằng ngôn ngữ đơn giản và chỉ đưa vào những điểm cơ bản chẳng hạn nút tắt/ mở ở chỗ nào.


    Back to Chapter index
    12.13. Tài liệu in ấn

    Tài liệu in ấn mà thư viện xuất bản phải theo đúng hướng dẫn của cẩm nang “Hướng dẫn cách in ấn rõ” do RNIB phát hành(1997). Tài liệu này có ích cho mọi người chứ không chỉ cho riêng người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    12.13.1.

    Các mẫu hay tờ rơi nên dùng loại giấy trắng ngà hay màu kem hơn là dùng loại giấy trắng quá và bề mặt không nên quá bóng để tránh sự chói lòa do bị phản quang lại. Văn bản in trên nền trơn chứ không in trên nền có logo hay có hình ảnh minh họa để tạo được độ tương phản rõ nét. Canh lề bên phải thì dễ đọc hơn là canh lề cả hai bên, vì canh lề cả hai bên có khi gây ra những khoảng cách giữa các chữ và các ký tự.  Kích cỡ chữ thường không nên nhỏ hơn 12 và nên dùng cỡ 14.


    Back to Chapter index
    12.13.2.

    Một số thư viện có mẫu đăng ký thẻ bạn đọc in chữ lớn cho mọi người và đây là cách giúp đỡ tế nhị kín đáo cho bất cứ ai bị khiếm thị. Các yêu cầu hay mẫu mượn liên thư viện hay mẫu quảng cáo nào cũng nên in chữ lớn và trưng bày bên cạnh những văn bản loại in ấn thông thường. Điều này cho phép hơn 1/3 người khiếm thị được có quyền chọn lựa loại mẫu nào mà họ thích dùng. Nên có tất cả tờ quảng cáo, mẫu đăng ký trên web của thư viện, như một số thư viện trường đại học đã làm, đó cũng là một cách tốt trong ứng dụng thực hành nghiệp vụ đặc biệt này.


    Back to Chapter index
    12.14. Thư viện không rào cản

    Thư viện không rào cản phải luôn đi kèm với các dịch vụ truy cập được. Nên tính đến nhu cầu của người khiếm thị trong mọi hoạt động của thư viện từ chương trình kể chuyện sách đến triển lãm trưng bày sách.


    Back to Chapter index
    12.14.1.

    Trong giờ kể chuyện, phải dùng cả sách chữ Moon hoặc Braille cùng với loại in ấn thông thường để giúp trẻ khiếm thị có thể chia sẻ niềm vui thú đọc sách với các em khác. Nó cũng cho các em bình thường khác biết là có rất nhiều cách để đọc và trẻ khiếm thị có một kỹ năng đọc mà chúng không có. Người kể chuyện nên tránh dùng ngôn từ làm trẻ khiếm thị không thể hay khó hình dung tưởng tượng. Họ phải tìm ra được những từ ngữ tương đương khác để thay thế , chẳng hạn thay vì nói  “các em hãy nhìn xem” thì hãy bảo “các em hãy sờ vào xem"


    Back to Chapter index
    12.14.2.

    Trưng bày triển lãm nên tính đến cả người khiếm thị, phải chọn vị trí để tránh ánh sáng bị phản quang và các nhãn mô tả có kiểu chữ Arial cỡ 14. Danh mục giới thiệu nên in chữ lớn hay kèm với một băng ghi âm là phương tiện  giúp cho người khiếm thị hòa nhập với không khí chung của cuộc triển lãm. Nên nắm thông tin về những hội nhóm tại địa phương hay các tổ chức thương mại thường thuê một số vị trí trưng bày trong thư viện để tham khảo nhận xét của họ


    Back to Chapter index
    12.14.3.

    Quảng bá các sự kiện này qua truyền thông báo nói cũng như tại những nơi trưng bày. Thông báo cho các hội người mù biết trước, vì thế họ có thể truyền tin tức đó trong các cuộc họp hay trên bản tin của họ. Thủ thư phục vụ ở các đơn vị địa phương cũng nên được thông báo. Thông tin chi tiết về các sự kiện này có mời cả sự tham gia của người khiếm thị qua các dịch vụ truy cập được, bạn bè, gia đình của người khiếm thị sẽ giúp chúng ta loan báo tin tức đó. (Xem thêm thông tin về quảng bá và thúc đẩy, Chương 15)


    Back to Chapter index
    12.15.1.

    Quan trọng là cần nhớ rằng bất cứ dịch vụ thay thế nào cũng không được thấp hơn chuẩn bình thường. Dịch vụ phân phối tài liệu đến nhà hay viếng thăm khu dân cư cũng nên tổ chức ở các hình thức có thể truy cập như phương tiện để tra cứu thông tin về tài liệu của thư viện, biết được thủ tục đặt mượn tài liệu, cũng như thông tin tham quan thư viện. Dùng máy tính xách tay để tra cứu mục lục hay điện thoại để nhanh chóng giải đáp thắc mắc của người sử dụng. Nhân viên phân phối tài liệu nên được tập huấn để phục vụ tốt hơn.


    Back to Chapter index
    12.15.2.

    Nếu thư viện không thể thực hiện dịch vụ này thì nên có dịch vụ gửi bưu phẩm. Tốt nhất là cung cấp sách chữ lớn cho những độc giả khiếm thị nào có thể đọc được dạng này. Cũng như sách nói, dạng ấn phẩm này so với tài liệu in ấn thông thường là rất ít. Phải nghĩ đến các dịch vụ hỗ trợ cho việc đặt mượn thông qua danh mục tài liệu có thể mượn được và danh mục sách mới, để bạn đọc có thể lướt tìm nhanh trên kệ hay trên mục lục thư viện  


    Back to Chapter index
    12.15.3.

    Truy cập từ xa vào thư viện là sự lựa chọn phổ biến đối với nhiều người khiếm thị nếu họ có phương tiện công nghệ thích hợp, họ có thể tự tạo màu sắc hay kích cỡ chữ trên máy tính của cá nhân để phù hợp với nhu cầu của mình và chọn đúng giọng đọc mà họ thích nghe. Truy cập từ xa thông qua trang web hay email đang phổ biến tốt ở các thư viện trường đại học, đó là cách giúp bạn đọc có thể tra cứu mục lục hay gửi các yêu cầu hay câu hỏi đến thư viện. Tốt nhất, tất cả các trang web truy cập có thể dùng phần mềm đọc màn hình để nghe được. (Xem thông tin thêm trong phần thiết kế trang web truy cập đượcchương 14)


    Back to Chapter index
    12.16. Tập huấn nhân viên

    Tập huấn nhân viên là công tác rất cần thiết đối với mảng hoạt động này. Tất cả nhân viên, bất cứ vị trí nào, cũng phải hiểu và biết cơ bản về việc mở rộng dịch vụ cho người khiếm thị, điều kiện làm ảnh hưởng đến khả năng đọc và môi trường hoạt động chung của thư viện. Mục đích của việc tập huấn cơ bản là đảm bảo cho các quyết định về các dịch vụ thư viện từ mục lục, trang web, các quy trình,… đều phải tính đến nhu cầu của người khiếm thị. Những cuộc tập huấn như thế sẽ trang bị cho nhân viên ý thức được các vấn đề, ví dụ trong thiết kế các mẫu văn bản và đảm bảo rằng họ biết chỗ để tư vấn hướng dẫn.


    Back to Chapter index
    12.16.1.

    Nhân viên phục vụ ở phòng đọc, cho dù có phục vụ người khiếm thị hay không, vẫn cần được tập huấn thêm để biết cách giúp đỡ người có thị lực kém (thỉnh thoảng cũng phải nhắc nhở thái độ hay cách phục vụ các yêu cầu của người khuyết tật). Những điểm chính có thể nhận thấy:

    a) chú trọng vào việc đáp ứng nhu cầu tri thức

    b) cách hỗ trợ tốt nhất là theo ý kiến của người sử dụng

    c) nhân viên phải đánh giá và hiểu biết được khả năng cũng như vai trò công việc họ đang làm cho người khiếm thị

    d) sẵn sàng hướng dẫn cho bất cứ ai cần trợ giúp

    e) hướng dẫn cách mô tả môi trường xung quanh (cửa, sự thay đổi trên nền nhà, cầu thang, hay các thanh ray đi lên xuống,v.v) kể cả cách giao tiếp,  tươi cười và nói chuyện với người khiếm thị như với độc giả khác

    f) Phải có chỗ riêng cho chó dẫn đường, nếu không sẽ gây nguy hiểm cho độc giả khác hay sẽ làm họ phân tâm.  

     

    Nên mời các tổ chức chuyên nghiệp, như RNIB tập huấn nhận thức cho nhân viên. Ở một số địa phương, các hội người mù cũng nên được mời tham gia tập huấn

     

    Tham khảo

    Các tổ chức chuyên gia kiểm định tính dễ tiếp cận của thư viện

    ADAPT Trust. 8 Hampton Terrace, Edinburgh EH12 5JD.
    Tel: 0131 346 1999 Fax: 0131 346 1991
    website:
    www.adapttrust.co.uk
    Specialises in arts, galleries, libraries, museums and heritage venues.

    Burrington Partnership. 33 Green Courts, Bowdon,
    Cheshire WA14 2SR. Tel/Fax: 0161 928 6240,
    email:
    BurringtonandCo@aol.com

    Centre for Accessible Environments. Nutmeg House,
    60 Gainsford Street, London SE1 2NY. Tel/Minicom: 020 7357 8182,
    Fax: 020 7357 8183 website:
    www.cae.org.uk
    Can be contacted for details of independent auditors.

     


    Back to Chapter index
    Tài liệu tham khảo

    Barker, Peter. (1988). Building sight: handbook of building and design solutions to include the needs of visually impaired people. HMSO,RNIB.

     

    BS 8300. (2001). Design of buildings and their approaches to meet the needs of disabled people. British Standards Institute.

     

    Burrington, Gillian. (2002). Audit your access for 2004: a comprehensive CD-ROM toolkit for libraries. Burrington Partnership.

     

    Department of the Environment, Transport and the Regions. (1999). The Building Regulations 1991. Approved Document M: access and facilities for disabled people. Stationery Office. 1999 edition. (The government has indicated that the next edition of Part M will incorporate the standards set out in BS 8300).

     

    ICI. (1997). Design guide to the use of colour and contrast to improve the built environment for visually impaired people. ICI.

     

    RNIB. (1997). Clearprint guidelines. London: RNIB.

    Further information can also be found on The Reading University website, including:
    Colour selection in the
    UK - a design guide for building refurbishment. Project Rainbow, by Keith Bright, Geoff Cook, Yvonne Howard, Trish Allens; Dept. of Construction Management Engineering, University of Reading
    www.rdg.ac.uk/~keswrims/rbw.html

     

    Bộ Xây dựng Việt Nam. Quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng công trình để đảm bảo người tàn tật tiếp cận sử dụng.


    Back to Chapter index
    13.1. Giới thiệu

    "Tất cả bạn đọc khiếm thị phải có quyền truy cập vào toàn bộ hệ thống mục lục, cơ sở dữ liệu, vốn thông tin tài liệu ở cả dạng in và điện tử bằng phương tiện hỗ trợ đọc” (Machell, 1996). Ứng dụng máy tính để trợ giúp người khuyết tật được gọi là công nghệ “hỗ trợ”, “thích ứng”, “truy cập” hay "thay thế”. Theo sự tiến bộ của khoa học công nghệ nên chủng loại, giá cả và đặc trưng kỹ thuật của trang thiết thay đổi, nâng cấp rất nhanh.

     

    Việc sử dụng hệ thống truy cập và phân hệ phần mềm máy tính không phảI dễ dàng, vẫn còn nhiều rào cản cho những người cần dùng đến các phương tiện hỗ trợ này.

     

    Các loại công nghệ hỗ trợ bao gồm kính phóng đại, máy chụp hình phóng to và máy tính, công cụ đọc… giúp người khiếm thị có thể đọc được mà bằng những cách khác họ không thể hoặc khi thị lực của họ không còn đủ rõ và sáng để cho phép họ đọc tài liệu in chữ lớn một cách thoải mái nữa. 

     

    “Công nghệ có thể cung cấp phương tiện cho người mù hay khiếm thị vượt qua những rào cản để thỏa mãn nhu cầu đọc chữ in, sử dụng máy tính, ghi chép và giao dịch trên giấy tờ hay bằng phương thức điện tử. Máy phóng đại chữ hay máy đọc, phần mềm nhận dạng chữ, phần mềm phóng đại, đọc màn hình và các thiết bị chữ nổi điện tử phần nào đã giải quyết được nhu cầu của cá nhân.  Máy tính giúp ghi chép và in chữ Braille đã tạo điều kiện thuận lợi cho người khiếm thị” (Cain, 2001).

     

    Điều này nghe có vẻ rất thuận lợi nhưng khi công nghệ phát triển nhanh thì cán bộ thư viện làm thế nào để biết được loại trang thiết bị nào là tốt nhất để mua phục vụ cho độc giả? Phải tham khảo ở trường học, hội người mù hay tổ chức từ thiện đế nắm bắt những đánh giá nhận xét của họ về hệ thống trang thiết bị công nghệ mà họ đang sử dụng, ngoài  ra để biết thêm người khiếm thị đã quen sử dụng loại nào. Cũng rất có lợi khi nói chuyện với các cán bộ thư viện nơi khác để biết họ sử dụng loại thiết bị nào và đánh giá độ hữu ích của những máy móc đó như thế nào, có gặp trục trặc nào không. Độc giả thư viện muốn có dịch vụ nào? Họ thường hay gặp khó khăn gì? Công nghệ thay đổi nhanh chóng và người khiếm thị  trên thực tế có nhiều quan điểm và thị hiếu khác nhau, nghĩa là không có giải pháp nào là đơn giản và chung nhất cho tất cả các hoạt động của thư viện trong bất cứ lĩnh vực nào. Chương này thảo luận về những quyết định chọn lựa phương tiện nhưng việc chọn mua còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của từng nơi. Nên cập nhật thông tin từ RNIB để được hướng dẫn nội dung về các hình thức công nghệ hỗ trợ thích ứng hiện có tại Vương quốc Anh. Những tờ hướng dẫn này bằng chữ in, băng tiếng, chữ Braille, đĩa hay email từ RNIB TiLE (RNIB Công nghệ dùng trong học tập và công sở) hoặc có thể tìm thấy trên website của RNIB www.rnib.org.uk/technology/factsheets/factsheets.htm


    Back to Chapter index
    13.1.1. Môi trường thư viện

    Cửa ra vào thư viện nên có bảng chào và chỉ dẫn rõ ràng, loại bỏ chướng ngại vật trên lối đi cho người khiếm thị. Có bảng hướng dẫn rõ ràng chỉ chỗ, nơi có thể sử dụng trang thiết bị. Hướng dẫn thêm nên đọc ở Chương 12.

     

    Việc bố trí trang thiết bị là rất quan trọng. Nên chọn địa điểm gần bàn làm việc của nhân viên phục vụ để tiện cho họ liên hệ yêu cầu giúp đỡ nhưng cũng cần giữ khoảng cách đủ để có không gian riêng biệt cho họ. Cũng rất quan trọng để có chỗ làm việc dành riêng bên cạnh máy tính để đặt thêm các trang thiết bị như máy in chữ Braille, máy thu băng,… để tiện sử dụng. Chỗ đặt trang thiết bị phục vụ cũng phải đủ rộng để tiện cho giữ chó dẫn đường cho người khiếm thị. 

     

    Độ chói của ánh sáng có thể làm cho màn hình máy tính trở nên khó đọc. Bất kỳ người sử dụng máy tính nào cũng có thể bị ảnh hưởng nhưng đặc biệt cần lưu ý đối với người bị hạn chế về thị lực. Ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp có thể làm giảm khả năng nhìn màn hình , vì vậy nên có kính che chắn để tránh ánh nắng mặt trời và các nguồn sáng khác. Các nguồn sáng phụ khác như đèn ở các góc phòng cũng nên bố trí nếu có yêu cầu, một số người khiếm thị vẫn có thể nhìn tốt với cường độ sáng không cần cao lắm. Ở các chỗ đặt máy tính cũng cần chú ý đến trang bị loại ghế ngồi có thể tự điều chỉnh được. 

     

    Nhiều người khiếm thị có thể xem được hình ảnh nếu chúng được phối màu tốt hơn. Chọn lựa màu phổ biến nhất thường theo cách pha màu sáng/ tối, trắng trên đen, hay ngược lại, vàng trên đen và ngược lại. Không có hai người nào lại muốn cùng một độ tương phản, kích cỡ chữ hay kiểu chữ giống nhau, vì vậy phải cho họ có thể lựa chọn nền màu khi sử dụng máy tính.


    Back to Chapter index
    13.1.2. Tiếng ồn

    Điều quan trọng là phải nhớ bố trí trang thiết bị không bị phân tán khi sử dụng. Phải cung cấp tai nghe kèm với máy tính có loa để vừa đảm bảo người nghe có góc riêng tư và cũng không gây ảnh hưởng đối với các bạn đọc khác.


    Back to Chapter index
    13.1.3. Dịch vụ cơ bản

    Do tài chính eo hẹp, thư viện không thể cung cấp đủ các loại công nghệ hỗ trợ tại các điểm phục vụ nhưng ít nhất thì cũng phải có một số trang thiết bị cơ bản như máy photo phóng to. Máy này có thể giúp một số người khiếm thị phóng lớn tài liệu cá nhân của họ đến một kích cỡ nào đó mà họ thấy dễ đọc hơn. Độc giả dùng thử trong thời gian ngắn, nếu thấy dùng được thì mới quyết định mua để sử dụng tại nhà, hoặc có thể mượn sử dụng cho đến khi họ không cần phương tiện đó nữa. Dịch vụ này có thể phối hợp với Phòng công tác xã hội hay các phòng khám mắt nhược thị. 

    Trong hầu hết các thư viện cỡ vừa và lớn, cũng nên trang bị máy phóng hình CCTV. Các thiết bị khác như máy tính màn hình lớn, phần mềm đọc, phần mềm phóng to chữ hay các trình duyệt web nói.

     

    Nghiên cứu gần đây do HumanITy (2000) thực hiện theo yêu cầu của Ủy ban Thông tin Thư viện để kiểm tra xem những phương tiện nào được đánh giá hỗ trợ tốt nhất cho người khiếm thị. Báo cáo này tổng kết những đặc điểm kỹ thuật tối thiểu yêu cầu đối với phần cứng, phần mềm và mạng máy tính; và đánh giá những chức năng hỗ trợ truy cập tốt nhất cho người khiếm thị của hệ điều hành mạng Windows NT. Mặc dù viết bằng ngôn ngữ chuyên ngành, các đặc trưng kỹ thuật khuyến nghị cũng rất có giá trị cho nhân viên phòng Tin học thư viện ( tham khảo bảng Phụ lục A3)


    Back to Chapter index
    13.1.4. Tập huấn

    Khi đã chọn hệ thống tốt nhất cho thư viện thì việc tiếp theo phải làm là tập huấn nhân viên cách sử dụng các trang thiết bị đó.Tất cả nhân viên nên được tập huấn và bất cứ lúc nào có thể thì mời cả người khiếm thị cùng tham gia. 

     

    "Người khiếm thị khi vào thư viện sẽ cần đến sự hỗ trợ, đặc biệt khi họ là độc giả mới. Họ cần cảm thấy thoải mái để yêu cầu giúp đỡ và nhân viên cũng cần cảm thấy tự tin để phục vụ cho người sử dụng. Nhân viên cần nhận biết những khó khăn mà người khiếm thị gặp phải. Sự hiểu lầm đôi khi xảy ra do nhân viên thiếu kiến thức hiểu biết dễ làm cho độc giả không dám yêu cầu giúp đỡ thêm lần nữa” (Brophy và Craven, 1999).

     

    Các phương tiện và trang thiết bị không phải lúc nào cũng dễ điều khiển và được thiết kế hợp lý cho người khiếm thị, nên nhân viên thư viện phải sẵn sàng hỗ trợ họ, nên chuẩn bị câu trả lời và hướng dẫn trực tiếp cho từng cá nhân cách sử dụng từng loại phương tiện trong trường hợp không tổ chức tập huấn chung. Thông tin thêm về chương trình tập huấn có thể tham khảo  13.6.2 và tài liệu hướng dẫn của TiLE.

     

    Chương trình tập huấn bao gồm:

    a) Nhận thức về người mù và khiếm thị

    b) Kỹ năng thực hành và cách giao tiếp thích hợp làm thế nào để hướng dẫn người khiếm thị

    c) Nhu cầu thông tin và thư viện của người khiếm thị

    d) Đặc tính từng loại thiết bị

    e) Quy trình cơ bản để vận hành máy

    f) Chức năng của từng loại

    g) Thiết bị nào là tốt nhất và thích hợp cho loại nhu cầu thông tin cụ thể nào

    h) Kỹ năng tập huấn cơ bản.

     

    Phải đảm bảo cho tất cả nhân viên có thể thực hành các thao tác cơ bản như tắt mở thiết bị, hướng dẫn sử dụng máy, chỉnh sửa cơ bản hay điều chỉnh một số chức năng của trang thiết bị khi người sử dụng có yêu cầu.

     

    Nhiều nhà cung ứng có chương trình tập huấn kèm trong hợp đồng mua bán trang thiết bị. Ở các trường đại học hay hội người mù ở địa phương cũng có những đợt tập huấn tương tự thế. Chi phí tập huấn nên được lên dự toán trong kinh phí mua trang thiết bị. 

    Đối với độc giả mới, thủ thư nên giúp họ đáp ứng yêu cầu họ cần hơn là biểu diễn hết tất cả các tính năng kỹ thuật mà các máy móc có được.

     

    Bảng hướng dẫn sử dụng máy tính nên được trình bày chi tiết. Viết câu ngắn gọn, xúc tích và dễ hiểu. Các thông tin hướng dẫn quy trình nên trình bày tùng bước một cho rõ ràng. Các văn bản hướng dẫn cũng nên trình bày dưới nhiều hình thức chuyển dạng.


    Back to Chapter index
    13.1.5. Hỗ trợ của địa phương

    Phải liên lạc với các tổ chức từ thiện, trường học có phục vụ cho người mù và khiếm thị để hợp tác trao đổi và chia sẻ. Nhân viên thư viện nên làm việc với các trung tâm dịch vụ bảo trợ xã hội hay trung tâm mắt. Các tổ chức từ thiện thường cung cấp những khóa tập huấn và nếu không thì họ vẫn biết cơ quan nào có thể tập huấn được.


    Back to Chapter index
    13.1.6. Hệ thống nào?

    Cũng nên khuyến khích thư viện tìm hiểu thông tin về các nhà cung ứng trang thiết bị hỗ trợ. Có rất ít nơi đủ sức để đáp ứng đầy đủ mọi nhu cầu và không nhiều người hiểu hết được các loại phương tiện này và nên nhớ những loại trang thiết bị này đòi hỏi phải có cấu hình tương thích nhau.

     

    Một số vấn đề cần xem xét trước khi quyết định mua:

    - mua cái đó để làm việc gì?

    - vận hành thế nào?

    - có cần thiết bị hỗ trợ không?

    - có được tập huấn sử dụng không?

    - chế độ bảo trì thế nào?

     

    Ban Công nghệ Học tập và Việc làm của RNIB cập nhật thông tin thường xuyên để giới thiệu những dịch vụ thông tin công nghệ qua điện thoại hay email để biết thông tin cơ bản về các trang thiết bị mới và giá cả của chúng. Thông tin chi tiết về dịch vụ này đăng ở cuối chương và cũng được đề cập đến ở các phần liên quan trong các chương tiếp theo.


    Back to Chapter index
    13.2. Người nhược thị cần gì?

    RNIB xuất bản tờ tin 'See for Yourself', để hướng dẫn cách bảo vệ và sử dụng mắt hiệu quả nhất. Có thể đặt qua Dịch vụ Khách hàng của RNIB 0845 702 3153. Có một số cách đơn giản để hỗ trợ người bị khiếm thị nhẹ có thể đọc được dễ dàng hơn mà không phải tốn tiền nhiều hay phải sử dụng các loại máy móc quá phức tạp.


    Back to Chapter index
    13.2.1. Kính nhìn và khoảng cách

    Các loại kính khác nhau được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau như để đọc, để chạy xe hay sử dụng ở nhiều khoảng cách khác nhau. Để đọc chữ, thường dùng kính cận hay kính đọc. Nếu dùng máy tính thì cần khoảng cách trung gian xa hơn là khi cầm sách đọc nhưng không đến nỗi quá xa đến nỗi phải dùng kính viễn thị. Những kính đặc biệt dùng cho thiết bị hiển thị đôi khi cũng được yêu cầu, trong các trường hợp nhìn xa để thấy rõ nhất.  Có thể dễ dàng giải quyết được chuyện này với các loại màn hình hay máy trạm điều chỉnh được độ cao hay độ xa. Những loại này có thể tìm mua ở các nhà cung ứng thiết bị văn phòng. Chú ý chọn loại gắn lên tường cần loại giá đỡ nào để đảm bảo giữ được sức nặng của màn hình lớn. Một giá đỡ trị giá khoảng 150 bảng Anh.


    Back to Chapter index
    13.2.2. Ánh sáng

    Ánh sáng là yếu tố chính để giúp nhìn rõ và độ sáng tùy thuộc vào sở thích và nhu cầu của từng cá nhân. Một số người đọc dễ dàng nhất đối với loại ánh sáng mạnh chiếu trực tiếp vào trang sách, người khác thì lại ưa dùng ánh sáng yếu hơn nhưng lan tỏa rộng hơn. Dùng đèn phụ là cách tốt nhất để điều chỉnh được nhu cầu sử dụng và thường là đèn huỳnh quang tỏa ánh sáng đồng đều được ưa sử dụng hơn (Wright, 1999). Cẩm nang 'See for Yourself' cũng đề cập đến vấn đề ánh sáng.


    Back to Chapter index
    13.2.3. Độ chói và phản chiếu

    Một yếu tố liên quan đến ánh sáng là sự chói: nếu dùng giấy trắng có thể làm người đọc bị phản quang nhiều hơn và làm khó đọc hơn. Để tránh hiện tượng này, có thể phủ một tấm nhựa màu trong suốt hoặc loại giấy acetate để giảm bớt độ sáng. Có thể tìm được các loại giấy này tại các cửa hàng văn phòng phẩm. Màu nào là tốt nhất thì chỉ có thể tùy theo kinh nghiệm cá nhân.

     

    Màn hình máy tính chống chói và phản quang thì có thể di chuyển tùy theo vị trí đặt máy để tránh sáng từ cửa sổ hay từ bóng đèn tròn hay dài phản chiếu lại người xem, hoặc dời những người mù hoàn toàn đến khu vực cửa sổ. Những màn hình lọc chất lượng cao cũng có thể giúp ích được nhưng không giảm độ tương phản màu hay tránh chói được nhiều. Giá một màn hình lọc có thể lên đến 150 bảng. Không nên dùng loại rẻ hơn vì có thể chúng kém chất lượng.


    Back to Chapter index
    13.2.4. Màu sắc

    Nhiều người bị mù màu sẽ không nhận biết được một số màu nên việc đọc thông tin trên các nền màu đó trở nên khó khăn cho họ.  Điều này có thể giải quyết được bằng cách điều chỉnh độ tương phản cao nhất hay độ chói giảm xuống thấp nhất (được mô tả ở phần 13.2.3 ở trên). Khung màu chỉnh sẵn trên màn hình máy tính có thể được ứng dụng điều chỉnh và lưu lại để có thể giúp các cá nhân này sử dụng lại nếu thường hay sử dụng máy tính trong thư viện.


    Back to Chapter index
    13.2.5. Hình dạng ký tự

    Loại chữ in (kiểu chữ) có thể ảnh hưởng đến tính dễ đọc của văn bản. Theo nghiên cứu của RNIB về loại chữ nào tốt nhất cho người khiếm thị (cả trên màn hình hay trên giấy) cho biết những kiểu chữ chân phương và ít cầu kỳ sẽ dễ đọc hơn như Arial, Universal hay Helvetica thì dễ đọc hơn là kiểu chữ có nét sổ nhiều như kiểu Times hay những kiểu mà khoảng  cách chữ không đổi như Courier. Văn bản không canh lề thì dễ lướt hơn là loại canh lề đều hai bên, dùng cả chữ thường và chữ hoa phối hợp hơn là chỉ dùng mỗi loại chữ hoa vì chiều cao hay hình dạng chữ dễ nhận ra hơn.

     

    Tờ tin ‘The See it Right Pack’ hướng dẫn cách làm thế nào để dễ tiếp cận thông tin hơn (RNIB, 2001).Tham khảo thêm 'Clear print hints and tips' trên website của RNIB (www.rnib.org.uk/seeitright/whyaccess.htm). Rất tốt để tìm hiểu các hướng dẫn này để biết cách in tài liệu cho người sử dụng và để chọn chế độ mặc định thích hợp trên máy tính cho tất cả mọi người chứ không chỉ riêng cho người có vấn đề về thị lực


    Back to Chapter index
    13.3. Một số cách để phóng đại chữ

    Hầu hết những người nhược thị đọc được chữ phóng to, nhưng đối với các trường hợp khiếm thị, chữ to không phải lúc nào cũng là giải pháp. Tuy nhiên, cứ tạm nghĩ là chữ càng to thì càng nhìn rõ hơn.


    Back to Chapter index
    13.3.1. Hỗ trợ đọc không dùng công nghệ hoặc loại thô sơ

    Làm giảm khoảng cách từ mắt đến chữ đọc có thể giúp cho chữ phóng to hơn, vì thế việc cầm sách gần hơn cũng là một cách để phóng to chữ. Nếu một người cúi xuống để đọc trên bề mặt nằm ngang, có lẽ do cuốn sách nặng quá và khó có thể giữ sách trong một thời gian dài, hay là lúc cần dùng tay để ghi chú. Thao tác này sẽ làm mỏi lưng và cổ và nếu lâu dài sẽ gây thêm nhiều triệu chứng xấu khác nữa. Dùng giá đỡ hay kẹp giữ sách để trợ giúp là một cách hiệu quả để giúp họ đọc rõ hơn mà không bị các hậu quả xấu như trên. Những thiết bị được bán với giá gần 100 bảng Anh.

     

    Sách khoa học bằng chữ lớn thì hay có trên thị trường, nhưng nếu sách in dạng thông thường thì cũng có thể phóng to các đoạn cần đọc bằng máy photo, mà không sợ bị phạm luật bản quyền.

    Có thể gặp hạn chế sử dụng giấy khổ lớn, vì thế hãy xem xét các dạng thay thế được, hay quay chiều ngang khổ giấy A4 thành chiều dọc hơn là dùng tờ A3.


    Back to Chapter index
    13.3.2. Kính quang

    Có nhiều loại kính phóng đại và đó là phương tiện đầu tiên mà những người kém thị lực phải nghĩ đến trước tiên. Có nhiều loại phù hợp với nhiều độ thị lực khác nhau, trong đó có một số rất tốt cho người nhược thị, thường là do trung tâm mắt hay khoa mắt bệnh viện chỉ định.

     

    Có khá nhiều loại phổ biến. Kính lúp cầm tay thì dễ sử dụng và dễ đem theo. Kính phóng đại cố định cũng thuận tiện để người sử dụng có thể ghi chép. Máy phóng đại chiếu sáng (dùng pin) nhưng cần phải cầm để cho nó tựa trên bề mặt giấy. Kích cỡ thanh và vòm kính phóng đại còn tùy thuộc vào loại giấy và nếu phóng to một khu vực hay theo dòng thì rất đơn giản. Một số cửa hàng bán đồ trang trí và lưu niệm cũng bán kính lúp có tròng kính thích hợp cho từng người sử dụng và có thể có vòng ánh sáng huỳnh quang để chiếu sáng chỗ cần làm rõ. Một số người ngồi và dùng kính hiển vi loại ống kính đôi hay đơn. Đọc trên màn hình máy tính cũng nhằm mục đích để giữ tầm mắt xa ra. Tròng kính phóng đại loại này hay loại khác có thể tìm thấy ở các trung tâm mắt nhược thị như Partially Sighted Society, hoặc công ty như Horizon và Optima Low Vision Services.

     

    Cần lưu ý là tất cả loại kính này phải xét đến độ mạnh của tròng kính, đường kính càng nhỏ, thì giảm khối lượng vật thể có thể nhìn được mà không cần di chuyển kính. Dùng kính loại mạnh nhất thì có ít hơn một chữ thấy được.


    Back to Chapter index
    13.3.3. Kính Fresnel

    Ống kính Fresnel thường dùng để giúp hội tụ ánh sáng. Và cho mức độ phóng đại thấp nhưng sẽ phủ được khu vực rộng. Chất lượng nhìn được kém và việc phóng to tương tự có thể thực hiện bằng cách xê dịch ống kính cho gần hơn. Ống kính loại này có thể dùng cho tivi và màn hình máy tính và có giá lên tới £100 (phụ thuộc vào kích thước màn hình).


    Back to Chapter index
    13.3.4. Tivi màn hình phóng đại (CCTV)

    CCTV gồm hai bộ phận máy chụp và màn hình để phóng to văn bản hay hình ảnh. Máy chụp có thể cầm tay (giống như con chuột máy tính), hay có bệ đứng và màn hình có thể là màn hình tivi hay màn hình máy tính. Có nhiều kiểu khác nhau nhưng tất cả đều có tính năng chung giúp tăng kích cỡ chữ hay chuyển đổi màn hình để chữ trắng xuất hiện trên nền đen hơn là chữ đen trên nền trắng.

     

    Đặc điểm quan trọng nhất là xem xét loại nào để thích ứng với nhiều nhu cầu đa dạng khác nhau của người sử dụng:

    -  khả năng thay đổi độ cao của màn hình

    -  khả năng thay đổi màu sắc (đôi khi gọi chế độ nửa màu)

    -  tự động điều chỉnh

    -  chỉnh sáng, chỉnh màu và chỉnh độ phản chiếu.

     

    Có sự chênh lệch giá khá lớn giữa chương trình mua để sử dụng trong nhà (ít hơn 300 bảng) và mua để dùng trong công sở hay trường học (hơn 1,000 bảng). Chất lượng hình ảnh, tính dễ sử dụng và một số tính năng khác có thể làm tăng giá thành sản phẩm. RNIB TiLE cũng đã cho thông tin chi tiết về phần mềm phóng đại hình ảnh có trên thị trường.


    Back to Chapter index
    13.4. Đọc chữ trong trường hợp bị mù hoàn toàn

    Máy đọc đã có mặt trong thư viện từ lâu, một số công nghệ quen thuộc là quét và dùng phần mềm nhận dạng chữ (OCR) hiện nay rất phổ biến và cho phép giảm giá thành đáng kể. Người đọc đặt tài liệu lên bàn kính của máy quét, nó sẽ chụp lại hình đó như kiểu của máy photocopy. Hình ảnh này được chuyển qua phần mềm nhận dạng chữ và sau đó phát âm thanh ra từ phần mềm đọc và người sử dụng có thể điều chỉnh âm thanh được.

     

    Máy quét hiện nay rất rẻ và phần mềm nhận dạng chữ tiếng Anh hiện nay đạt độ chính xác cao. Thậm chí còn có thể chỉnh sửa kiểu cỡ chữ, chuyển đổi dạng văn bản. Tuy nhiên một số hạn chế vẫn còn gặp phải như chữ viết tay thì vẫn không nhận ra, nền màu, giấy bị nhăn, bảng fax không rõ, bảng biểu và văn bản in ở một góc có thể cũng không nhận dạng được.Nếu văn bản chữ rõ thì có thể nhận dạng chính xác đến 99%, mặc dù vẫn có thể có lỗi và có khi những lỗi đó làm người sử dụng cảm thấy không hài lòng.

     

    TiLE đã có một bản  tin chi tiết về tất cả các dạng máy đọc và phần mềm OCR hiện có trên thị trường.


    Back to Chapter index
    13.4.1. Máy đọc chuyên dụng

    Có nhiều loại máy đọc chuyên dụng, yêu cầu thiết kế càng đơn giản càng tốt. Chỉ cần dùng 1 nút để bắt đầu và dừng thao tác quét tài liệu đọc và các phím khác cho phép người đọc đọc từng từ hay thậm chí từng chữ. Một số đặc tính khác mà người sử dụng yêu cầu tệp tin quét xong lưu vào đĩa hoặc chép ra băng. Những máy này giá thành từ 1000 bảng đến 2700 bảng , giá thành nếu so với từng bộ phận cấu thành gồm máy tính, máy quét, phần mềm OCR và hệ thống đọc  thì máy chuyên dụng này khá đắt nhưng rất tiện lợi vì cách sử dụng đơn giản hơn nhiều. Chúng không đòi hỏi phải biết nhiều về máy tính, nếu cách sử dụng giống như máy cassette thì tiện lợi hơn là máy tính. Hiệu của các loại này là Pronto (Modern World Data), Galileo (Modern World Data), Aladdin Ambassador (PulseData, Telesensory), Lesefix 2000 (Professional Vision Services) và Portset Reader (Techno-Vision and Concept Systems).


    Back to Chapter index
    13.4.2. Phần mềm đọc trên máy tính

    Một máy tính thông thường có thể chuyển thành máy đọc chỉ cần có máy quét, phần mềm OCR và loa. Một máy quét đầy đủ với gói phần mềm OCR có thể chỉ cần trả thêm 50 bảng, nhưng nêu lưu ý đến độ chính xác, tốc độ hay độ ồn có thể phải trả cao hơn nhiều. Theo quan điểm công nghệ, có khi dùng máy chuyên dụng thì đơn giản hơn còn nếu không người sử dụng phải cần có kiến thức về máy tính cơ bản như cách sử dụng phần mềm đọc màn hình để điều khiển đầu ra của âm thanh. Cũng có thể kết nối với màn hình chữ nổi điện tử vào máy tính, tạo thành máy đọc cho một người vừa câm vừa điếc. Cách sử dụng thiết bị đọc và chữ Braille điện tử trong máy tính được mô tả ở phần 13.6.

     

    Phần mềm OCR thường biết đến là TextBridge ClassicOmniPage Lite thường tính vào giá thành máy quét. Chúng được thiết kế cho người sáng và có cả tính năng mà không phù hợp với người không nhìn thấy được ví dụ khả năng dàn trang và việc ghép các hình ảnh đã được scan. Cũng có loại giá thành cao hơn như phải có đầy đủ tính năng TextBridge (Action Computer Supplies, Concept Systems, RNIB) và OmniPage (Action Computer Supplies) và các gói OCR đầy đủ khác như Kurzweil 1000 (RNIB, Sight and Sound), Cicero (Concept Systems, Dolphin, Pulsedata), Open Book (RNIB, Blazie), Scan and Read Pro (Modern World Data) và Recognita (Professional Vision Services) được thiết kế chuyên cho người khiếm thị. Trong nhiều trường hợp, các gói chuyên dụng cũng có chung tính năng với máy đọc chuyên dụng và giá của phần mềm từ 100 đến 800 bảng. Những phần mềm này loại bỏ những gì mà không thích hợp với nhóm đối tượng sử dụng và thêm vào đó đặc tính làm nổi bật văn bản cho người sử dụng nào vẫn còn nhìn được chút ít.

     

    Sự lựa chọn phần mềm giữa OCR chuyên dụng và thông thường thì thường được chọn lựa dựa trên giá cả và độ tiện dụng. Khi chọn mua, lưu ý xem xét :

    -  cơ chế làm việc giống như máy đọc chuyên dụng

    -  loại bỏ những tính năng không phù hợp, ví dụ vấn đề xử lý đồ họa

    -  không nhận dạng chi tiết đồ họa trên trang giấy

    -  loại bỏ tính năng thiết kế dành cho người nhược thị ví dụ để chỉnh sửa độ tương phản màu sắc của dạng văn bản

    -  tự động định dạng văn bản để trình bày thành một hình thức không có cột, v.v.

    -   giá cả.

     

    Phần mềm đọc tiếng Việt

    Ở Việt Nam, phần mềm đọc tiếng Việt do Phân viện Công nghệ Thông tin tại Tp.Hồ Chí Minh (IOIT) phát triển có thể đọc thành thạo các âm tiết rời. Dự kiến đến cuối năm nay (2005) sẽ hoàn thiện việc đọc theo từng câu thật giống với tự nhiên. IOIT đã đưa thêm cả phần gõ từ bàn phím tiếng Việt vào phần mềm để trợ giúp những người khiếm thị soạn thảo văn bản. Khi họ gõ trên bàn phím, phần mềm sẽ tự động phát ra tiếng để kiểm tra tính chính xác của đoạn văn bản vừa gõ vào. Những người khiếm thị đã yêu cầu IOIT kết nối phần mềm đọc tiếng Việt của IOIT với phần mềm JAWS của Mỹ (do Hội đồng người Mù thế giới tặng trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu). Ngoài ra, IOIT cũng kết nối phần mềm đọc tiếng Việt với phần mềm nhận dạng tiếng Việt cũng của IOIT để người sử dụng có thể điều khiển phần mềm bằng tiếng nói. Chương trình mới chỉ đọc được các tệp tin văn bản có đuôi .RTF và chưa thể dạng đọc nội dung trang web như phần mềm ScreenReader. Hiện đang xúc tiến việc xây dựng cơ sở dữ liệu cho bộ từ điển âm, có một số khó khăn về hệ thống thu thanh và cần một giọng đọc chuẩn để nhập dữ liệu cho từ điển âm. Khi phần mềm được hoàn thiện, phần mềm sẽ được tặng cho một số trường khuyết tật và hy vọng phần mềm của Sở khoa học Công nghệ Hải phòng cũng sẽ được áp dụng ở một số ngành khác

    xây dựng một bộ gõ tích hợp với chương trình soạn thảo văn bản Microsoft Word. Cái hay của giải pháp này là hầu như máy tính nào cũng đã có Word, ai cũng biết sử dụng Word cả rồi, chỉ cần thêm vào một chương trình gõ tích hợp, ta sẽ tận dụng được sức mạnh của Word. Sản phẩm này khi được kích hoạt sẽ hiện ra như là một thực đơn con của Word, cho phép gõ tiếng Việt theo các bảng mã, kiểu gõ khác nhau, đặc biệt là kiểu gõ cho người khiếm thị. Hơn nữa, phần mềm còn có chức năng sữa lỗi, kiểm tra chính tả bằng giọng nói. Ngoài ra, “MATA-Braille” còn có thể chuyển đổi văn bản qua lại giữa các font chữ bình thường và font chữ nổi, tạo điều kiện cho việc in các văn bản dành cho người khiếm thị được dễ dàng hơn.

     

    Sản phẩm này hiện chỉ mới tích hợp với Word, sử dụng Windows 2000 hoặc Windows XP. Nhóm đang có hướng nghiên cứu phát triển để sản phẩm có thể tích hợp với nhiều phần mềm soạn thảo văn bản khác nhau. Mong muốn của nhóm là làm sao sản phẩm đến được với càng nhiều trung tâm/ hội người mù càng tốt. Đó cũng là nguyên nhân để nhóm tác giả, sinh viên  Khoa Công nghệ thông tin, trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên, Tp Hồ Chí Minh quyết định gửi sản phẩm tham gia cuộc thi Nhân Tài Đất Việt 2005.

     

    Trường Nguyễn Đình Chiểu thực hiện một đề tài khoa học cùng với TS Trần Hà Nam, Giám đốc Công ty Tin học Scitec. Sản phẩm của đề tài này là phần mềm NDC (Nguyễn Đình Chiểu) là phần mềm soạn thảo văn bản cho người khiếm thị có khả năng phát âm tiếng Việt khi người khiếm thị gõ một phím nào đó trên máy tính. Không chỉ vậy, phần mềm còn đọc lại cả đoạn văn đang hiện trên màn hình để người khiếm thị nghe lại xem có đúng không.


    Back to Chapter index
    13.5. Truy cập bằng máy tính

    Máy tính hiện nay rất phổ biến ở thư viện để bạn đọc có thể tự tra cứu mục lục điện tử, lướt web hay sử dụng thư điện tử. Ngày càng có nhiều thư viện muốn có các dịch vụ dùng công nghệ truy cập phục vụ người khuyết tật vốn là những người hay bị loại khỏi đối tượng được hưởng thụ lợi ích từ cuộc cách mạng điện tử. 

     

    Có nhiều loại trang thiết bị có thể thích hợp cho đối tượng này với chức năng tương tự như một máy tính, một số thì rẻ và đơn giản và một số khác thì cao cấp và cũng đắt tiền hơn nhiều.


    Back to Chapter index
    13.5.1. Hỗ trợ không dùng công nghệ hay dùng công nghệ thô sơ

    Khá nhiều ý tưởng đơn giản để cải thiện màn hình được giới thiệu ở phần 13.213.3 như trên. Những điều này gồm:

    - dùng loại kính thích hợp để đọc

    - đặt màn hình gần hơn bằng cách dùng giá  đỡ dễ điều khiển di chuyển màn hình và giúp giảm chói và phản chiếu sáng lại từ cửa sổ hay ánh sáng từ phía trên

    - dùng màn lọc màn hình chống chói có chất lượng cao

    - chọn màn hình có khung màu tối đa để cá nhân người sử dụng có thể tự quyết định chọn loại gam màu dễ nhìn nhất cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ chọn riêng cho người khiếm thị

    - ứng dụng kính Fresnel (xem phần 13.3.3 ở trên).


    Back to Chapter index
    13.5.2. Bàn phím máy tính cải tiến

    Là loại phương tiện rẻ và đơn giản hiệu quả cho người còn nhìn thấy chút ít nhưng không quen dùng bàn phím thông thường như lọai được cải tiến các ký tự nổi trên bàn phím. Cách dễ làm là dán một loại nhãn dính vào các ký tự để nhìn rõ và lớn hơn hay phủ lên toàn bộ bàn phím một “bộ găng” mà đã có các ký tự đã in nổi trên đó. Nếu dùng nhãn dính thì bàn phím có thể thay đổi qua máy tính khác khi có yêu cầu. Với bộ găng, có thể dễ dàng lấy ra để chuyển qua một bàn phím khác. Nhãn dính có thể tìm thấy ở Dolphin Systems and Concept Systems và KidGlove bán các bộ găng bàn phím.

     

    Nên tham khảo các cơ quan kiểm định để biết thiết bị đầu ra nào có lợi cho người còn nhìn được dù không được như người bình thường.


    Back to Chapter index
    13.5.3. Chuột máy tính cải tiến

    Điểm chuột hay con trỏ thông thường rất khó định vị trên màn hình, có rất nhiều cách để cải thiện nó. Tùy thuộc vào đĩa cài đặt chuột có nhiều các tính năng khác nhau. Hộp thoại xuất hiện khi chức năng chuột được chọn từ hộp điều khiển (control panel) của Windows sẽ cho biết các chức năng có thể có cho một đĩa cài đặt chuột cụ thể. Bao gồm các điều sau:

    - điểm trỏ của chuột lớn hơn

    - điểm trỏ chuột có màu

    - hình dạng di động của con trỏ

    - dấu vết con trỏ chuột dễ nhận ra bằng cách xếp chồng nhiều lần hình ảnh con trỏ và sáng lên mỗi khi chuột di chuyển

    - một bộ phận định vị để thông báo vị trí con chuột trên màn hình

    - một tính năng tự động di chuyển con trỏ chuột trên màn hình bằng một nút mặc định.

     

    Có nhiều tiện ích của con chuột máy tính như phần mềm với đủ các loại tính năng. Nên nhớ nếu dùng phần mềm điều chỉnh thì nên điều chỉnh chuột, kết hợp tiện ích giữa hai bên cho hài hòa tương thích để không bị xung đột.


    Back to Chapter index
    13.5.4. Màn hình lớn

    Có thể dùng màn hình máy tính loại lớn. Đơn vị dùng để đo màn hình là inch, nhưng thực ra diện tích nhìn thấy thường nhỏ hơn 1 inch. Thông thường chúng ta hay thấy màn hình 14 inch nhưng kích thuớc nhà sản xuất ghi là màn hình 15 inch. Hiện loại 17 inch rất phổ biến và thậm chí 21 inch cũng không phải là hàng hiếm như trước đây nữa.

     

    Màn hình phẳng CRT rất có ích cho việc giảm chói và phản chiếu lại và một số có chất phủ chống chói. “Màn hình phẳng” có nhiều loại khác nhau, dùng loại LCD với công nghệ bán dẫn màn hình mỏng (TFT) như thường thấy ở máy tính xách tay. Không cần phải chiếu sáng thêm và nó chiếm khoảng không gian rất nhỏ, màn hình TFT có nhiều thuận tiện là nó cho hình ảnh hoàn toàn đều đặn mà không bị hiện tượng nhấp nháy. So với màn hình CRT thì nó đắt tiền hơn nhiều nhưng so với trình độ phát triển công nghệ hiện nay thì giá thành LCD thực ra đã giảm đi rất nhiều so với lúc mới xuất hiện trên thị trường. Một màn hình CRT 19 inch và một LCD TFT khoảng 15 inch gần 300 bảng Anh nếu đặt hàng trực tiếp từ nhà máy.

     

    Nếu màn hình lớn hơn 24 inch thì giá rất đắt và màn hình lớn quá sẽ cồng kềnh, nặng nề và khó bố trí. Chúng ít thích hợp với người khiếm thị vì mặc dù có màn hình lớn, khoảng cách từ mắt đến góc của màn hình thì thường quá xa để có thể nhìn thuận tiện. Những người còn có thể nhìn được chút ít thì có thể ngồi cao lên để nhìn lên phía trên màn hình rõ hơn và như thế thì rõ ràng mua màn hình quá lớn sẽ không hiệu quả.


    Back to Chapter index
    13.5.5. Cải tiến màn hình điều chỉnh nhờ Windows

    Có thể dùng một số chức năng của Windows để thay đổi giao diện màn hình kể từ phiên bản 3.1, nhưng với những phiên bản mới thì việc điều chỉnh dễ tìm thấy và thuận tiện hơn.Trên những phiên bản cũ thì các tính năng này bị giấu trong các tệp tin hệ thống hay trong bảng điều khiển (Control Panel), một bảng hướng dẫn khả năng truy cập nhanh (Accessibility Wizard) trên phiên bản Windows 98 cho nhiều cách chọn lựa để mọi người đều có thể dễ dàng sử dụng.

     

    Các yếu tố màn hình chạy trên Windows có thể thay đổi gồm:

    - kích cỡ trình bày tiêu đề và trình đơn

    - độ phân giải màn hình

    - kích cỡ thanh cuộn và khuôn cửa sổ

    - kích cỡ các biểu tượng chương trình và các nhãn đính kèm

    - khung màu của tất cả các cửa sổ thì người sử dụng chọn lựa hay thiết kế trước.

     

    Mặc dù tính năng chọn lựa của Windows đều được dựng sẵn, vẫn còn nhiều khu vực nơi mà gam màu và kích cỡ chữ được cân đối cố định trong Windows. Nhiều hộp thoại và thông báo lỗi cố định không thể tuỳ chọn nên sẽ không thể phóng to kích cỡ chữ lên được. Nhiều ứng dụng tự thiết lập khung màu theo cách riêng mà không dùng màu mặc nhiên của Windows cài sẵn. Một số ứng dụng có thêm tính năng như trình bày các nút lớn hơn trên trình đơn hay điều chỉnh văn bản trình bày ở kích cỡ lớn hơn đến 100% (tính năng này luôn có trên thanh công cụ trên Microsoft Office).

     

    Một nghiên cứu gần đây do Ủy ban Thư viện và Thông tin đã đánh giá khả năng công nghệ cho phép người khiếm thị chỉnh sửa các tính năng cài đặt trên máy tính. Báo cáo của HumanITy (HumanITy, 2000) chỉ ra việc sử dụng Windows NT sẽ hỗ trợ ứng dụng truy cập tốt nhất mà mạng thư viện có thể hỗ trợ cho cả người sáng lẫn người khiếm thị chỉ cần chỉnh sửa chút ít trong cấu trúc hệ thống của mạng chính. (Xem phần Phụ lục A3).

     


    Back to Chapter index
    13.5.6. Cải tiến màn hình nhờ phần mềm thông thường

    Nhiều phần mềm có các ứng dụng làm phóng to màn hình theo nhiều cách khác nhau. Một trong những cách chung nhất là dùng Microsoft Magnifier, đầu tiên xuất hiện trên phiên bản Windows 98, hiện có trên Windows 2000, XP. Ứng dụng trong các phiên bản mới này có thể có chức năng phóng to hình ảnh khu vực xung quanh con trỏ tức chỉ chú trọng vào khu vực quan trọng mà người đọc quan tâm ví dụ khi lướt chuột thì trình đơn được tô sáng lên.

     

    Trong khi chương trình Magnifier có một số tính năng có ích như khả năng theo dấu vết con trỏ hay chuyển đổi màu màn hình. Tính năng phóng đại khu vực nơi con trỏ định vị có thể ít khi được sử dụng trong khi đang đánh văn bản, mặc dù nó có thể có ích đối với việc sử dụng Internet. Một số card đồ họa được quảng cáo có tính năng phóng đại: cần thiết phải kiểm tra để xem nó có ích gì cho người khiếm thị không hay nó chỉ thiết kế nhằm làm rõ các chi tiết đồ họa chỉ có ích đối với người bình thường. 


    Back to Chapter index
    13.5.7. Cải tiến màn hình nhờ phần mềm chuyên dụng

    Trên thị trường hiện có nhiều phần mềm phóng to màn hình dành riêng cho người khiếm thị. Có các sản phẩm như Lunar (Concept Systems, Dolphin, Visionaid, Visualeyes), ZoomText Xtra (Concept Systems, RNIB, PulseData, Sight & Sound, Visionaid, Visualeyes), Magic (Sight & Sound, Professional Vision Services, Blazie), Magnice (Choice Technology) and Argus 3000/I (Visualeyes, Visionaid). Giá thành từ £80 đến £320, trừ Argus vì là sản phẩm phần cứng phóng đại nên giá lên đến  £3.000. Giá cả phụ thuộc vào số giấy phép, hệ điều hành và dùng cho 1 máy hay dùng toàn mạng. RNIB TiLE ấn hành một bản thông tin chi tiết về tất cả sản phẩm phần mềm phóng đại màn hình có mặt trên thị trường.

     

    Những sản phẩm này cho phép phần mềm điều chỉnh màn hình không cần biết quá chi tiết cách điều chỉnh, nhân viên thư viện và người sử dụng không nhất thiết phải biết chuyên sâu. Nhà cung cấp phần mềm phóng đại màn hình được yêu cầu phải tập huấn cho thủ thư và cho độc giả cách sử dụng.

     

    Chú ý là hệ thống phóng đại màn hình thay đổi tùy theo giá trị gói phần mềm. Một số chỉ phóng đại văn bản mà không xử lý được đồ họa, hay không tương thích giữa phần mềm và phần cứng, hoặc không tương thích với một phần mềm hay phần cứng nào đó. Vì thế quan trọng là phải thử hệ thống trước hoặc buộc phải mô tả các tính năng yêu cầu cần có. 

     

    Nguyên tắc của loại phần mềm này dùng để phóng to hình ảnh trên màn hình. Điều này có nghĩa là màn hình chỉ trình bày một phần tỷ lệ của nội dung gốc: ¼ hình ảnh lớn có thể nhìn được nếu phóng to gấp 2 lần như việc tăng kích cỡ lên 2 lần là ứng dụng cho cả hai chiều. Phóng to gấp 4 hay 5 lần thì rất khó để ứng dụng, vì chỉ có một phần nhỏ nội dung được hiển thị. Ở mức phóng lên 5 lần có hai nút nhỏ trên hộp thoại của màn hình có thể chạy ở độ phân giải 640 x 480.

     

    Để trợ giúp, một số cấp độ của âm thanh phát ra hỗ trợ phần mềm phóng to màn hình điển hình như ZoomText Xtra level 2, Lunar PlusMagic with Speech, giá thành có thể tăng thêm từ 110 bảng đến 160 bảng so với phần mềm chỉ có chức năng phóng to. Một người mù hoàn toàn không thể sử dụng dễ dàng vì không phải mọi thứ trên màn hình đều có thể đọc lên hoặc trong trường hợp người sử dụng không thể nhìn màn hình liên tục. Hiện chỉ có một phần mềm, Supernova (Dolphin, Concept Systems, Visionaid), tích hợp đầy đủ tính năng đọc kèm với tính năng phóng to màn hình. Giá thành của Supernova từ 695 bảng đến 995 bảng cho phép đặt hàng một máy, giá thay đổi tùy theo phiên bản nào mà khách yêu cầu.

     

    Khi mức độ phóng to tăng lên, đơn giản là các chấm lớn hơn để lắp ráp bức tranh lại, hình dạng của các ký tự có thể bị kéo giãn, đặc biệt là các chữ W và X. Hầu hết các sản phẩm phóng đại màn hình có thể ứng dụng rất dễ dàng với mục đích làm chữ trông được rõ hơn. Đôi khi tính năng này bị mâu thuẫn với đặc điểm kỹ thuật khác như độ phân giải, nét màu hay tăng tốc hình họa, thì cần đề nghị nhà cung ứng giúp đỡ.

     

    Các tính năng hữu ích khác trong hầu hết các phần mềm phóng đại luôn có tính năng tắt hay mở, tăng hay giảm một cách dễ dàng. Nút này tắt khi màn hình đọc có tác dụng, khả năng chuyển màu không phụ thuộc vào Control Panel của Windows và khả năng thay đổi cửa sổ phóng đại sẽ chỉ chiếm một phần nhỏ trên màn hình, phần còn lại thì không phóng lớn ra. Con trỏ chuột hay điểm nháy cũng có thể cải tiến theo một số cách để dễ nhìn thấy hơn.


    Back to Chapter index
    13.6. Dùng máy tính với thông tin đầu ra là chữ Braille hay giọng nói

    Hệ thống thông tin đầu ra là chữ Braille và có phát âm rất phức tạp khi cài đặt và vận hành. Việc cài đặt hay bị thất bại vì không tương thích với cấu hình máy hay bị một số hiệu ứng phụ lỗi kỹ thuật hay những sự cố khác nữa. Tuy nhiên chúng là công cụ tuyệt vời cho người khiếm thị vốn không có điều kiện tiếp xúc với thế giới thông tin mà hiện nay đang được lưu trữ nhiều dưới dạng điện tử.

     

    Để có sản phẩm tốt, nhân viên kỹ thuật của thư viện nên tham gia tìm hiểu, chọn lựa và thực hiện cài đặt phần mềm và phần cứng. Chi phí dự kiến nên tính vượt ra ngoài giá trần của phần cứng và phần mềm vì có thể phải trả chi phí cho chuyên gia tư vấn. Cũng nên dự tính khoảng thời gian cần thiết để giải quyết các vấn đề trục trặc kỹ thuật hay tập huấn nhân viên 


    Back to Chapter index
    13.6.1. Gõ bàn phím

    Có một số người có vấn đề về thị lực không thể dùng phần mềm phóng đại sẽ làm cho thủ thư gặp rắc rối hơn. Họ có thể đánh máy không? Nếu không, thì ít nhất thủ thư có thể cấp một máy sử dụng độc lập và họ có thêm điều kiện tập luyện. Học gõ bàn phím thì cần thiết cho một số người không còn nhìn thấy được tốt nữa và nên khuyến khích cho người khiếm thị nếu có thể.

     

    Nên nhớ là những đợt tập huấn máy tính căn bản thông thường sẽ không thích hợp đối với người bị mất thị lực. Các khóa học đánh máy ở các trường đại học trong địa phương, tổ chức tình nguyện, hay các lớp buổi tối có thể kéo dài để hỗ trợ cho việc học của họ. Hoặc các khóa dạy máy tính thu trên băng cũng nên giới thiệu để mua hay cho người học mượn về nhà. RNIB cũng có băng cassette dạy đánh máy và một số sản phẩm chuyên nghiệp khác có cả khóa học trên phần mềm phát âm. Như Iota Touch Type (Iota Software) và Centre Touch Typing Tutor (VICTAR). RNIB TiLE cung cấp danh mục các sản phẩm và dịch vụ  hướng dẫn sử dụng bàn phím.


    Back to Chapter index
    13.6.2. Tập huấn sử dụng máy tính căn bản

    Một số người chỉ có thể đánh máy nhưng không có kinh nghiệm sử dụng máy tính thì cần được tập huấn để biết máy tính căn bản. Khái niệm nằm dưới nhiều phần thực hành ứng dụng, kể cả Windows, là cái gì đó rất dễ nhìn thấy, biểu tượng, trình đơn, nút, thanh công cụ, hộp chỉnh sửa, nút phát thanh và nhiều cái khác nữa. Nên chỉ dẫn họ tìm đến một chuyên gia dạy vi tính trước khi tự cố gắng hỗ trợ họ sử dụng máy tính trong thư viện. 

     

    Tập huấn máy tính cơ bản là vấn đề rất tế nhị vì người cần tập huấn lại là người khiếm thị. Tập huấn công nghệ thông tin tổng quan nhìn chung rất ít khi thích hợp vì người hướng dẫn thường chỉ dẫn học viên dựa trên những gì họ theo dõi trên màn hình hay dùng chuột. Nhưng các chuyên gia dạy vi tính đặc biệt thì rất khó tìm và học phí rất cao. Dễ dàng hơn là tìm các dịch vụ của các nhóm tình nguyện cho người mù có những người tập huấn đủ kinh nghiệm và kiến thức hỗ trợ cho người khiếm thị. Có một số tài liệu đặc biệt biên soạn cho người khiếm thị 'Windows 95 - giải nghĩa' (Morley, 1997) và ‘Windows 98 - giải nghĩa’ (Morley, 2001) và các tài liệu hướng dẫn trên CD hay băng cassette. RNIB TiLE cũng phát hành các thông tin liệt kê các tài liệu hướng dẫn, sản phẩm hay dịch vụ tập huấn cho người khiếm thị. 

     

    Ở Việt Nam, năm 2003, Quỹ Từ thiện Samsung Digital Hope đã tài trợ cho Dự án "Phát triển hệ thống đào tạo tin học từ xa cho người khiếm thị" của Trung tâm Tin học Sao Mai tại Tp. Hồ Chí Minh. Thông qua Dự án này, các cộng đồng khiếm thị ở một số tỉnh, thành phía Nam đã có cơ hội tiếp xúc với máy tính và Internet. Các giảng viên của trường tin học Sao Mai đã cất công hướng dẫn cho các lớp tin học cơ bản và cài đặt phần mềm đọc văn bản, đọc web trên máy tính dành riêng cho người khiếm thị. Sắp tới, khi hệ thống hoàn tất, sẽ có thêm nhiều cộng đồng người khiếm thị ở các tỉnh, thành xa xôi được học tin học từ xa qua mạng máy tính. Thoạt đầu, Công ty Scitec đã tiên phong trong việc trình lên Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường TP.HCM (nay là Sở KH-CN) đề tài khoa học "Sử dụng tin học trợ giúp cho người khiếm thị". Bước đầu, nhờ đề tài này, những người khiếm thị đã có thể sử dụng phần mềm NDC để soạn thảo văn bản. Kể từ đó, các chuyên viên trong ngành công nghệ thông tin đã cùng bắt tay với nhau để viết những phần mềm đọc văn bản, học tiếng Anh, gõ máy tính,... cho người khiếm thị. Năm 2004, Ngân hàng Thế Giới tài trợ thực hiện dự án Ánh Dương, do trường Phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu chủ trì, Phần mềm duyệt web Vietnamese Web Reader. Họ sẽ đọc/soạn thảo e-mail, đọc báo điện tử, lướt web,... "tương tự" như những người sáng mắt.  Hiện nay, nhóm thiết kế phần mềm Ánh Dương đã thiết lập trang web dành riêng cho Trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu. Trong tương lai, người khiếm thị còn có khả năng thiết kế trang web


    Back to Chapter index
    13.6.3. Hệ thống phát âm

    Hệ thống phát âm từ máy tính yêu cầu hai yếu tố:

    a) phương pháp tạo âm thanh, như card âm thanh, loa, hay phát âm nhân tạo

    b) phần đọc màn hình đó là phần mềm chuyển nội dung trên màn hình vào hệ thống phát ra tín hiệu dưới hình thức sóng âm thanh.

     

    Như thường được trình bày một cách xúc tích “phần mềm đọc là bộ não của màn hình và hệ thống phát âm sẽ là giọng nói giao tiếp” (Waddell, 1998).

     

    Máy tính hiện đại gần như luôn được cung cấp một phần cài đặt âm thanh thích hợp đã dựng sẵn, vì thế phần tổng hợp giọng nói đặc biệt hiện nay cũng rất ít khi cần đến. TiLE ấn hành bảng tin chi tiết về hệ thống phát âm hiện có ở Anh quốc như Hal (Concept Systems, Dolphin, Visionaid), JAWS (Sight and Sound, Professional Vision Services, RNIB), OutSpoken (Professional Vision Services), ProTalk (Professional Vision Services), Window Bridge (Techno Vision Services) và Window-Eyes (FORCE 10, Computer Room Services). Giá cho một đặt hàng đơn là từ 500 đến 900 bảng, mặc dù bắt đầu đã có một số sản phẩm nhắm vào thị trường nội địa chỉ với giá 80 bảng.

     

    Hal hỗ trợ việc truy cập cả âm thanh và chữ Braille kể cả tính năng mô tả yếu tố đồ họa. JAWS for Windows cũng hỗ trợ giọng nói và chữ Braille cung cấp mã ngôn ngữ để cải tiến phát âm và công cụ để nhận dạng lỗi phần cứng và phần mềm (Dr JAWS). JAWS for Windows cũng cho phép người sử dụng không chỉ chọn ngôn ngữ ưa thích mà còn cho phép chọn giọng phát âm ví dụ giọng Anh hay Mỹ. Tưởng tượng là máy tính bỏ cả màn hình lẫn chuột và thay vào đó là giọng đọc máy kỳ quái: đó là cách mà bạn phải làm nếu bạn sử dụng máy tính mà bạn không nhìn thấy được gì. Người sử dụng chữ Braille hay phần phát âm là phương tiện giao tiếp với máy tính, ít nhất họ phải biết dùng bàn phím để điều khiển ứng dụng, vì con chuột lúc đó đã không còn tác dụng. Hầu hết các phần tập huấn cho người sáng không có thông tin cần thiết này! Chức năng trợ giúp của Windows có phần liệt kê các biểu tượng bàn phím chính cho các ứng dụng chung.

     

    Các gói phần mềm phát âm có chung một vài tính năng. Trước hết là phải có thể dùng một phím dễ thấy để tắt được chương trình đọc. Có thể điều chỉnh được tốc độ, tần số, độ cao, âm lượng của giọng nói và lặp lại. Người sử dụng phải lướt qua văn bản từng từ một, có lẽ thậm chí từng ký tự nếu nó không hiểu từ đó và cách phát âm ABC thường được phân biệt giữa hai ký tự giống nhau như p và b. Sẽ có một máy chủ có một số đặc điểm khác được tận dụng sử dụng bộ phát âm như công cụ hàng ngày để truy cập vào máy của họ. Một trong số những vấn đề chính mà nhân viên thư viện hay gặp là người sử dụng bực mình vì hệ thống phát âm của máy tính không giống cái mà họ biết s dụng. Vì khi nó được cài đặt cách khác nên cùng các phím tắt giống nhưng có chức năng điều khiển khác nhau.

     

    Hiểu biết về phím tắt sẽ ứng dụng tốt và có thêm một số phím để điều khiển hệ thống phát âm là một trong số kỹ năng cần thiết nhất cho người sử dụng hệ thống phát âm. Người đó sẽ không thể tự xem các hướng dẫn sử dụng phím tắt trong cẩm nang để tự nhắc mình phím nào có tác dụng gì. Vì thế thủ thư cần nghĩ đến chuyện hỗ trợ mức độ khác nhau để giúp cả đọc giả mù mới biết sử dụng máy tính hay người đã có kinh nghiệm dùng máy tính, người mới đến thư viện và ngưi sử dụng thư viện thường xuyên.


    Back to Chapter index
    13.6.4. Hiển thị chữ Braille điện tử

    Chữ Braille là mã nổi gồm 6 chấm, các ký tự Braille đại diện cho 1 số, 1 chữ, 1 nhóm chữ, 1 từ hay dấu. Braille cấp 1 dùng một hay nhiều ký tự Braille cho từng ký tự và số và cấp 2 dùng rút gọn để đọc nhanh hơn. Một số mã đặc biệt cho các loại ngôn ngữ khác nhau, nốt nhạc, toán học tới một phạm vi lớn hơn nữa như thơ. Chữ Braille máy tính (đôi khi gọi là cấp 0) dùng số để quy ước thêm để các ô chữ Braille điện tử phù hợp với một ký tự trên màn hình.

     

    Bộ chữ Braille điện tử (đôi khi gọi là bảng chữ Braille mềm) chứa một hộp gồm các số ô của chữ Braille, mỗi ô có 8 lỗ kim nhỏ trên lưới 2x4 tương ứng với ký tự Braille thêm 2 chấm dư. Mỗi nốt kim được kết hợp kiểm soát để có thể phù hợp với cấu hình chữ Braille. Hai chấm dư để thêm thông tin như viết in hay cho chữ đậm nét hay nét nghiêng. RNIB TiLE cho ấn bản chi tiết về tất cả bảng chữ Braille có ở Anh Quốc, gồm Alva (Professional Vison Services, RNIB), Braillex (Papenmeier), HandiTech (Sight and Sound), PowerBraille (Blazie) và Tieman (Concept Systems).

     

    Một khi phần mềm được hỗ trợ, bảng chữ Braille được kết nối với máy tính chạy chính xác phần mềm đọc màn hình. Thực tế là chữ Braille và phát âm thường được sử dụng cùng lúc chứ không phải từng cái một. Điều này cũng đã là rất có ích cho người mù sử dụng máy tính vì trong khi một  người sáng có thể truy cập cùng lúc ít nhất 20 màn hình khác nhau, nếu không bị quá đầy nội dung. Vấn đề tương tự lại xảy ra nếu người sử dụng phần mềm đọc thì thủ thư cần trang bị kiến thức kỹ thuật để có thể hỗ trợ người sử dụng. 

     

    In chữ Braille rất đắt tiền từ 2.000 đến 11.000 bảng (thường là từ 4.000 đến 8.000 bảng) và số người sử dụng chữ Braille rất ít so với cộng đồng người mù và khiếm thị. Mặc dù thế, sự quan trọng của chữ Braille cũng không thể đánh giá thấp, vì nó là một chọn lựa trong các phương tiện đọc quan trọng cho người khiếm thị và là phương tiện giao tiếp cần thiết cho người câm điếc.


    Back to Chapter index
    13.7.1. Braille

    Thông tin về các hình thức khác nhau của chữ Braille tham khảo mục 13.6.4

     

    Xuất bản chữ Braille (hay gọi là in chữ Braille) thì không phức tạp một khi mọi thứ đã cài đặt sẵn. Khả năng này cho phép một người chuyển đổi gấp văn bản một bản sao chép từ một bài trích của một nghiên cứu hay một văn bản ngắn họ cần thì rõ ràng đây quả là một dịch vụ đúng chỗ và rất hữu ích đối với độc giả.

     

    Để hỗ trợ được dịch vụ này, cần có phần mềm chuyển đổi chữ Braille để  chuyển văn bản thường trên giấy hay trên web thành chữ  Braille và một máy in Braille sử dụng loại giấy Manilla đặc biệt để có bảng chữ Braille. 

     

    Đối với công việc đơn giản, yêu cầu dịch văn bản thành chữ Braille thì Braillemaker (Pia) là một chương trình hiệu quả dễ học, dễ sử dụng và có thể thành thạo nhanh chóng. Nếu có dịch vụ chuyển dạng chuyên dụng nào được cài đặt, thì còn có thể chỉnh sửa hình thức hay chuyển các loại văn bản phức tạp hơn. Trong trường hợp đó, Duxbury Braille Translator (Papenmeier, Professional Vision Services, Sight and Sound, Techno Vision, RNIB) là một trong những cách chọn lựa tốt. Duxbury cũng cho phần mềm hỗ trợ cả ngôn ngữ xứ Wales và các ngôn ngữ Châu Âu khác.

     

    Mã chữ Braille có thể khá phức tạp, đặc biệt là khi văn bản cần chuyển là bất cứ thứ gì chứ không chỉ là một đoạn văn bản hay các con số. Mặc dù phần mềm chuyển chữ Braille hiện nay khá phức tạp, nó thường có thể lỗi khi trình bày và khi sản xuất có những ký tự sai mà không đọc nháp lại trước. Trong khi nhiều khách hàng thư viện sẽ chấp nhận sản phẩm chữ Braille không hoàn hảo, dịch vụ chuyên dụng nên có phần đọc nháp để chỉnh sửa và nên thuê một nhân viên rành về chữ Braille để có thể chuyển đổi các loại văn bản phức tạp như bản nhạc, thơ hay toán. 

     

    Có nhiều loại máy in chữ Braille và sự chọn lựa máy nào tùy thuộc vào các yếu tố như tiếng ồn, tốc độ và số lượng ấn phẩm chữ Braille in ra. Muốn kết hợp phần mềm và phần cứng như thế nào thì được chọn, cần phải có một chuyên gia cài đặt, để có thể kiểm tra đầu ra sản phẩm chữ Braille để khi in xong có thể kiểm tra xem có xảy ra trục trặc kỹ thuật gì không.

     

    Chi phí cho một phần mềm từ 100 bảng đến 400 bảng và giá thành một máy in khoảng 1,500 bảng. RNIB TiLE có thông tin về cả hai loại sản phẩm này.  


    Back to Chapter index
    13.7.2. In ấn

    Hình dạng và kích cỡ chữ in có thể gây sự khác biệt hoàn toàn là làm cho người khiếm thị có thể đọc được hay không đọc được văn bản in ấn. Kích cỡ chữ lớn tương đối sẽ giúp người nhược thị đọc rõ hơn khá nhiều. Chữ in được đo bằng kích cỡ điểm ví dụ sách cẩm nang này in bằng kiểu Arial cỡ chữ 14. Cỡ 14 là cỡ chữ trung bình đối với người mù và khiếm thị được khuyến cáo sử dụng. Không khác gì mấy nếu dùng cỡ chữ lớn hơn 20, tuy nhiên các tiêu đề cần cỡ chữ lớn hơn. (Xem phần 13.2.5).


    Back to Chapter index
    13.7.3. Đồ họa nổi

    Một bức tranh có giá trị có khi còn hơn cả 1000 lời diễn đạt. Sách thường có đồ họa, bản đồ, biểu đồ, bản nhạc,.. hay nhiều loại minh họa khác nữa và những loại tài liệu này thì rất khó sử dụng đối với người khiếm thị. Sản xuất dạng hình nổi là một cách để khắc phục được chuyện đó. Một cách để tạo hình nổi là copy hình đó trên giấy phồng đặc biệt. Giấy này nhạy với nhiệt và nó phồng lên ở những nơi mà hình ảnh được đánh dấu, khi nóng sẽ làm nổi bề mặt lên. Một máy làm nóng giấy là công cụ cần thiết tạo đồ họa nổi bằng giấy phồng. Nếu hình ảnh bôi đen được in lên giấy (có thể dùng máy photocopy nhiệt độ thấp hay máy khác) và khu vực bôi đen sẽ được phồng lên khi cho giấy chạy qua máy làm nóng. Những chỗ khác thì vẫn bằng phẳng. Nếu sử dụng, ví dụ nếu dùng giấy của hãng Zychem, biểu đồ có thể tạo ra bằng cách in trực tiếp vào giấy trước khi đưa nó vào máy, chứ không phải photocopy. 

     

    Bốn loại máy hiện có trên thị trường để sản xuất hình nổi Pictures in a Flash (Modern World Data), Tactile Image Enhancer (Techno-vision, Queen Alexandra College), Hotspot Fuser Junior (Visualeyes) và Zy-Fuse (Zychem). Giấy phồng cũng có thể tìm từ các nhà cung ứng này và từ RNIB.

     

    Một loại thay thế cho giấy phồng là phim nhựa nổi được dùng với bút bi hoặc công cụ làm nổi đặc biệt. Phim này sẽ nổi lên theo nét vẽ của bút và tạo những đường nổi mà không cần cần lật phim lên. Cũng được khuyến cáo nên dùng một tấm lót đặc biệt. Công cụ làm nổi được thiết kế để tạo những đường dày liên tục khác nhau, dùng chấm hay gạch, đường cong hay vòng tròn. Công cụ và phim loại này có tại RNIB.

     

    Dùng phần mềm đồ họa đặc biệt cũng có thể làm với loại giấy nổi thông thường dùng máy in chữ Braille. Hình ảnh này sẽ được vẽ theo nét chấm hơn là đường thẳng. Picture Braille (Queen Alexandra College) chạy trên máy tính và có thể giúp người sử dụng tạo biểu đồ hay bản đồ. Đồ họa được gửi qua máy quét tay đến máy in và hình ảnh nổi cũng được sản xuất.

     

    Tactile Graphics Designer (Techno-vision) là chương trình thích hợp để tạo đồ họa nổi hay bản đồ âm thanh nổi. Bản đồ âm thanh nổi giúp người dùng nghe được tiếng nói diễn đạt các phần cụ thể của biểu đồ khi chạm tay vào. Ví dụ, trên một bản đồ, tên đường có thể được đọc lên cho nghe được.

     

    Nhiều trung tâm khác nhau cung cấp dịch vụ tạo biểu đồ nổi như Trung tâm Đồ họa nổi quốc gia, Trường Đại học Nữ hoàng Alexandra và Trung tâm Biểu đồ và Bản đồ RNIB.

     

    Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp.HCM

    Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp.HCM đã cử một sốn cán bộ tham gia các chương trình tập huấn sản xuất đồ học nổi do Quỹ FORCE tài trợ tổ chức tại Việt Nam và Philippin.

    Thư viện cũng đã biên dịch quyển “Cẩm nang sản xuất đồ họa nổi”, phân phối cho các thư viện tham gia tập huấn.

    Sau chương trình tập huấn, thư viện đã tạo lập một bộ sưu tập đồ họa nổi để phục vụ nhu cầu cho bạn đọc khiếm thị với nhiều chủ đề khác nhau như toán, lý, hóa, sinh học. Có thể tham khảo cơ sở dữ liệu này tại địa chỉ http://www.gslhcm.org.vn/contents/hoat_dong_khiem_thi/

    Từ năm 1997 đến nay, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố đã trải qua 7 lần Hội thi vẽ tranh theo sách cho thiếu nhi. Năm 2002 với sự tài trợ của Quỹ FORCE, Thư viện KHTH và Thư viện Hà Nội đã được tài trợ máy in phồng Heater. Tận dụng lợi thế của trang thiết bị này, Thư viện đã ứng dụng đưa vào hoạt động vẽ tranh cho các trẻ mù và khiếm thị tại các trường, nhà mở và mái ấm. Từ đó đến nay, các em đã có cơ hội trở thành những thí sinh thường xuyên của “Hội thi Nét vẽ xanh” của Thư viện Thành phố. Với hoạt động sáng tạo trên cùng với việc duy trì hoạt động mỹ thuật cho thiếu nhi nói chung. Thư viện đã được Bộ Văn hóa – Thông tin trao tặng bằng khen điển hình Thư viện với công tác giáo dục mỹ thuật cho thiếu nhi. Bộ sưu tập tranh của các em khiếm thị đã được trưng bày tại hội nghị và trong các đợt triển lãm lớn trong và ngoài nước đã gây ngỡ ngàng cho cả Ban giám khảo lẫn công chúng về cả giá trị thẩm mỹ và nhân văn.

    Kế hoạch sắp tới Thư viện Khoa học Tổng hợp sẽ phát triển vốn tài liệu sách có hình nổi để phục vụ mượn liên thư viện cho các trường và đơn vị nuôi dưỡng và giáo dục các em mù và khiếm thị


    Back to Chapter index
    13.8. Internet

    Đối với người mù hay người còn sáng chút ít sử dụng Internet thì nó gần như thiếu hiệu quả. Vì lần đầu tiên họ tiếp cận với một khối lượng thông tin khổng lồ ngày càng lớn, các dịch vụ và thông tin thông qua web từ mọi chuyện tìm kiếm cơ bản đến nâng cao như giao dịch ngân hàng, tìm việc làm, mua sắm hay giải trí cũng như tìm sách, báo tạp chí trực tuyến những thông tin mà họ khó lòng có thể đọc được từ tài liệu ở dạng chữ nổi hay băng từ. 

     

    Nhiều người đến thư viện truy cập Internet sẽ xa lạ với web và sẽ cần sự trợ giúp để tìm được những địa chỉ hữu ích. Thêm vào đó, như trình bày ở phần trên, cần có sự hướng dẫn tìm địa chỉ thích hợp và hữu ích và làm sao có được những trang web thiết kế đặc biệt. Thêm vào đó, một số người cần làm quen với công nghệ, trong khi những người đó sẽ cần tập huấn ban đầu để có thể dùng bàn phím, phần mềm đọc màn hình và máy phóng đại 


    Back to Chapter index
    13.8.1. Trình duyệt web nói

    Đây là những chương trình diễn giải trang web bằng cách chuyển đổi nó trực tiếp sang phát âm, mà không cần có phần mềm đọc màn hình như loại đã mô tả trong 13.6.3. Trong thực tế, điều này chỉ có nghĩa là dùng lệnh bàn phím, có thể dễ dàng điều khiển các trang web tương đối phức tạp. Phần mềm đọc màn hình sẽ báo cho bạn biết tên các nối kết, nhận ra nhãn hình ảnh, đoạn, tiêu đề mỗi phần, bảng biểu và biểu mẫu.  Đây là phần quan trọng vì một số cấu trúc nhìn thấy được làm cho phần mềm đọc nhầm lẫn với cấu trúc trình bày phức tạp của trang web.

     

    Có hai loại trình duyệt web nói thường sử dụng: pwWebSpeakIBM Home Page Reader (cả hai đều có ở Soundlinks). pwWebSpeak thì đơn giản hơn và cho các ý tưởng trình bày trang, cấu trúc trang nơi nó đang làm việc rõ nhất, tuy nhiên hiện nay nó không được tiếp tục phát triển nữa và không hỗ trợ được cho các trang mua bán thương mại mang tính phức tạp cao (ví dụ như ngân hàng hay dịch vụ mua sắm) trong khi đó Home Page Reader cho phép linh động hơn và giải quyết được mức độ phức tạp hơn trong cấu trúc của một số trang web. Với pwWebSpeak, độc giả có thể học cách sử dụng cơ bản trong vòng ít hơn nửa tiếng đồng hồ, trong khi đối với Home Page Reader, cần phải có thực tập, tự nghiên cứu thì mới làm tốt được.

    Connect Outloud (Sight and Sound) là sản phẩm truy cập web dựa trên sản phẩm JAWS. Nó được thiết kế chủ yếu để truy cập Internet
    , có nhiều tính năng hơn cả, khác với trình duyệt web nói vì nó còn là công cụ để xử lý văn bản.

     

    Người khiếm thị ở Việt Nam đã từng tiếp cận với công nghệ đọc văn bản trên máy tính qua phần mềm NDC (Nguyễn Đình Chiểu). NDC do Công ty Scitec thực hiện riêng cho những người khiếm thị, hỗ trợ đọc các văn bản tiếng Việt, thư điện tử và các trang web off-line. Vừa qua, các giảng viên của Trung tâm Tin học Sao Mai (dạy tin học cho người khiếm thị) đã tiến hành hướng dẫn cách sử dụng phần mềm truy cập Internet và cho phép đọc các văn bản trên mạng bằng tiếng Việt. Phần mềm này mang tên Sao Mai Browser, là kết quả của dự án Samsung Digital Hope 2003 với phần mềm Sao Mai Browser, người khiếm thị có thể dễ dàng truy cập Internet bằng những phím tắt. Chương trình ứng dụng này có khả năng xác định lại mệnh lệnh sau khi người sử dụng ra lệnh bằng cách gõ bàn phím. Khi truy cập vào trang web, ngoài việc đọc từng từ, Sao Mai Browser còn có thể đọc các đoạn văn bản bằng tiếng Việt một cách rõ ràng. Những người khiếm thị sẽ nghe được tin thời sự nóng hổi trên Internet như những người sáng mắt. Khi chuyển mục trên các trang web, máy tính sẽ đọc tiêu đề của từng mục nhằm xác định chắc chắn mục cần nghe.

     

    Một phần mềm lướt web khác từ dự án Ánh Dương_ Vietnamese Web Reader do Ngân hàng Thế giới tài trợ, trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu_TPHCM chủ trì. Phần mềm được đưa vào sử dụng tháng 7/ 2004, có những tính năng tương tự Sao Mai Browser, đang được cộng đồng người khiếm thị sử dụng.


    Back to Chapter index
    13.8.2. Sử dụng các trình duyệt thông thường

    Như đã giải thích ở phần trên, ứng dụng máy tính thông thường có thể sử dụng được cả phần mềm đọc, mà sản phẩm là tiếng nói hay chữ Braille, hoặc là màn hình được phóng to ra. Vì thế nó có thể dùng một trong hai trình duyệt Internet Explorer hay Netscape Communicator. Tuy nhiên, để có thể hiểu được các trang đơn giản nhất thì cũng cần có đủ kiến thức về phần mềm đọc hiện đang sử dụng và cách tiếp cận này cần phải tập huấn kỹ thêm cho nhân viên và người sử dụng thư viện.


    Back to Chapter index
    13.8.3. Các ứng dụng Internet khác

    Muốn sử dụng phần mềm đọc hay phóng đại và bất cứ phần mềm Internet khác, thư điện tử, tán gẫu hay đọc tin tức thì phải tổ chức tập huấn nhiều hơn. Vì lý do này mà có thể sẽ hiệu quả hơn để dùng các dịch vụ trên các hệ thống dò tìm trên web như HotMail (http://www.hotmail.com/) để email, hay Dejanews (http://www.dejanews.com/) để đọc tin, dùng phương pháp duyệt đã có sẵn. 

     

    Thông tin về truy cập Internet dành cho người mù và khiếm thị và các sản phẩm về vấn đề này có thể tìm trên tờ tin của RNIB TiLE.


    Back to Chapter index
    13.9.1. Máy ghi chép và tổ chức tệp tin

    Có một số máy như máy ghi âm bỏ túi với bộ phận tổ chức theo dạng số hóa khá phức tạp, gọi là “máy ghi chép”, đặc biệt thiết kế như máy vi tính và có cả phần đầu xuất âm thanh hay chữ Braille cực kỳ hữu ích bất cứ nơi nào, lúc nào cần thông tin. Chi tiết về các loại này vượt khỏi phạm vi nội dung của chương này nhưng cũng cần biết vì tính hữu ích của chúng, để chỉ cho người sử dụng biết về sự hiện diện của các loại máy trợ giúp này và cũng để chuyển tệp tin khi có nhu cầu vào các thiết bị này. Thông tin thêm có thể tìm trên tờ tin TiLE.


    Back to Chapter index
    13.9.2. Nhận dạng giọng nói

    Nhận dạng giọng nói trong công nghệ “nghe giọng nói” là hệ thống cho phép bạn đọc lệnh hay đọc chính tả cho máy tính. Người ta thường cho rằng đây là phần mềm cho người khiếm thị và người mù. Khó khăn chủ yếu là không nhận ra được thông tin cần chuyển vào máy tính và biết cái gì đang diễn ra trên màn hình, nên nói cho cùng thì giải pháp bàn phím là chọn lựa hiệu quả, đơn giản hơn. 

     

    Nếu phục vụ người có khuyết tật vận động thì phần mềm này rất đáng khuyến cáo sử dụng, Dragon's Naturally Speaking (T and T Consultancy) liên kết với phần mềm đọc JAWS gọi là Jawbone (T and T Consultancy). Tham khảo thông tin thêm trên các tờ tin của RNIB hoặc của Abilitynet.


    Back to Chapter index
    13.10. Địa chỉ các thư viện

    Gateshead Libraries
    Mr Stephen Walters, Gateshead Central Library,
    Gateshead NE8 4LN
    Tel: 0191 477 3478 Fax: 0191 477 7852
    email: s.walters@gateshead.gov.uk

     

    Glasgow City Libraries
    Ms Ann Hamilton, Resource Unit for the Visually Impaired (RUVI),
    Mitchell Library, North Street, Glasgow G3 7DN
    Tel: 0141 287 2920 Fax: 0141 287 2815
    email: ann.s.hamilton@cls.glasgow.gov.uk

     

    Islington Libraries
    Kassa Tsegaye, Social Inclusion Manager,
    Central Library,
    2 Fieldway Crescent, Islington, London N5 1PF
    Tel: 020 7527 6910/1 Fax: 020 7527 6913

     

    Lancashire County Libraries
    Mrs Caron Newman,
    County Library Headquarters,
    143 Corporation Street, Preston PR1 2UQ
    Tel: 01772 404007(Mon, Thurs, Fri & Sat) 01772 336587 (Tues & Wed) Fax: 01772 264880

     

    Manchester City Libraries
    Mr John Warburton, VI Supervisor, Central Library,
    St Peter's Square, Manchester M2 5PD
    Tel: 0161 234 1904 Fax: 0161 234 1963

     

    Papworth Library, Cambridgeshire County Libraries
    Ms Sarah Derrick
    Pendrill Court, Papworth Everard, Cambridge, CB3 8UY
    Tel: 01480 830940 Fax: 01480 830940

     

    Tameside Libraries
    Ms Karen Eato, Centre for the Visually Impaired,
    Dukinfield Library, Concord Way, Dukinfield SK16 4DB Tel: 0161 330 3257
    email: dukinfield.library@tameside.gov.uk

     

    University of Sunderland
    Prof. Andrew McDonald, Director of Information Services,
    University of Sunderland, The Murray Library, Chester Road, Sunderland SR1 3SD
    Tel: 0191 515 2230
    email: andrew.mcdonald@sunderland.ac.uk

     

    University of Wales, Bangor
    Dr Debbie Sapsed, Information services, The Learning Support Department, University of Wales, Bangor, Gwynedd LL57 1LD
    Tel: 01248 383870
    email: d.sapsed@bangor.ac.uk

     

    University of the West of England
    Ali Taylor, The Library, Frenchay Campus,
    Coldharbour Lane,
    Bristol BS16 1QY

    Tel: 0117 344 2404 Fax: 0117 344 2407
    email: ali.taylor@uwe.ac.uk


    Back to Chapter index
    13.11. Nhà cung ứng

    Abilitynet, PO Box 94, Warwick CV34 5WS
    Tel: 0800 269545 Fax: 01926 407425
    email:enquiries@abilitynet.co.uk website: http://www.abilitynet.co.uk/

     

    Action Computer Supplies, Freepost, Wembley,
    Middlesex HA0 1BR Tel: 0800 333333 Fax: 0900 102030
    email: prehelp@action.com website: http://www.action.com/

     

    Blazie Engineering Ltd., Windermere House, Kendal Avenue,
    London, W3 0XA

    Tel: 020 8752 8650 Fax: 020 8752 8658
    email: info@blazie.co.uk website: http://www.blazie.co.uk/

     

    Choice Technology and Training, 7 The Rookery,
    Orton Wistow, Peterborough PE2 6YT
    Tel: 01733 234441 Fax: 01733 370391
    email: mail@screenreader.co.uk website: http://www.screenreader.co.uk/

     

    Computer Room Services, 77 Exeter Close, Stevenage,
    Herts SG1 4PW Tel: 01438 742286 Fax: 01438 759589
    email: Steve@comproom.co.uk website: http://www.comproom.co.uk/

     

    Concept Systems, 143 Derby Road, Stapleford,
    Nottingham NG9 7AS Tel: 0115 939 1391 Fax: 0115 949 0390
    email: info@conceptsystems.net
    website: http://www.conceptsystems.net/

     

    Dolphin Computer Access, Technology House,
    Blackpole Estate West, Worcester WR3 8TU
    Tel: 0845 130 5353 Fax: 01905 754559
    email: info@dolphinuk.co.uk website: http://www.dolphinuk.co.uk/

     

    Force Ten Co. Ltd., 183 Boundary Road, Woking,
    Surrey GU21 5BU
    Tel: 01483 762711 Fax: 01483 756303
    email: enquiries@forcetenco.co.uk website: http://www.forcetenco.co.uk/

     

    Horizon, PO Box 44, Tiverton, Devon EX16 6YF
    Tel: 01884 254172 Fax: 01884 243114
    email: horizon@magnifiers.co.uk website: http://www.magnifiers.co.uk/

     

    Iota Software Ltd., Burleigh Suite, 52 Burleigh Street,
    Cambridge CB1 1DJ
    Tel: 01223 566 789 Fax: 01223 566 788
    email: info@iota.co.uk website: http://www.iota.co.uk/

     

    KidGlove, Berkeley House, Barnet Road, London Colney, Hertfordshire AL2 1DB Tel: 01727 820720 Fax: 01727 821634
    email: info@kidglove.co.uk website: http://www.kidglove.co.uk/

     

    Modern World Data, Arran House, Fro Heulog Terrace,
    Arran Road, Dolgellau, Gwynedd LL40 1HN
    Tel: 01341 422044 Fax: 01341 250051
    email: mike@wdavies.force9.net
    website: http://www.modern-world-data.com/

     

    National Centre for Tactile Diagrams, University of Hertfordshire, College Lane, Hatfield, Herts AL10 9AB
    Tel: 01707 286348 Fax: 01707 285059
    email: info@nctd.org.uk website: http://www.nctd.org.uk/

     

    Optima Low Vision Services, Dartside, Ford Road, Totnes, Devon TQ9 5LQ Tel: 01803 864218 Fax: 01803 840107
    email: optima_low_vision_services@msn.com
    website: http://www.optimalowvision.co.uk/

     

    Papenmeier UK, Aldocks, Fox Road, Mashbury,
    Chelmsford CM1 4TJ Tel: 0870 606 1219 Fax: 01245 231157
    email: Braillex@globalnet.co.uk
    website: http://www.papenmeier.de/reha/rehae.htm

     

    Partially Sighted Society, PO Box 322, Doncaster DN1 2XA
    Tel: 01302 323132 Fax: 01302 368998

     

    Pia Ltd., Victoria Street, Cwmbran, Torfaen NP44 3YT
    Tel: 0870 321 6450 Fax: 0870 321 6451
    email: info@pia.co.uk website: http://www.pia.co.uk/

     

    Professional Vision Services, Wellbury House,
    90 Walsworth Road, Hitchin, Herts SG4 9SX
    Tel: 01462 420751 Fax: 01462 420185
    email: sales@professional-vision-services.co.uk
    website: http://www.professional-vision-services.co.uk/

     

    PulseData UK, 3 Blotts Barn Business Centre, Brooks Road, Raunds, Wellingborough, Northamptonshire NN9 6NS
    Tel: 01933 626000 Fax: 01933 626204
    email: pdiuk@cs.com website: http://www.pulsedata.co.nz/

     

    Queen Alexandra College, 49 Court Oak Road, Harborne,
    Birmingham B17 9TG Tel: 0121 428 5050 Fax: 0121 428 5048
    email: enquiries@qac.ac.uk website: http://www.qac.ac.uk/

     

    RNIB, Customer Services, PO Box 173, Peterborough PE2 6WS
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    email: cservices@rnib.org.uk website: http://www.rnib.org.uk/

     

    RNIB Technology in Learning and Employment (TiLE)
    c/o Exhall Grange School, Wheelwright Lane, Ash Green,
    Coventry CV5 9HP
    Tel: 0870 013 9555
    email: technology@rnib.org.uk
    website: www.rnib.org.uk/technology

    Sight & Sound, Quantel House, Anglia Way, Moulton Park,
    Northampton NN3 6JA
    Tel: 01604 798070 Fax: 01604 798090
    email: sales@sightandsound.co.uk
    website: http://www.sightandsound.co.uk/

     

    Soundlinks Ltd., 43 Broadlands Avenue,
    Chesham, Bucks HP5 1AL
    Tel: 0845 666 2849 Fax: 01494 583146
    email: info@soundlinks.com website: http://www.soundlinks.com/

     

    Techno-Vision Systems, 76 Bunting Road,
    Northampton NN2 6EE
    Tel: 01604 792777 Fax: 01604 792726
    email: info@techno-vision.co.uk website: http://www.techno-vision.co.uk/

     

    Telesensory, 1 Watling Gate, 297-303 Edgware Road,
    London NW9 6NB
    Tel: 020 8205 3002 Fax: 020 8205 1192
    email: uk@telesensory.com website: http://www.telesensory.com/

     

    T&T Consultancy, Unit 9, Imex Business Park, Ormonde Street, Fenton, Stoke-on-Trent ST4 3NP
    Tel: 01782 596000 Fax: 01782 593481
    email: info@tandt-consultancy.co.uk
    website: http://www.tandt-consultancy.co.uk/

     

    VICTAR (Visual Impairment Centre for Teaching and Research), School of Education, University of Birmingham,
    Edgbaston, Birmingham B15 2TT
    Tel: 0121 414 6733 Fax: 0121 414 4865
    email: victar-enquiries@bham.ac.uk website: http://www.bham.ac.uk/

     

    Vis-Ability (FE), 66 Beckwith Crescent, Harrogate HG2 0BH
    Tel: 01423 562613 email: visability@portset.net

     

    Visionaid Technologies, Bridge Lodge, Spalding Common, Lincolnshire PE11 3AU Tel: 01775 711977 Fax: 01775 769043
    email: info@visionaid.co.uk website: http://www.visionaid.co.uk/

     

    Visualeyes, 3 Long Hey Top, Blackshaw Head,
    Hebden Bridge, West Yorkshire HX7 7JT
    Tel: 01422 846051 Fax: 01422 847088
    email: sales@visualeyesonline.co.uk
    website: http://www.visualeyesonline.co.uk/

     

    Zychem Ltd., Deanway Business Park, Wilmslow Road, Handforth, Wilmslow, Cheshire SK9 3HW
    Tel: 01625 528811 Fax: 01625 528833
    email: info@zychem-ltd.co.uk website: http://www.zychem-ltd.co.uk/


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999). The integrated accessible library: a model of service development for the 21st century. Final report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation report 168. CERLIM, Manchester Metropolitan University.

     

    Cain, S. ed. (2001). Accessing technology: using technology to support the learning and employment opportunities for visually impaired users. London: RNIB.

     

    HumanITy. (2000). Enhancing access to library based ICT
    services for visually impaired people 3. Library and Information Commission. Research Report 64. STV/LIC Programme Report 3.

     

    Machell, Jean. (1996). Library and Information services for visually impaired people: national guidelines. Library Association.

     

    Morley, Sarah. (1997). Windows 95 explained: a guide for blind and visually impaired users. London: RNIB. Available in print, tape, Braille and disk.

     

    Morley, Sarah. (2001). Windows 98 explained: an overview for blind and visually impaired users. London: RNIB.

     

    Ravenscroft, J. and Carey, K. (2000). Windows '95 modification manual for visually impaired computer users. London: RNIB.

     

    RNIB. ‘See for Yourself’ leaflets. Four leaflets to date.
    a) Sight problems.
    b) Magnifiers: how to get the best magnifier for you.
    c) Lighting: how to use better lighting to make things easier to you.
    d) At home: how to make changes at home to see things more easily.
    Available from RNIB Customer Services.

     

    RNIB. (2001). See it right pack. London: RNIB.

     

    Waddell, L. ed. (1998). Access technology: a guide to educational technology resources for visually impaired users. London: RNIB.

     

    Wright, Michael, Hill, Sarah and Cook, Geoffrey. (1999). Office task lighting: a user study of six task lights by five workers with low vision. British Journal of Visual Impairment (BJVI), 1999. Vol. 17-3 pp117-120.


    Back to Chapter index
    14.1. “Thiết kế cho mọi người” là gì?

    “Thiết kế cho mọi người” đơn giản có nghĩa là hệ thống và giao diện công nghệ thông tin được thiết kế theo cách mà tất cả người sử dụng đều có thể truy cập dễ dàng, cho dù sử dụng tại chỗ, hay truy cập từ xa và không bị ngăn cản do bất kỳ khuyết tật nào và có khả năng chọn lựa tùy thích. RNIB mô tả việc thiết kế cho mọi người liên quan đến website “như là một thiết kế chung để ai cũng có thể sử dụng, theo cách thức tra cứu trên Internet”. (RNIB, 2002).

     

    Trong những năm gần đây, vấn đề người khiếm thị sử dụng nguồn lực thông tin và thư viện được quan tâm giải quyết nếu muốn đạt được mục tiêu hòa nhập trong tòan xã hội. Tại trung tâm Nghiên cứu quản lý thông tin và thư viện (CERLIM) có một chương trình nghiên cứu về khả năng truy cập của người khiếm thị và nguồn lực đầu tư cho dự án Truy cập thư viện số không rào cản (Xem địa chỉ website tham khảo) khảo sát sự khác biệt giữa cách thức mà người khiếm thị và người sáng sử dụng để truy cập vào nguồn thông tin điện tử. Dự án kết thúc vào cuối thàng 6 năm 2002. Báo cáo tổng kết đã chuẩn bị và kết quả đánh giá của nó là đề tài rất thú vị, hấp dẫn và đáng quan tâm cho những chuyên gia thiết kế tất cả các loại dịch vụ thư viện điện tử.

     

    Nếu nguyên tắc thiết kế cho mọi người, kể cả website của họ, thì tất cả độc giả sẽ được hưởng lợi ích ngang nhau trong việc sử dụng các dịch vụ. Truy cập thông tin có thể được định nghĩa theo nhiều cách: đầu tiên là sử dụng công nghệ truy cập; kế tiếp là ứng dụng các thực hành chỉnh sửa thiết kế giao diện. Cả hai đều có tầm quan trọng như nhau: cung cấp trang thiết bị hỗ trợ (công nghệ truy cập, trợ giúp và thích nghi, xem Chương 13) có thể giúp cho người khiếm thị truy cập được thông tin trên màn hình, theo cách phù hợp lý tưởng nhất  cho nhu cầu của họ. Tuy nhiên bên cạnh vấn đề này thì thông tin trên màn hình phải được thiết kế theo cách mà công nghệ truy cập có thể diễn giải được.  

     

    Chương này sẽ xem xét việc cung cấp trang web truy cập được và hướng dẫn về cách thức điều chỉnh kỹ thuật thiết kế truy cập được. Địa chỉ website hữu ích có thể tham khảo ở phần cuối chương này.


    Back to Chapter index
    14.2. Kỹ thuật thiết kế trang web không rào cản

    Nhận thức về tầm quan trọng của việc tạo lập trang web truy cập được đang ngày càng được chú ý trong những năm gần đây. Nhiều lời khuyên hướng dẫn đã đăng tải trên sách, báo, các nguồn lực, các khóa tập huấn và dịch vụ trả phí. Hướng dẫn thực hiện cho các trang web của chính phủ, bao gồm cả vấn đề tăng cường khả năng truy cập được.  Các khuyến cáo rút ra từ “20 luật vàng thiết kế trang web” (Brophy và Craven, 1999)  tóm tắt ý chính cho các bài viết xung quanh chủ đề này và tham khảo từ Hiệp hội Mạng toàn cầu (W3C) và Ban chủ trương thực hiện truy cập web (WAI).


    Back to Chapter index
    14.2.1. Các chuẩn quốc tế

    Đặc trưng HTML của W3C: năm 1997, W3C thiết lập WAI  từ ý kiến của một số cơ quan chính phủ và cơ quan thuộc Bộ công nghiệp. Nhiệm vụ chính của WAI là đảm bảo mạng toàn cầu truy cập được cho mọi người. Kết quả là Bộ Hướng dẫn nội dung web có thể truy cập được (World Wide Web Consortium, 1999) giải thích làm thế nào để người khuyết tật  có thể truy cập trang web được. Thực ra, đó là tiêu chí hướng vào nguyên tắc thiết kế để làm cho trang web trở nên truy cập được cho mọi người. Hướng dẫn này bao gồm các khía cạnh của việc thiết kế trang web truy cập được. Để có những khuyến nghị mang tính hệ thống hơn, W3C cũng có phát hành bảng kiểm tra cơ bản đánh giá khả năng truy cập trang web, có thể mua qua thẻ tín dụng hay đặt hàng từ website của W3C.   


    Back to Chapter index
    14.2.2. Nội dung và cấu trúc

    Phân biệt rõ ràng giữa nội dung và hình thức trình bày, để bạn đọc có thể truy cập nội dung tách khỏi những cấu trúc cứng nhắc. W3C đề cập đến điều này như một “sự giao thoa tuyệt vời” và nhấn mạnh nhu cầu đảm bảo các trang có thể đọc bằng nhiều phần cứng khác nhau, dùng cỡ chữ lớn, ví dụ, thiết bị không chuột, khả năng tương thích với nhiều trinh duyệt web, có cả trình duyệt văn bản như Lynx. Việc sử dụng mẫu trang định dạng sẵn (CSS) trình bày cách thực hành tách nội dung ra khỏi cấu trúc.

     

    Việc xây dựng và khai thác rộng rãi XML sẽ ngày càng có cơ hội tăng cường tái cấu trúc nội dung mã hóa diễn giải thích ứng với cấu trúc dữ liệu (DTDs) nhờ thế mà hệ thống đầu ra xác định cách trình bày dựa vào sở thích của người sử dụng.


    Back to Chapter index
    14.2.3. Cách trình bày

    Trình bày các trang đơn giản và đảm bảo sự nhất quán, đặc biệt chú ý đến thứ tự xếp đặt các yếu tố. Người khiếm thị sau đó có thể tự tìm ra cách trình bày của một trang và căn cứ theo cấu trúc đó làm chuẩn để ứng dụng cho các trang tiếp theo sau. Tương tự như vậy, tạo cấu trúc trình đơn đơn giản, rõ ràng và thống nhất. Tuy nhiên, quan trọng là đừng lầm lẫn giữa hiệu quả của yếu tố đơn giản và hậu quả tẻ nhạt- sự phát triển của kỹ thuật cho phép những tính năng công nghệ tiến bộ nhất được lồng ghép vào trang web mà không ngăn cản khả năng truy cập nó.

     

    Để đạt được tính thống nhất, cấu trúc trình bày trang cần được điều khiển tương đối dễ dàng để người sử dụng không phải nhấp trên quá nhiều đường liên kết rồi mới đến được phần nội dung mà họ muốn tìm. Đây được gọi là quy tắc “3 lần nhấp chuột”: có nghĩa là bất kỳ trang web nào không cần vượt quá 3 lần nhấp chuột từ trang chủ đế tiếp cận đến nó. Tuy nhiên, quy tắc này có thể gặp rắc rối khi cố gắng tạo lập trong 1 trang web có nội dung lớn với nhiều mức độ tiếp cận khác nhau. Người ta cũng đã phát hiện được (theo Brazier và Jennings, 1999) là người mù và khiếm thị cảm thấy khó khăn khi theo một trang mà có quá nhiều mối liên kết khiến rất mất thời gian. Trường hợp quy tắc 3 lần nhấp chuột thực hiện không được thì tốt hơn hết là dùng nhiều số trang lớn hơn để chứa ít lần số liên kết hơn và chú trọng nhiều đến việc đảm bảo sự rõ ràng và thống nhất trong cách thức trình bày và liên kết định vị.

     

    Cũng rất có ích nếu tạo đường liên kết quay trở về trang trước đó hay trang chủ trên tất cả mọi trang trên trang web. Người sử dụng khi lạc đường thì cũng có thể đơn giản là chỉ cần quay lại vị trí trước đó và bắt đầu lại. 


    Back to Chapter index
    14.2.4. Sử dụng bản đồ của trang web

    Tạo chỉ mục cho mục lục nội dung trang web bằng văn bản hay họa đồ có liên kết để người sử dụng có thể điều khiển trực tiếp đến các trang hơn là phải mất công tìm kiếm luẩn quẩn vòng quanh trang web. Điều  này giúp tránh được rắc rối của một trang web lớn, như đã trình bày ở 14.2.3


    Back to Chapter index
    14.2.5. Sử dụng văn bản thay thế cho hình ảnh

    Mô tả đầy đủ tất cả hình ảnh, đoạn phim, tệp âm thanh, v.v. (dùng văn bản thay thế theo mã HTML). Nếu người sáng có thể nhìn thấy được vị trí có hình ảnh liên kết vì họ có thể chọn vị trí đó và nhấp chuột để xem tiếp, thì đối với người khiếm thị, họ phải được nghe thông báo bằng văn bản đọc thay thế tương đương. Ở vị trí không phải là văn bản cần phải diễn đạt để mô tả thêm chỉ bằng một hay hai từ sau đó một liên kết ”d” có thể đặt cạnh bên đối tượng, để dẫn đến thông tin mô tả chi tiết hình ảnh đó, hoặc nên sử dụng đuôi mô tả “LONGDESC”, ví dụ để diễn giải một đoạn phim được lồng vào trang web.

     

    Cố gắng tạo văn bản thay thế bằng ngôn ngữ Java hay JavaScript và tránh các ứng dụng của chúng cho các hiệu ứng (như văn bản cuộn) rất khó cho người chỉ còn nhìn được một phần (Cũng xem phần 14.2.14)

     

    Những chỗ mà hình ảnh chỉ có mục đích trang trí hơn là để cung cấp thêm thông tin, dùng đuôi văn bản thay thế trống (ALT=” “) để giúp người khiếm thị bỏ qua hình ảnh đó. Ví dụ, rất hữu ích khi có các đường chia trang tách biệt nhưng người khiếm thị không nhất thiết cần phải nghe phần mô tả các trình bày này giữa các trang  


    Back to Chapter index
    14.2.6. Tạo đường kết nối

    Cho thông tin mô tả mọi đường liên kết (dùng đuôi văn bản thay thế như đã giới thiệu ở 14.2.5) và nếu có thể tách mối liên kết bằng các văn bản không liên kết. Đặt các liên kết từng cái một trên từng dòng một và đánh nhãn rõ ràng. Tránh dùng cụm từ “nhấp chuột ở đây” để chỉ các mối liên hệ khi người sử dụng không biết đây là đâu, nơi nào họ đang đi đến, vì thế nên dùng các cụm từ như “có thông tin trên vị trí X” hoặc “liên kết tới y”. Sử dụng mã HTML để vào nhan đề liên kết thông tin sẽ làm rõ hơn bản chất nội dung thông tin.


    Back to Chapter index
    14.2.7. Màu sắc và nền

    Chỉ sử dụng màu sắc có độ tương phản mạnh cho văn bản và nền. Một số người sử dụng cảm thấy khó phân biệt một số màu nào đó; đỏ và xanh lá cây ví dụ thường xuất hiện bóng màu chung chung như màu xám mà một số người mù màu bị mắc phải. Dùng hai màu có cùng một gam màu sẽ làm thông tin trở nên khó đọc và cũng sẽ thất bại nếu tạo sự tương phản không đủ mạnh khi dùng màu nền và màu chữ giống nhau. Sự phối màu không hiệu quả làm giảm đi sự rõ nét, ví dụ khi phối màu giữa hồng và xanh lá đậm, đỏ và tím; vàng trên trắng hay xám nhạt, màu tím nhạt và hồng. Luôn tránh việc dùng các bóng khác nhau trên cùng một màu, như văn bản màu cam đậm trên nền cam nhạt.

     

    Quy tắc chung là đen hay màu nhạt hay trắng hay màu đậm tạo độ tương phản tốt nhất. Rất quan trọng để có bộ màu có thể được tự chọn để hiển thị trên một thanh cuộn chọn lựa. Vì người sử dụng có “gu” dùng màu sắc khác nhau tùy thuộc vào mức độ và loại khiếm hay nhược thị họ mắc phải. Ví dụ một số dễ đọc văn bản trắng trên nền đen và ngược lại, cách này có thể giúp cho tự cá nhân họ điều chỉnh sự phối hợp để họ có thể đọc thông tin thoải mái và rõ nhất đối với riêng họ là điều rất cần thiết. Giấy bồi nền (ví dụ dùng làm nền trang trí), bóng hay hình ảnh trên nền nên tránh dùng và nếu dùng thì hết sức cẩn trọng vì nó có thể che mất nội dung đối với người khiếm thị


    Back to Chapter index
    14.2.8. Kiểu và cỡ chữ

    Nên dùng kiểu chữ chân phương trừ phi có lý do chính đáng để không làm vậy. RNIB đơn giản chỉ khuyến cáo cách này là tốt nhất để tránh các “kiểu chữ không quen thuộc hay không rõ ràng” (Hướng dẫn cách in sách rõ của RNIB). Cùng quan điểm  trên, NLB cũng nói là “những kiểu chữ kiểu cọ khó đọc và tốt nhất là nên tránh dùng” (Hướng dẫn thiết kế web truy cập được của NLB).

     

    Dùng kiểu chữ kích cỡ vừa phải. Cỡ chữ không nhỏ hơn 14, nhưng yêu cầu dùng cỡ chữ của từng cá nhân cũng rất khó xác định, tốt nhất là cho phép người sử dụng tự điều chỉnh cỡ chữ bằng cách tạo thanh cuộn điều chỉnh kích cỡ chữ cho phù hợp với nhu cầu của họ. Cũng nên cài cỡ chữ mặc định dễ đọc nhất để đảm bảo là việc điều chỉnh mặc dù cho phép theo sự lựa chọn của người dùng nhưng vẫn có thể đọc được khi chưa chỉnh.

     

    Việc dùng chữ gạch dưới nên tránh, vì làm rắc rối cho việc đọc hơn, cũng như khi sử dụng quá nhiều chữ in hoa: in đậm thì tốt hơn là in nghiêng nếu muốn nhấn mạnh điểm nào trong văn bản. Nếu dùng chữ in nghiêng, kiểm tra kiểu cỡ chữ để xem chúng có dễ đọc không nếu ở dạng in nghiêng.


    Back to Chapter index
    14.2.9. Sử dụng bảng biểu

    Cẩn thận khi dùng bảng biểu và đừng làm nó quá chằng chịt chi li. Tránh dùng bảng biểu làm hình thức trình bày nội dung. Chỉ dùng khi nào bảng biểu nói lên số liệu (như danh mục các dịch vụ được cung cấp), chú ý dùng các tiêu đề theo mã HTML để mô tả từng ô.


    Back to Chapter index
    14.2.10. Sử dụng khung

    Nên sử dụng dạng thay thế không khung cho các trang chủ dùng khung. Và được ứng dụng trong suốt cách trình bày trang web liên kết với các phiên bản không khung của các trang. Lý tưởng là tạo liên kết từ trang chủ hay chỉ mục văn bản đến từng khung và đảm bảo từng khung có tiêu đề bằng mã HTML. Tiêu đề khung trình bày ngắn gọn đủ thông tin. Ví dụ, tiêu đề cho một trang có hai khung : “Khung điều khiển” và “Khung mục lục ”


    Back to Chapter index
    14.2.11. Mẫu trực tuyến

    Nên thiết kế mẫu trực tuyến theo cách mà phần mềm đọc màn hình xử lý thông tin được. Tất cả các trường phải có cấu trúc hợp lý và gắn đuôi HTML gắn thích hợp.


    Back to Chapter index
    14.2.12. Màn hình điều chỉnh được

    Tránh việc dùng chương trình làm mới tự động hay màn hình nhấp nháy (một số nhà thiết kế hay gửi đến người sử dụng một trang mới tự động xuất hiện sau một thời gian mặc định). Kiểu mặc định làm mới màn hình sau 5 -10 giây làm cho phầm mềm đọc màn hình phải đọc lại từ đầu!


    Back to Chapter index
    14.2.13. Âm thanh

    Tránh việc chỉ dùng tệp âm thanh cho một nội dung thông tin quan trọng nào đó. Nên kết hợp giữa tệp âm thanh và văn bản theo kiểu mô tả bằng văn bản thay thế (hoặc dùng ”ALT”, liên kết “d” hay “LONGDESC”) như 14.2.5 đã nhắc đến.


    Back to Chapter index
    14.2.14. Các yếu tố tương tác

    Luôn tạo văn bản thay thế cho các yếu tố tương tác. Các yếu tố này bao gồm cho cả các chương trình gắn kết hay Java và không thể luôn được dịch bằng công nghệ hỗ trợ. Văn bản thay thế có thể là đuôi ALT hay mô tả nhiều hơn qua liến kết ”d” hoặc “LONGDESC”


    Back to Chapter index
    14.2.15. Trang văn bản thay thế

    Nếu sử dụng trang web có văn bản thay thế thì cần thiết phải cập nhật cùng lúc với trang phi văn bản. Đôi khi các trang này rất thích hợp và cần phải có, nhưng nó không cho phép bị lạc hậu và bỏ quên. Cũng nên xem đến khả năng sử dụng các sản phẩm khác như BETSIE do RNIB và BBC trực tuyến phối hợp, trang được định dạng lại thành phiên bản chỉ có văn bản lúc phát, nhưng điều này cũng nên sử dụng để đơn giản hóa việc điều chỉnh.

     

    RNIB khuyến nghị việc thúc đẩy xây dựng trang web dựa vào cách thiết kế chung trên toàn cầu. Nó cho là nên tạo ra một trang web và thông qua việc sử dụng phương pháp truyền thông thay thế sẽ làm cho tất cả cùng được truy cập sử dụng. Một cách trong phương pháp này là dùng văn bản thay thế theo HTML để diễn tả đồ họa hay âm thanh (ví dụ dành cho người điếc), cũng được trình bày ở phần trước.


    Back to Chapter index
    14.2.16. Tạo địa chỉ liên hệ

    Cung cấp địa chỉ email liên lạc trên mỗi trang, hoặc ít nhất là có trên trang chủ, để người sử dụng có thể gửi yêu cầu nếu có điều gì đó làm họ không đọc được hay cần giải thích thêm. Hơn nữa, điều đó làm website có thể thu nhận được những ý kiến đóng góp về khả năng truy cập và đừng quên đọc các nhận xét này!


    Back to Chapter index
    14.2.17. Kiểm tra khả năng truy cập của trang web

    Kiểm tra các trang về khả năng truy cập trước khi tung ra, dùng một công cụ như “Bobby” (xem phần 14.3.2) và cũng để người sử dụng tự họ nhìn ra vấn đề mà công cụ đánh giá đã xem qua.


    Back to Chapter index
    14.3. Chương trình đánh giá khả năng truy cập

    Việc chọn lọc và tính đa dạng của các phương tiện đánh giá khả năng truy cập của trang web hiện nay ngày càng phát triển nhiều hơn. Rất nhiều bài báo viết về chủ đề này và có thể nhanh chóng tìm trên Internet với cụm từ “accessible web design” (thiết kế web truy cập được) sẽ cho nhiều thông tin, ý kiến, quan điểm khác nhau. Phải chủ động cung cấp thông tin cho người thiết kế web khả năng giải quyết rắc rối cho việc trang web của họ không truy cập được và đề ra các giải pháp khả thi như đã được bàn qua ở phần 14.2. Để tránh quá nhiều thông tin trong khía cạnh này, có thể chỉ tập trung tham khảo một số nguồn chính, thường là chọn miễn phí, để có thể kiểm tra nhanh chóng và dễ dàng tính truy cập được của trang web mình tạo lập. Các chương trình sẽ vạch ra những điểm cần chỉnh sửa theo  hướng dẫn của W3C, Bobby, Lynx View và sự chọn lựa quản trị web hay dịch vụ kiểm soát HTML


    Back to Chapter index
    14.3.1. Hướng dẫn của Hiệp hội World Wide Web

    W3C phát hành một tập hướng dẫn “Đánh giá khả năng truy cập trang web” (W3C, 2001). Hướng dẫn này giải thích cách bắt đầu đánh giá một website và sau đó đánh giá sâu hơn về khả năng truy cập của nó. Họ cũng đưa ra hướng dẫn về Kỹ thuật dùng HTML để truy cập được nội dung trang web (W3C, 2000) cho những ví dụ mẫu về việc sử dụng các đuôi như (văn bản thay thế ALT) trong văn bản HTML


    Back to Chapter index
    14.3.2. Bobby

    Bộ duyệt kiểm tra trang web có khả năng truy cập của Bobby được Trung tâm Ứng dụng công nghệ (CAST) phát triển. Bobby được sử dụng để đánh giá dựa vào danh mục kiểm tra tính truy cập được và hiện đang được dùng rộng rãi.

     

    Phần mềm này sẽ phân tích từng trang một và cho ra một bản đánh giá bằng văn bản, xác định nơi nào có lỗi truy cập. Có bảng đánh giá xếp thứ tự ưu tiên theo hướng dẫn của WAI. Chỉ tiêu Tán thành của Bobby tương đương với tiêu chuẩn mức độ thích nghi A của Hướng dẫn nội dung Web và một trang web chỉ nhận được biểu tượng chấp thuận của Bobby nếu tất cả trang không có lỗi ưu tiên số 1. Đánh giá ưu tiên 1 chỉ ra vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến khả năng sử dụng web và được ghi biểu tượng là hình ảnh một chiếc nón của cảnh sát trên xe lăn. Biểu tượng chiếc nón cảnh sát kèm với dấu hỏi trên đó để chỉ rằng có thể là lỗi ưu tiên số 1 nếu chỉ kiểm tra thủ công, mà không dùng công cụ Bobby.

     

    Có hai mức độ ưu tiên nữa mà Bobby dùng để chỉ ra vấn đề. Ưu tiên 2 đề nghị chỉnh sửa nếu có thể và ưu tiên 3 cho biết vấn đề đó cần được cân nhắc xem xét lại. Cả hai mức độ thường khuyến nghị nên kiểm tra thủ công lại cho từng vấn đề. Trang web vượt qua được dưới ưu tiên 2 thì tương đương mức độ thích nghi AA của Hướng dẫn nội dung Web và dưới ưu tiên 3 thì tương đương với mức độ thích nghi AAA.

     

    Vấn đề khác mà Bobby xem xét là khả năng duyệt web và thời gian tải tệp tin xuống, cả hai có thể ảnh hưởng đến khả năng truy cập trang web.

     

    Báo cáo của Bobby có thể khó đọc, đặc biệt là đối với người không dùng ngôn ngữ HTML và mặc dù có hướng dẫn về đọc được báo cáo của Bobby thì cũng vẫn khó để lôi ra được lỗi nào trong chuỗi HTML. Một khuyến nghị khác là, ở những bước khởi đầu, tập trung vào các lỗi ưu tiên 1 và đảm bảo là chúng sửa được.

     

    Cũng đừng cho là Bobby có thể đảm bảo được toàn bộ khả năng truy cập cho web. Đôi khi nó chỉ ra những lỗi mà thực ra không đến nỗi nghiêm trọng hoặc bỏ qua những lỗi như văn bản thay thế không tương thích hay lỗi về độ tương phản màu sắc. Như là điểm khởi hành, Bobby là công cụ vô cùng hữu ích, nhưng để có kết quả tốt nhất thì nên sử dụng kiểm tra chéo bằng những công cụ đánh giá khác.


    Back to Chapter index
    14.3.3. Lynx View

    Lynx View sẽ kiểm tra khả năng trình bày những trang chỉ có văn bản, vì nó xuất hiện đối với trình duyệt văn bản như Lynx, chỉ ra cách phần mềm đọc màn hình có thể hiểu được trang đó. Xem xét một trang qua công cụ Lynx View sẽ chỉ ra bất cứ hình ảnh nào cho văn bản ALT chưa được áp dụng và nó cũng sẽ cho biết cấu trúc trình bày trang đã rõ ràng và hợp lý chưa, các mối liên kết có được chia tách rõ không và cấu trúc viết HTML có gọn gàng và rõ không


    Back to Chapter index
    14.3.4. Dịch vụ quản trị và kiểm soát trang web

    Nhiều công cụ quản trị web hiện nay kể cả câu trả lời nhanh về khả năng truy cập trang web. Ví dụ công cụ Microsoft FrontPage cho phép tác giả đưa các tính năng truy cập được vào giao diện chính và cung cấp phần mềm để kiểm tra các trang khác nhau về khả năng truy cập theo thứ tự ưu tiên 1 của W3C. SftQuad International cũng đã cho ra một công cụ AdaptAbility Tollkit là một phản hồi tự động có những đề nghị thêm những tính năng nào đó để làm trang web trở nên dễ truy cập hơn. (Murtha, 1997) và Macromedia hiện cho công cụ “Accessibility Kits” trên phần mềm Flash và DreamWeaver. Các cung ứng phần mềm thiết kế web khác cũng đang bắt đầu đưa tính năng truy cập được vào công cụ tạo web của họ. Ví dụ, các nhà tạo phầm mềm học từ xa như Blakbord hay WebCT cũng đang tích cực chú trọng vào việc tăng cường khả năng truy cập phần mềm của họ thông qua đối thọai với các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực truy cập web.

     

    Một công cụ kỹ thuật hữu ích khác để kiểm tra website là thông qua dịch vụ kiểm sóat HTML. Hầu hết các nhà thiết kế web đã quen thuộc với những dịch vụ kiểm soát này để đánh giá mức độ thống nhất và sử dụng thích hợp mã HTML theo các khuyến nghị như thường thấy trên hướng dẫn của W3C.

     

    Bất kỳ ai còn lạ với mã ngôn ngữ HTML có thể đọc các báo cáo này rất khó khăn , vì nó yêu cầu phải hiểu biết căn bản về quản trị web. Một trong những dịch vụ kiểm soát tốt hơn được cung cấp là W3C Validator(W3C, 2002) cho các tin báo lỗi hơn là để cho người sử dụng tự đọc mật mã. W3C Validator sẽ kiểm tra mã HTML trên các trang dựa vào phiên bản HTML đã sử dụng và sẽ đánh dấu bất kỳ lỗi nào làm trang web bị giảm khả năng truy cập như sót mã văn bản thay thế ALT


    Back to Chapter index
    14.4. Giới thiệu một số mẫu trang web không rào cản

    Phần này giới thiệu một số website để cho thấy một trang web truy cập được thì cách thức và ý tưởng thiết kế cũng rất thú vị. Một số mẫu kể cả website đã được RNIB chấp nhận bởi chương trình đánh giá trang web truy cập được và nhận được bảng đánh giá chấp thuận của Bobby.

     

    Cuộc vận động truy cập số hóa của RNIB đã thúc đẩy sự phát triển các trang web đa phương tiện năng động mà từ đó khách hàng có thể lấy thông tin dễ dàng như nhau mà không bị các khuyết tật cản trở gì cả. Điều này có nghĩa là cung cấp phương pháp truyền tải thay thế cho một số nội dung trang web của bạn, nhưng như đã trình bày ở các phần trên, việc này có thể đạt được nhờ theo các hướng dẫn tư vấn của các chuyên gia. Các địa chỉ của các trang web sau đây sẽ được đưa vào danh mục các địa chỉ tham khảo hữu ích.


    Back to Chapter index
    14.4.1. RNIB

    RNIB là một trang web mở rộng với thông tin toàn diện các vấn đề về người khiếm thị. Trang web này được thiết kế rõ ràng và dễ nhớ để điều khiển, tuy nhiên không có nghĩa địa chỉ này chỉ chứa những văn bản đơn thuần mà nó còn có những hình ảnh cũng như cách trình bày thông tin rất đáng quan tâm.


    Back to Chapter index
    14.4.2. NLB

    Webiste của Thư viện Quốc gia của người mù được trình bày trên nền vàng và màu chữ đen phân biệt rõ ràng. Như RNIB, website này rất lớn, thông tin trình bày tương đối đơn giản với các danh mục giúp liên kết thông tin sâu hơn hay tới các nguồn lực bên ngoài. Ở nơi liên kết đưa người sử dụng truy cập ra ngoài, nhà tạo web NLB đã cho các gợi ý cần thiết như báo động là trang web dùng hình ảnh mà không có văn bản thay thế


    Back to Chapter index
    14.4.3. Tổ chức Đầu tư cuộc sống

    RNIB đã trao tặng biểu tượng “See It Righ” cho mẫu trang web này vì khả năng truy cập cũng như tính sáng tạo của nó.


    Back to Chapter index
    14.4.4. UK Online

    Các nhà thiết kế UK Online đã làm việc cùng với RNIB để tạo ra trang web sử dụng dễ dàng. Hiện nay trang web cung cấp phiên bản đồ họa và phiên bản dễ truy cập, cả hai đều có thể truy cập được.


    Back to Chapter index
    14.4.5. Trang web của các nhà quản lý thư viện công cộng

    Hội đồng Quận Hampshire có một website phức tạp và lớn đã được thiết kế kỹ lưỡng để mọi người có thể truy cập đầy đủ. Trang web dịch vụ Thư viện và Thông tin của North Lincolnshire và Thành phố Leeds là hai địa chỉ đều mang tính truy cập được qua ALT.

     

    Hai địa chỉ này đã được bình chọn là website tốt nhất của giải EARL. Giải thưởng này cũng xem xét theo Tiêu chuẩn Đánh giá (EARL,1999) dưới mục Thiết kế và Khả năng sử dụng. Các website này có thể truy cập được đối với những người đang sử dụng các công nghệ hỗ trợ như chương trình đọc màn hình và những người sử dụng các trình duyệt cũ hay điều khiển chế độ tắt hình ảnh.


    Back to Chapter index
    14.4.6. Trang web của các trường đại học

    Mô hình tốt nhất là trường Đại học Central Lancashire và Đại học Edinburg. Các trang web này thể hiện kỹ thuật thiết kế tốt giúp trang web truy cập đầy đủ, dễ nhìn và dễ điều khiển. Cả hai trang web này được Bobby cấp biểu tượng truy cập được. Một ví dụ khác là trường Đại học West of England, Bristol và cũng được chấp thuận của Bobby và nó cung cấp chỉ mục văn bản cho trang web thư viện ở ngay đầu trang chủ của thư viện.


    Back to Chapter index
    14.5. Nghiên cứu khả năng ứng dụng

    Trong tương lai, người mù và khiếm thị rất có khả năng sử dụng máy trạm phù hợp với nhu cầu cụ thể của họ rồi đến hệ thống mạng. Để đạt được mục tiêu đó, các thư viện cần phải chấp thuận các chuẩn tối thiểu về trang thiết bị mặc dù chúng có thể không dễ dàng và trở nên nặng nề hơn khi được yêu cầu kết nối với dịch vụ mạng quốc gia. Một vấn đề lớn hơn nảy sinh ra là độ tương thích của phần mềm và vấn đề bảo mật an toàn, đôi khi sẽ gây ra những hạn chế đáng kể về việc chỉnh sửa bổ sung tạm thời đợi cho đến khi chuẩn được thiết lập. Một số thư viện có thể sẵn lòng cho phép người sử dụng lưu hồ sơ. Vào năm 2000, Hội đồng Lưu trữ, Thư viện và Bảo tàng đã tài trợ cho các nghiên cứu để khám phá thêm các tính năng để giúp cho người mù và khiếm thị có được những yêu cầu thiết thực để đáp ứng được nhu cầu riêng của họ.

     

    Những khuyến nghị trích từ báo cáo (HumanITy, báo cáo số 3, 2000) được đính kèm ở Phụ lục A3


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Brazier, H. and Jennings, S. (1999). Accessible website design. Library Technology, 4 (1), February.

     

    Brophy, P. and Craven, J. (1999). The integrated accessible library: a model of service development for the 21st century. Final report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired Users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation Report 168. Manchester: CERLIM, Manchester Metropolitan University.

     

    Hướng dẫn thiết kế web . (Phần 4.4. Khả năng truy cập).

    www.e-envoy.gov.uk/publications/guidelines/webguidelines/websites/index.htm
    (accessed January 2002).

     

    HumanITy. (2000). Enhancing access to library based ICT services for visually impaired people 3. Library and Information Commission Research Report 64. STV/LIC Programme Report 3.

     

    Murtha, C. (1997). Web access for the disabled: HOTmetalPRO helps bring access to the Web. Ariadne, Issue 9.

     

    RNIB. (2002). Hints for designing accessible websites. www.rnib.org.uk/digital/hints.htm (accessed January 2002)

     

    World Wide Web Consortium. (1999). Web content accessibility guidelines 1.0. www.w3.org/TR/WCAG10/ (accessed January 2002).

     

    World Wide Web Consortium. (2000). HTML Techniques for Web Content Accessibility 1.0. www.w3.org/TR/WCAG10-HTML-TECHS/ (accessed February 2002).

     

    World Wide Web Consortium. (2001). Evaluating web sites for accessibility. www.w3.org/WAI/eval/ (accessed February 2002)

     

     

    Địa chỉ website hữu ích

     

    CAST: www.cast.org

    NLB website accessibility guidelines:
    www.nlbuk.org/access/nlbguidelines.html

     

    NoVA project details are at:
    http://www.cerlim.ac.uk/projects/nova.htm

     

    RNIB Clearprint guidelines:
    www.rnib.org.uk/wesupply/fctsheet/clearp.htm

     

    RNIB Digital Access Campaign: www.rnib.org.uk/digital/welcome.htm

    WAI: www.w3.org/WAI/

    W3C: www.w3.org

     

    Công cụ đánh giá khả năng truy cập web

    BETSIE: www.bbc.co.uk
    Bobby: www.cast.org/bobby
    Lynx View: www.delorie.com/web/lynxview.html

     

    Dịch vụ kiểm sóat và quản trị web:

    W3C HTML Validator: http://validator.w3.org

     

    Mẫu website truy cập tốt:

    City of Leeds Library Information: www.leeds.gov.uk

    Hampshire County Council: www.hants.gov.uk

    North Lincolnshire Libraries and Information Services: www.northlincs.gov.uk

    Standard Life Investments: www.sli.co.uk

    UK Online: www.ukonline.gov.uk

    University of Central Lancashire: www.uclan.ac.uk/library/libhom1.htm

    University of Edinburgh: www.ed.ac.uk

    University of the West of England, Bristol: www.uwe.ac.uk/library


    Back to Chapter index
    15.1. Truy cập công bằng

    Việc đảm bảo nguyên tắc sử dụng dịch vụ thông tin và thư viện một cách bình đẳng cho mọi người phải được bắt đầu bằng chiến lược quảng cáo và kế hoạch hướng vào người khiếm thị. Mục đích chủ yếu của chiến lược quảng cáo nhằm để vượt qua định kiến cũ rích cho rằng thư viện không phải là nơi dành cho người mù.


    Back to Chapter index
    15.2. Quảng bá là gì ?

    Quảng bá dịch vụ thư viện có nhiều ý nghĩa to lớn hơn nhiều so với mục đích chỉ để thông báo các dịch vụ hiện có. Nó phải là quá trình chủ động:

    a.  thông tin

    b.  vận động

    c.  tham gia

    d.  và theo dõi giám sát

    Công tác quảng cáo nhằm để thúc đẩy sự phát triển và cải tiến dịch vụ và vì thế sẽ tạo được và cải thiện sức thu hút độc giả. Quá trình này cần diễn ra liên tục và là một phần trong toàn bộ chiến lược quảng bá dịch vụ chung của thư viện.


    Back to Chapter index
    15.3. Ý tưởng quảng cáo

    Mỗi người đều có thể là một khách hàng tương lai trong mọi dịch vụ thư viện cho dù họ là người khiếm thị hay sáng mắt. Vì vậy quảng cáo không phải chỉ đơn giản tập trung thông tin về dịch vụ đặc biệt dành riêng cho người khiếm thị.

     

    Mục đích chung của chiến lược quảng cáo dịch vụ có thể hòa nhập chung với những hoạt động chung. Điều này chỉ đạt được nếu tất cả tài liệu quảng cáo đều theo chu kỳ phát hành dưới dạng truy cập được và luôn tính đến nhu cầu của người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    15.4. Mật độ phân bố người khiếm thị

    Thông tin trình bày chi tiết ở Chương 5. Tuy nhiên, có một số điểm chính để nhấn mạnh khi lập kế hoạch chiến lược quảng cáo:

    a.   Số người đăng ký là mù hay khiếm thị chỉ phản ánh một phần ba số người có đủ điều kiện để đăng ký, trong đó có 75% người lớn hơn 70 tuổi;

    b.    Khả năng di chuyển là vấn đề cần thiết đối với người khiếm thị và điều kiện giao thông sẽ thay đổi vì thế điều kiện đi lại luôn luôn phải được đưa vào trong nội dung thông tin quảng cáo;

    c.    Dịch vụ thư viện lưu động, phân phối tài liệu về nhà và gửi qua đường bưu điện là các công cụ quan trọng để quảng cáo dịch vụ;

    d.    Việc liên hệ trực tiếp với cá nhân là điều rất cần thiết nên được duy trì.


    Back to Chapter index
    15.5. Thông báo

    Chương trình cổ động và quảng cáo nên được phát hành rộng rãi:

    a.   trực tiếp đến với người khiếm thị;

    b.   đến các trợ giảng và cán bộ, khách hàng của các tổ chức giáo dục;

    c.   với độc giả của các dịch vụ khác/ những người chưa sử dụng thư viện là bạn bè, bà con, người chăm sóc, người sống chung với người khiếm thị;

    d.   với độc giả của các dịch vụ khác/ những người chưa sử dụng thư viện khác luôn là khách hàng tương lai của các dịch vụ truy cập được sau này khi họ trở thành người khiếm thị do tuổi cao hay vì một hoàn cảnh nào đó;

    e.   với người cung cấp dịch vụ, hay làm việc với người  khiếm thị.

    Có nhiều kênh truyền thông khác nhau có thể giúp công tác quảng cáo thành công.


    Back to Chapter index
    15.5.1. Các tổ chức địa phương

    Tổ chức của người khuyết tật tại địa phương có thể rất có giá trị trong việc thông tin đến người khiếm thị và nhận phản hồi thông tin từ họ. Có các trung tâm dịch vụ nhận chuyển dạng tài liệu in sang dạng băng cassette và chữ Braille. Các tổ chức này có thể phục vụ chung cho người khuyết tật hoặc riêng cho người khiếm thị. Có khoảng 200 tổ chức tình nguyện là bộ phận liên kết với RNIB phục vụ  người khuyết tật.

     

    Các tổ chức văn hoá xã hội khác cũng nên được hướng đến để quảng cáo nhắm như các hội, câu lạc bộ trong cộng đồng, trung tâm nuôi dưỡng trẻ cơ nhỡ hay trung tâm sinh hoạt cộng đồng.


    Back to Chapter index
    15.5.2. Dịch vụ xã hội

    Thư viện công cộng phải thúc đẩy quan hệ công tác với Phòng Dịch vụ xã hội như là một phần trong chiến lược quảng cáo. Phòng Dịch vụ xã hội có nhiệm vụ theo luật định là cấp phiếu đăng ký chứng nhận BD8, nhằm tổ chức duy trì việc đăng ký vào hội người mù và khiếm thị tại địa phương.

    Phòng Dịch vụ Xã hội phải tiếp cận và hỗ trợ người khiếm thị khi họ đến đăng ký gia nhập hội. Khả năng hỗ trợ xét về số lượng và chất lượng sẽ thay đổi rất lớn  

     

    Tên của những người đăng ký xác nhận là người khiếm thị theo mẫu BD8[1] không được tiết lộ theo điều khoản yêu cầu tôn trọng hồ sơ sức khỏe và Đạo luật Bảo vệ thông tin. Tuy nhiên Phòng Dịch vụ Xã hội thường sẵn sàng cung cấp thông tin về dịch vụ cho những người đến đăng ký. Để tiếp cận với nhóm công tác xã hội và đội dịch vụ đặc biệt để sử dụng hồ sơ phiếu đăng ký BD8 thì phải có lệnh giải quyết của Giám đốc. 


    [1] Kể từ tháng 10/2003 mẫu BD8 không còn được áp dụng mà phải đăng ký theo mẫu Certificate of vision impairement (CVI); Referral of vision impaired person (RVI); Letter of vision impaired person (LVI)


    Back to Chapter index
    15.5.3. Dịch vụ y tế

    Người khiếm thị cần dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ cả tổng quát và đặc biệt vì thế nếu chúng ta phải thông tin về dịch vụ thư viện cho các bác sĩ giải phẫu, bác sĩ nhãn khoa, người bán kính. Cơ hội tích cực phối hợp phải được nhận ra rằng có lợi ích vượt qua khỏi sự chăm sóc y tế còn là việc cung cấp thông tin cho bệnh nhân.  Ủy ban người thị lực kém có thể là nơi để thực hiện ý đồ quảng cáo.


    Back to Chapter index
    15.5.4. Uỷ ban Dịch vụ cho người có thị lực yếu

    Báo cáo thống về kê dịch vụ dành cho người kém thị lực (1999) cho thấy vấn đề thị lực đang được xã hội quan tâm đến nhiều. Mục tiêu chung của dịch vụ là giúp đỡ sự phát triển tập trung có hệ thống và đa dạng hơn, bằng cách làm việc với các tổ chức tại địa phương để đáp ứng được nhu cầu của cơ sở.

     

    Hiện có 26 tổ chức như thế tại Anh và xứ Wales và thêm một số khác đang hình thành. Gồm có ban kiểm soát y tế địa phương, những nhà chuyên môn chăm sóc sức khoẻ, công tác xã hội, cá nhân người khiếm thị từ nhiều nhóm khác nhau trong cộng đồng, tổ chức tình nguyện, giáo dục, dịch vụ việc làm, chăm sóc người già, khiếm thính, người gặp khó khăn trong học tập và người đa khuyết tật.

     

    Những tổ chức trên nhiều lĩnh vực như thế sẽ là những kênh truyền thông hữu ích với người khiếm thị trong địa phương. Thông tin chi tiết về dịch vụ thị lực kém, xin liên hệ Văn phòng điều hành thị lực kém cho cộng đồng hiện có tại RNIB Birmingham (sẽ dời đi vào tháng 6 năm 2002) Tel: 0121 643 7189 hoặc qua RNIB Luân đôn Tel: 020 7391 2347


    Back to Chapter index
    15.5.5. Dịch vụ giáo dục

    Thư viện trong các tổ chức giáo dục có thể chú ý đến hồ sơ đăng ký nhập học để lấy thông tin về học sinh và sinh viên khiếm thị. Tất cả học sinh đăng ký trường đại học FE phải đánh giá nhu cầu hỗ trợ học tập, tức là nói về việc cần dùng các nguồn lực và hỗ trợ đặc biệt. Ở trường đại học cũng vậy, sẽ có thủ tục đặt ra để nhận biết nhu cầu cần hỗ trợ của sinh viên và các tổ chức giáo dục thường có các bộ phận hay nhân viên chuyên trách được phân công giúp đỡ sinh viên khuyết tật. Việc phát triển và quảng cáo nguồn lực và dịch vụ thư viện phù hợp với nhu cầu trên sẽ tạo được động lực cho những hoạt động có liên quan như tư vấn cho sinh viên, hỗ trợ sinh viên và dạy kèm cho sinh viên.

     

    Thiết lập quan hệ cộng tác giữa các nhà cung cấp dịch vụ thư viện và thông tin tại địa phương rất có ích. Ví dụ là Diễn đàn Người khiếm thị ở Manchester, phối hợp giữa FE, HE, dịch vụ thư viện công cộng, dịch vụ xã hội, RNIB và dịch vụ việc làm, nhắm vào việc cải thiện khả năng tiếp cận thông tin và các nguồn lực của sinh viên khiếm thị

     

    Trường Đại học Mở thành lập Hiệp hội sinh viên khuyết tật Liên hệ 01908 653273


    Back to Chapter index
    15.5.6. Công tác truyền thông - địa phương và quốc gia

    Thường khó để dùng phương tiện truyền thông toàn quốc loan báo tin tức phát triển dịch vụ thư viện. Hội chợ Kinh nghiệm tiếp xúc và Ngày đọc sách toàn quốc do NLB và RNIB tổ chức đã chiếm được các kênh phát thanh, truyền hình và báo chí cũng như được phủ sóng trên đài BBC, chương trình “Gắn bó” dành riêng cho người khiếm thị. Tham gia trong các cuộc cổ động của khu vực và toàn quốc thường là cách hữu hiệu để nâng cao hình ảnh của dịch vụ thư viện dành cho người khiếm thị nói chung và mặt khác còn kích thích thêm việc xây dựng dịch vụ tại địa phương


    Back to Chapter index
    15.5.7. Đài phát thanh và truyền hình

    Theo khảo sát nhu cầu có TV và radio, 70% người khiếm thị dưới 55 tuổi có máy băng hình và 49% trên 55 tuổi có máy hát băng hình. Khoảng 205 người khiếm thị nghe đài đều đặn hoặc thỉnh thoảng nghe chương trình “Đến với nhau”. Không có số liệu nào cho biết số người khiếm thị thường nghe đài địa phương hay chương trình phát thanh cộng đồng, mà những kênh này có thể sẽ là nhưng kênh thông tin bổ ích cho cộng đồng, đặc biệt là dân tộc thiểu số. Phát thanh và truyền hình rõ ràng là công cụ truyền thông có thể chiếm được số đông khán thính giả trong nhiều cộng đồng khác nhau.


    Back to Chapter index
    15.5.8. Báo nói

    Hội báo nói của Vương quốc ANH (TNAUK) hiện có hơn 17.000 người đăng ký dịch vụ chuyển dạng của quốc gia. Có hơn 500 nhan đề báo nói địa phương và 80% trong số đó là thành viên của TNAUK. Mỗi nhan đề có từ 50 đến 1200 người nghe và TNAUK ước tính có khoảng 200,000 người nhận tin ở dạng báo nói hay các dạng khác nữa.

     

    Báo nói địa phương sẽ vui lòng nhận đăng các bài vận động việc sử dụng dịch vụ hay thông báo về một chương trình hay sự kiện hoạt động, vì thế có thể coi đây là nguồn truyền thông rất hiệu quả. TNAUK có thể cung cấp chi tiết liên hệ với tòa soạn báo nói địa phương Tel 01435866102. Cũng nên hỏi thông tin từ Dịch vụ xã hội và hội nhóm địa phương về các tờ báo nói không thuộc mạng lưới TNAUK.


    Back to Chapter index
    15.5.9. Báo chí của người khuyết tật

    Có nhiều tờ báo và tạp chí dành cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng. Địa chỉ webiste  www.tiresias.org/serials liệt kê nhiều loại báo đề cập đến người khiếm thị, có nhiều tờ là chuyên đề đặc biệt.

    Hai tờ có nhiều vấn đề dành cho người khiếm thị nên liên hệ:

    a.   “New Beacon” đăng ký theo cá nhân và trung bình phát hành 5.000 số.  

    b.   “Update”, tờ tin cho các tổ chức, với khoảng 200 tổ chức địa phương, văn phòng dịch vụ xã hội và vài cá nhân đăng ký.

    c.   Chi tiết xin liên hệ Đường dây trợ giúp RNIB 08457 669999


    Back to Chapter index
    15.5.10. Thông tin điện tử và Internet

    Tính đến cuối năm 2000, có khoảng 17 triệu người sử dụng Internet ở Vương quốc Anh (theo Niên giám Công nghệ máy tính) kể cả sử dụng tại nhà, ở nơi học và làm việc. Việc phát triển sử dụng Internet qua truyền hình số được coi là yếu tố chính quyết định sự tăng trưởng mạnh này. Vì thế, việc xây dựng website truy cập được với các đường liên kết thích hợp và bảng tin thúc đẩy dịch vụ thông tin và thư viện sẽ là những chuẩn mực phải đạt được trong bất kỳ kế hoạch quảng cáo trong tương lai. Chi tiết về website thiết kế truy cập được đọc ở chương 14


    Back to Chapter index
    15.5.11. Tổ chức của chính bạn

    Như bất kỳ chiến lược phân phối dịch vụ nào, quảng cáo hướng vào người sử dụng là cách hiệu quả nhất. Một dịch vụ thực hiện tốt thì sẽ làm khách hàng cảm thấy hài lòng và sẽ giới thiệu cho người khác và bạn sẽ có thể thêm khách hàng trong tương lai.

     

    Hinh thành được nhóm khách hàng người khiếm thị là một phần trong chiến lược quảng cáo và phải lập danh sách khách hàng khiếm thị để tiện thông tin liên lạc.

     

    Nhiều thông tin hướng trực tiếp đến người khiếm thị qua người sáng là bạn bè, đồng nghiệp, các nhà cung cấp dịch vụ khác, phụ huynh và người chăm sóc họ. Vì vậy cần đưa ra những thông điệp rõ ràng, tích cực và mạnh mẽ để hạn chế sự nhiễu tin qua trung gian có thể gây phản cảm hay đánh giá sai về sự hữu ích của dịch vụ. Tốt nhất nếu có thể thì nên truyền tải thông điệp trực tiếp đến với người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    15.5.12. Chủ trương của quốc gia

    Luôn tranh thủ những thuận lợi của các chương trình quốc gia thường được triển khai dễ dàng tại địa phương, ví dụ chương trình “Bee Aware” do CALIBRE NLB, RNIB và TNAUK thực hiện thông qua sự giới thiệu chỉ dẫn của hệ thống thư viện công cộng. Tham gia vào các chương trình này có thể là cách phối hợp hiệu quả giới thiệu các dịch vụ mới và vận động sử dụng các dịch vụ hiện có. Chi tiết biết thêm xin liên hệ “Tin tức của Tổ chức Share The Vision” và thường xuyên lướt xem tin tức trên các webiste của NLB và RNIB.


    Back to Chapter index
    15.5.13. Chương trình cổ động

    Chương trình đặc biệt là những cách hữu hiệu để cổ động và rất có ích cho thư viện và nhân viên. Tháng 5 năm 1999, NLB và RNIB tổ chức Chương trình Hội chợ Đọc để hiểu nhau và Ngày Đọc sách toàn quốc. Một số các báo cáo đánh giá như sau:

     

    “61 thư viện đầu tư tài trợ cho các chương trình và trên 20 tham gia các sự kiện không có tài trợ và tất cả đều báo cáo là họ gặt hái được nhiều thành công. Mỗi thư viện chỉ được nhận giải thưởng gần 100 bảng nhưng họ đã mở ra một mạng liên kết rộng lớn không thể tưởng giữa các tổ chức công tác xã hội, giáo dục và cộng đồng. Lòng nhiệt tình, tính sáng tạo và quyết tâm của họ để lại ấn tượng rất lớn. Đa số thành viên đều báo cáo là dịch vụ của họ đã thu hút thêm được độc giả, tăng thêm nhận thức cho nhân viên và kết quả là triển khai mở rộng dịch vụ được”

     

    Một yếu tố quan trọng để các chương trình này thành công là các thư viện phải làm việc chung với các tổ chức của người khiếm thị trong địa phương. Hợp tác này sẽ có lợi về lâu dài và giúp các thư viện thúc đẩy dịch vụ của họ, có nhiều người sử dụng hơn và xây dựng thêm nhiều mối quan hệ với người khiếm thị tại địa phương. Báo cáo kết luận:

     

    “Vì thế Ngày hội là chất xúc tác rất có ý nghĩa là cải thiện việc sử dụng dịch vụ và vận động những người trước đây cảm thấy các dịch vụ này không liên quan gì đến họ - nghĩ đến việc tiếp cận chúng. Ví dụ những dịch vụ của thư viện, bảo tàng, hay các nhà triển lãm trưng bày nghệ thuật”

    Bản thân các thư viện và các nhà quản lý có thể tổ chức các chương trình của họ hoặc tham gia hội chợ để vận động sử dụng dịch vụ và nguồn lực như Cambridgeshire đã thực hiện vào năm 2000 sau thành công ở Hội chợ năm 1999


    Back to Chapter index
    15.6. Tài liệu chuyển dạng

    Điều này đã được trình bày ở Chương 8. Tuy nhiên, có nhiều điểm chính để nhấn mạnh việc lập kế hoạch cho chiến lược quảng bá 

     

    Có rất nhiều hình thức tài liệu được sử dụng khác nhau do mức độ và kiểu dạng khiếm thị khác nhau. Tuy nhiên, tất cả tài liệu chuyển dạng đều mong tạo thêm điều kiện và khuyến khích người khiếm thị sử dụng. Vì thế rất quan trọng để cung cấp những thông tin ngắn gọn và chính xác nếu có thể.


    Back to Chapter index
    15.6.1. Chữ lớn

    Chữ lớn là hình thức tài liệu sử dụng hữu ích nhất cho phần lớn những người khiếm thị. Theo hướng dẫn của RNIB, ít nhất chữ ở cỡ 14, kiểu chân phương như Arial hay Helvetica


    Back to Chapter index
    15.6.2. Băng cassette

    Hình thức này thì tất cả người khiếm thị có thể truy cập được, trừ những người bị thêm tật khiếm thính. Quan trọng là thông tin cần xúc tích và chế độ âm lượng thích hợp, được chỉ mục và dán nhãn bằng chữ Braille ở cỡ chữ 14.


    Back to Chapter index
    15.6.3. Chữ nổi

    Trong khi vấn đề còn đang bị đưa ra tranh cãi về chất lượng, chữ nổi cũng đã tạo thêm một số cách để tiếp cận văn bản. Số người dùng chữ Braille và đọc bằng cách sờ vào giấy thật ra chỉ chiếm một phần nhỏ trong cộng đồng người khuyết tật. Văn bản Braille lại rất cồng kềnh, khó làm và chi phí sản xuất rất cao vì thế có giá trị giới hạn trong chiến lược quảng cáo.


    Back to Chapter index
    15.6.4.

    Hình thức điện tử là cách hữu ích phục vụ người khiếm thị những người ngày càng có nhiều cơ hội sử dụng máy tính qua các phương tiện hỗ trợ để đọc hay phóng to văn bản.  


    Back to Chapter index
    15.6.4.1. Trang web

    Thông tin trên trang web phải được người khiếm thị truy cập qua các phần mềm đọc văn bản. Làm thế nào để trang web xuất hiện ở hình thức truy cập được, xem chương 14.


    Back to Chapter index
    15.6.4.2. Thư điện tử

    Đây là cách dễ dàng để đưa thông tin đến người khiếm thị qua máy tính cá nhân và dịch vụ truy cập Internet.


    Back to Chapter index
    15.6.4.3. Đĩa mềm

    Không phải người khiếm thị nào sử dụng máy tính cũng truy cập được Internet, nhưng họ có thể dùng chương trình chuyên dụng nhận tài liệu được gửi tới bằng đĩa mềm. Khi gửi văn bản qua email hay đĩa mềm, nên tránh hình ảnh đồ họa và cỡ kiểu chữ nên rõ ràng.


    Back to Chapter index
    15.6.5. Mục lục truy cập được

    Sử dụng nhiều cách truy cập thông tin tìm được những dịch vụ mà họ có thể sử dụng là mục tiêu phát động quảng cáo. Gồm các hình thức:

    a.    Mục lục thư viện truy cập được nhờ phần mềm âm thanh hay phóng đại ở chế độ cho dù là trực tuyến hay ngoại tuyến, dùng máy tính cá nhân hay trên web.

    b.    Cung cấp mục lục và danh mục trên máy tính xách tay và dạng CD-ROM đặc biệt phục vụ trong các dịch vụ phân phối tận nhà hay lưu động;

    c.    Cung cấp danh mục vốn tài liệu loại chữ lớn hay dạng âm thanh dưới hình thức sách chữ lớn và trên băng.

    Chương 13, 14 cho biết chi tiết về Thiết kế và Công nghệ hỗ trợ cho tất cả các nguyên tắc trên.


    Back to Chapter index
    15.7. Nhận ý kiến phản hồi

    Lắng nghe ý kiến đóng góp của người khác, đó là cách quảng cáo có giá trị và cũng như là phương tiện để xây dựng và giám sát dịch vụ. Dịch vụ thư viện nên có một số các diễn đàn phù hợp như:

    a.  Nhóm tiếp cận độc lập

    b.  Diễn đàn người khuyết tật

    c.  Ban liên lạc khách hàng

    d.  Ủy ban dành cho người có thị lực kém

    e.  Thông tin liên lạc với hội người khiếm thị

    f.   Diễn đàn công bằng/ Ủy ban cơ hội bình đẳng

    g.  Diễn đàn khách hàng với tóm tắt thông tin về người sử dụng dịch vụ

     

    Tính khả thi, thời gian và sự hữu ích của các hình thức tổ chức trên sẽ thay đổi. Tuy nhiên dịch vụ thư viện phải đảm bảo người khiếm thị được thực sự tham gia trong các nhóm hay diễn đàn tham khảo ý kiến khách hàng


    Back to Chapter index
    15.7.1. Tham khảo ý kiến của người khiếm thị

    Có nhiều phương pháp có thể dùng để lấy ý kiến đóng góp của người khiếm thị nhận xét về dịch vụ.

     

    Nhắm vào từng nhóm đối tượng là phương tiện đắc lực khuyến khích người khiếm thị nói lên nhu cầu của họ trong việc phát triển dịch vụ cho phù hợp. Tuy nhiên, để giao tiếp hiệu quả thì yêu cầu cần quan tâm đến từng trường hợp của từng nhóm rất đa dạng và nếu không thể quan sát được qua ngôn ngữ hình thể thì có thể làm ảnh hưởng đến mức độ tham gia. Quan trọng là chú ý các cuộc họp có sự tham dự của người khuyết tật và tỏ bày sự quan tâm đến họ. Ví dụ, chỉ cần đơn giản là người cử tọa có thể hỏi mọi người trong cuộc họp có thể dùng giọng nói để nhận ra người khác hay vị trí của họ xung quanh bàn họp. 

     

    Hình thức tham khảo ý kiến nữa là khảo sát tổng quan hay theo một chủ đích cụ thể; khảo sát tại chỗ hay thực hiện trong cộng đồng lớn. Công tác này có thể do các tổ chức tình nguyện hay nhân viên thư viên trực tiếp tham gia. Cần thiết để người khiếm thị tham gia vào việc thiết kế mẫu khảo sát và chú ý kêu gọi sự tham gia của khu vực tư nhân.

     

    Bất cứ ai thực hiện khảo sát cần phải qua tập huấn chi tiết và phải nhận thức ra vấn đề. Tài liệu hướng dẫn có thể tham khảo Qui tắc hướng dẫn của Hội Nghiên cứu Quảng cáo (MRS, 1999) và các cuộc khảo sát của thư viện công cộng, tiêu chuẩn và hướng dẫn được xây dựng bởi Hội đồng thống kê thư viện công cộng và Viện Tài chính công (IPF, 1995)


    Back to Chapter index
    15.7.2. Bảng khảo sát

    Người sử dụng dịch vụ có thể được yêu cầu trả lời các câu hỏi về các dịch vụ mà họ  sử dụng. Các mẫu khảo sát có thể hướng đến thông tin để biết người khiếm thị đã truy cập và hài lòng với cách phân phối dịch vụ tốt chưa. Nhân viên phải được tập huấn để phục vụ hỗ trợ khách hàng khiếm thị điền thông tin vào các bảng mẫu câu hỏi như thế.


    Back to Chapter index
    15.7.3. Khảo sát qua điện thoại

    Khảo sát qua điện thoại là cách lý tưởng để tập hợp thông tin từ người khiếm thị. Quan trọng phải lấy mẫu đại diện và đầy đủ để thu thập các thông tin có giá trị. Nếu tiến hành cuộc khảo sát tổng quát về nhu cầu hay sự thoả mãn của khách sử dụng, thì cần tranh luận làm rõ khảo sát người khiếm thị qua điện thoại vậy thì có được không. Nhu cầu chăm sóc cụ thể nên được thay cho việc khảo sát qua điện thoại. 


    Back to Chapter index
    15.7.4. Khảo sát qua phỏng vấn

    Nếu cần thiết thì kết hợp tất cả những hình thức trên. Tuy nhiên có một số điểm quan trọng cần phải lưu ý thực hiện cho dù sử dụng bất cứ phương pháp nào:

    a) Nhân viên điều tra khảo sát cần phải qua tập huấn về cách tiếp cận đúng mực với người khiếm thị bằng cách tiếp xúc trực tiếp cá nhân hay qua điện thoại;

    b) Trình bày rõ lý do thực hiện khảo sát.

    c) Thiết kế bảng câu hỏi phải cho thông tin rõ và khuyến khích mọi người phê bình để tránh tình trạng người sử dụng chỉ nói lời cám ơn dịch vụ. 


    Back to Chapter index
    15.8. Kết luận

    Chúng ta đều mong mỏi rằng người khiếm thị có các dịch vụ được cải thiện tốt hơn. Vì thế rất cần thiết để dịch vụ quảng cáo được phát hành qua các phương tiện truyền thông. Lập kế hoạch quảng cáo dịch vụ phải được phối hợp chia sẻ và hợp tác giữa nhiều tổ chức, không phải chỉ vì nhu cầu của người khiếm thị,  mà còn để cập nhật kiến thức về cách thức thông tin truyền tải thông tin đến đối tượng có nhu cầu đặc biệt này thế nào. Xác định mục tiêu phù hợp, khả thi và hợp tác với các cá nhân và tổ chức người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Bruce, I., McKennell, A., and Walker, E. (1991). Blind and partially sighted adults in Great Britain: the RNIB survey. London: HMSO.

     

    Bennett, Margaret. (1999). National Touch Reading Day and Touching Experience. Full report. NLB Enterprises Ltd.

     

    Computer Industry Almanac: www.c-j-a.com
    Computer Industry Almanac site with detailed information on projected Internet
     and pc (personal computer) use.

     

    Institute of Public Finance. (1995). Public library user surveys: a standard for the undertaking of surveys in the United Kingdom. Manual of guidance. Committee on Public Library Statistics/Institute of Public Finance Ltd.

     

    Local Government Management Board. (1997). Clear access: visually impaired people's access to local government. A good practice guide and training resource. LGMB.

     

    Low Vision Services Consensus Group. (1999). Low vision services. Recommendations for future service delivery in the UK. London: RNIB.

     

    Market Research Society (MRS). (rev. ed. 1999). Code of conduct. Market Research Society, 15 Northburgh Street, London EC1V OJR. Tel: 020 7490 4911

     

    Royal National Institute for the Blind. www.rnib.org.uk
    RNIB site with a wide range of information including items referred to in this chapter on Low Vision Services and Web Accessibility.

     

    Tiresias: www.tiresias.org/serials
    List of periodicals concerned with visual impairment.


    Back to Chapter index
    16.1. Giới thiệu

    Cẩm nang hướng dẫn công tác hoạt động phục vụ người khiếm thị. Không có công thức chung cho mọi loại hình dịch vụ, nhưng hoạt động phải theo một khuôn khổ để có thể đáp ứng được nhu cầu của địa phương. Tuy nhiên, theo khảo sát đánh giá hiện trạng phát triển dịch vụ của Ủy ban Thông tin Thư viện và Hội đồng Bảo tàng, lưu trữ và thư viện nhằm thiêt lập các mức độ cung ứng và tiêu chí đánh giá. Quan trọng là dịch vụ thư viện cần có tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế làm cơ sở. Những chuẩn và hướng dẫn này sẽ cung cấp khung tiêu chuẩn rõ ràng cho các thư viện dựa vào đó để tiến hành đánh giá và xem xét  đồng thời đưa ra đề cương các tiêu chuẩn của dịch vụ cần phấn đấu .  


    Back to Chapter index
    16.2. Tiêu chuẩn quốc gia

    Tổ chức Share the Vision và Hội Thư viện phát hành tài liệu “Hướng dẫn phục vụ bạn đọc khiếm thị” vào năm 1996. Hướng dẫn tư vấn để phát triển các dịch vụ thông tin thư viện phù hợp với nhu cầu người sử dụng. Chúng đặc biệt có giá trị như bảng danh mục của những việc cần làm để có thể nhìn nhận đánh giá lại các dịch vụ hiện có. Những khuyến nghị sau dựa vào nguyên tắc cơ hội bình đẳng và chỉ ra nhiều yếu tố khác nhau:

     

    a)  Nhân sự
    b)  Dịch vụ
    c)  Phân phối dịch vụ
    d)  Đối tượng khách hàng
    e)  Trụ sở
    f)  Vốn  tài liệu
    g)  Trang thiết bị hỗ trợ đọc
    h)  Truy cập thông tin
    i)  Hoạt động quảng bá
    .

     

    Quan trọng hơn nữa là nhận biết có sự thay đổi đáng kể kể từ năm 1996 trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Bất cứ sự đánh giá nào về dịch vụ địa phương phải luôn tính đến việc xây dựng trang web truy cập được và việc cung cấp công nghệ thông tin viễn thông, đã được thảo luận ở Chương 1314.

    Bảng tóm tắt hướng dẫn phục vụ có ở bảng Phụ lục A2


    Back to Chapter index
    16.3.1. Anh Quốc

    Bộ Văn hóa, Thông tin và Thể thao xuất bản “Tiêu chuẩn cho các thư viện công cộng” vào tháng 2 năm 2001 để giúp các nhà lãnh đạo thư viện công cộng có  tiêu chí đánh giá về số lượng và chất lượng dịch vụ. Tiêu chuẩn có hiệu lực từ tháng 4 năm 2001 và đó là kết quả vận động được sau bảng tổng kết đánh giá thư viện công cộng năm  1964  cho thấy cần “theo dõi và thúc đẩy cải thiện dịch vụ thư viện công cộng ở Anh quốc và xứ Wales và để đảm bảo địa phương phải chịu trách nhiệm về việc điều hành hoạt động của thư viện.”

     

    Các tiêu chuẩn về giờ phục vụ, vị trí, mục lục trực tuyến và truy cập Internet, phục vụ đáp ứng nhu cầu của độc giả, bổ sung vốn tài liệu và điều phối nhân sự. Tiêu chuẩn nhằm để hướng dẫn nhận biết nhu cầu của người khuyết tật, kế hoạch hàng năm của thư viện, báo cáo công tác  phục vụ người khuyết tật  và chương trình hội nhập xã hội:

     

    “Khi xem xét lại các dịch vụ, thì họ sẽ tính đến việc truy cập thích hợp và tiện lợi, giờ phục vụ, truy cập điện tử, khuyến khích sử dụng thư viện, chọn lựa sách và tài liệu, sự thỏa mãn của khách hàng, mọi hoạt động đều tính đến nhu cầu hội nhập xã hội của họ.” (Para 26).

    Xét về chuẩn cụ thể, chỉ có 3 điểm nói đến nhu cầu của người khiếm thị. Chuẩn 9 về yêu cầu dịch vụ đặt trước ấn phẩm, trình bày:

     

    “Bên cạnh đó, để đạt được yêu cầu của DDA 1995, ban lãnh đạo phải cho phép bạn đọc yêu cầu các tài liệu dạng thay thế cho những người khuyết tật.”

    Tiêu chuẩn 16 và 17 chỉ ra các chi tiết số lượng bổ sung hàng năm hay chỉ số chất lượng tài liệu. Tuy nhiên các con số cụ thể thì chưa được xác định và vấn đề này cần tham khảo Phòng Thống kê của Hội đồng thư viện công cộng
    .


    Back to Chapter index
    16.3.2. Xứ Wales

    Năm 2001, Quốc hội xứ Wales đã phê chuẩn và ban hành bộ chuẩn của thư viện công cộng ở Wales, ‘Thư viện công cộng hiện đại, hữu hiệu và toàn diện: tiêu chuẩn hoạt động và tiêu chí giám sát’ (Quốc hội xứ Wales, 2001).

     

    Các lãnh đạo thư viện công cộng được mong mỏi sẽ thực hiện được các chuẩn này tính đến năm 2005; các chuẩn này yêu cầu một số điểm quan trọng đối với người khuyết tật, trong đó có cả những điều khoản dành cho người khiếm thị.

     

    Các điều khoản DDA 1995 có liên quan đến các điểm phục vụ thư viện là yếu tố cần thiết trong tiêu chuẩn, nó yêu cầu thư viện phải sử dụng thuận tiện và thích hợp cho cả dịch vụ tại chỗ hay hay phân phối và lưu động. Nhu cầu của người khuyết tật phải được phản ánh ngay từ cách phân bố không gian hợp lý của thư viện. Ban giám đốc TVCC ở Wales phải nộp kế hoạch triển khai ứng dụng công nghệ hỗ trợ nào để phục vụ việc truy cập mục lục và dịch vụ trực tuyến, trong giai đoạn 3 năm đến tháng 3 năm 2005. Sự sắp xếp chuẩn bị để có thể cho phép các yêu cầu tài liệu chuyển dạng phù hợp với loại hình khuyết tật của người sử dụng; và quản lý tài liệu phải dựa vào các tiêu chí của địa phương. Hội đồng lập chuẩn TVCC đang được yêu cầu xây dựng công cụ thống kê tính ra được nhu cầu của người sử dụng tài liệu đặc biệt. Ngân sách bổ sung tài liệu như sách chữ lớn hay băng sách so với các chuẩn, theo các số lượng quy định ở mức tối đa và tối thiểu. Mức quy định cũng đặt ra cho ngôn ngữ tài liệu.

     

    Lãnh đạo TVCC xứ Wales đã xây dựng xong kế hoạch thư viện trong 3 năm từ tháng 4 năm 2002 đến tháng 3 năm 2005, các số liệu cũng phải theo hướng dẫn để đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra.


    Back to Chapter index
    16.3.3. Xcốt-len

    Tiêu chuẩn TV hiện nay của Xcốt-len là bản ‘Tiêu chuẩn của TVCC ở Xcốt-len 1995’. Những chuẩn này là báo cáo của Ban điều hành được sự ủy nhiệm của Ủy ban Giải trí và Nghệ thuật COSLA (Hiệp ước của các lãnh đạo địa phương Xcốt-len) để đánh giá xem xét lại các tiêu chuẩn ban hành trước đây vào năm 1986. Chúng được biết đến như là ‘Tiêu chuẩn COSLA’.

    Hội đồng Thông tin Thư viện và COSLA đồng ý là chưa có một tiêu chuẩn mới nào cho đến khi chương trình mạng lưới cộng đồng được triển khai.

     

    Các tiêu chuẩn đề cập đến chính sách, dịch vụ cho mượn, thông tin cộng đồng, học tập, dịch vụ cho thanh thiếu niên, người lớn và giáo dục tiếp tục, thư viện và nghệ thuật, dịch vụ cho đối tượng đặc biệt, thúc đẩy dịch vụ thư viện, hợp tác mượn liên thư viện, phát triển nhân sự.

     

    Các công trình mới cần trình bày về kiến trúc tòa nhà làm thế nào để người khuyết tật có thể sử dụng dễ dàng. Tài liệu dạng thay thế và phương tiện kỹ thuật phải được cung cấp để giúp người khiếm thị có thể sử dụng được cũng như kế hoạch chuẩn bị cho độc giả trong tương lai và tất cả nhân viên thư viện phải được huấn luyện để phục vụ được độc giả bị bất kỳ khiếm khuyết nào. Dự án của tổ chức Share the Vision được phổ biến triển khai và cho thấy rõ còn nhiều nhu cầu cần đáp ứng để thúc đẩy người khiếm thị sử dụng. Các mô hình cải tiến việc cung cấp các hướng dẫn hoạt động và tạo lập mục lục dạng thay thế.

     

    Thông tin cộng đồng được đề cập như “Ở đâu cần thông tin thì phải cung cấp chúng ở nhiều dạng khác nhau như âm thanh, hình ảnh, chữ lớn và chữ Braille”. “Truy cập dễ dàng vào thông tin cộng đồng là điều cần thiết đối mới mọi thành viên trong cộng đồng. Đặc biệt chú ý đến việc đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật”.


    Back to Chapter index
    16.3.4. Bắc Ailen

    Vào tháng 7 năm 2001 Bộ Văn hóa, Nghệ thuật và Giải trí thông báo khởi xướng chương trình ”đánh giá dịch vụ TVCC ở Bắc Ailen. Cuộc khảo sát đánh giá “ Thư viện của Tương lai”, để xây dựng hình ảnh dịch vụ TVCC trong tương lai và kế hoạch hành động để đạt những mục tiêu đó. Khảo sát việc triển khai tiêu chuẩn cụ thể cho TVCC ở Bắc Ailen đề cập rõ “đáp ứng nhu cầu của người chịu thiệt thòi”. Rất thú vị là về mặt công bằng xã hội, Bắc Ailen được xem là  thực thi nghiêm khắc hơn tất cả các nơi khác trong Vương quốc Anh và đến tháng 3 năm 2001 Bộ Văn hóa, Nghệ thuật và Giải trí công bố tài trợ khoảng 300,000 bảng để cài đặt công nghệ hỗ trợ cho tất cả 124 TVCC ở Bắc Ailen để đảm bảo cho mọi người ai cũng sử dụng được dịch vụ thư viện.


    Back to Chapter index
    16.4. Hướng dẫn của quốc tế

    Liên hiệp các hội thư viện quốc tế (IFLA) xuất bản hướng dẫn hoạt động cho dịch vụ cho người khiếm thị vào năm 1983, “khuyến khích xây dựng các chuẩn quốc gia cho dịch vụ của người khiếm thị” (IFLA, 1983). Những đề nghị này có cả những chuẩn dự đoán tối thiểu như ”dịch vụ sẽ…” và cả những đề nghị mang tính bắt buộc ”dịch vụ phải…”  Khuyến nghị nhằm vào tất cả các cơ quan theo luật pháp quy định, hướng dẫn quản lý dịch vụ cấp quốc gia, phát triển nguồn lực và dịch vụ cho người sử dụng và thông tin giáo dục cộng đồng.

     

    IFLA thành lập tiểu ban để biên soạn môt bộ tiêu chuẩn quốc gia có bổ sung, sửa đổi  cho các thư viện phục vụ ngươi mù; và một bản thảo hiện đang được Tiểu ban Thư viện cho người mù của IFLA xem xét có trang diễn đàn tại www.smartgroups.com/groups/IFLA_SLB (thành viên được mời tham dự, liên hệ ikrauledat@FORCE.nl hay bất cứ thành viên nào trong danh sách của tiểu ban SLB cũng có thể phát hành một giấy mời).

     

    Bản khuyến nghị là phụ trương của bộ “Hướng dẫn dịch vụ cho dịch vụ thư viện của người mù” được Hội đồng chuyên gia IFLA thông qua vào tháng 8 năm 1998. Trong đó có 8 nguyên tắc cho mọi loại hình thư viện phục vụ được đối tượng mù trong cộng đồng độc giả và hướng dẫn xây dựng và phát triển vốn tài liệu chuyển dạng.


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Convention of Scottish Local Authorities (COSLA). (1995).
    Standards for the public library service in Scotland 1995. Report by a Working Group appointed by the Arts and Recreation Committee of COSLA. Edinburgh: COSLA.

     

    Department for Culture, Media and Sport. (2001). Comprehensive, efficient and modern public libraries - standards and assessment.
    www.culture.gov.uk/heritage/index.html

     

    International Federation of Library Associations. (1998). Guidelines for library services to Braille users. www.ifla.org.

     

    International Federation of Library Associations. Standards Development Committee, Section of Libraries for the Blind. (1983). Approved recommendations on working out national standards of library service for the blind. Published by the Executive Secretariat, National Library Service for the Blind and Physically Handicapped, Library of Congress, U.S.A.

     

    Machell, Jean. (1996). Library and information services for visually impaired people: national guidelines. Share the Vision/The Library Association. London: L.A. Publishing.

     

    National Assembly for Wales. (2001). Comprehensive, efficient and modern public libraries for Wales: standards and monitoring.
    www.wales.gov.uk/subiculture/content/libraries/libstandards-cnts-e.htm


    Back to Chapter index
    17. Giới thiệu

    Để lập kế hoạch và phát triển dịch vụ cho người khiếm thị nên chuẩn bị sẵn kiến thức và kinh nghiệm liên quan. Điều quan trọng của dịch vụ là phải giúp bản thân người khiếm thị tự phục vụ và sử dụng thành thạo chuyên nghiệp. Sự hiện diện hoạt động của họ sẽ có mặt ở khắp các khu vực dịch vụ và những nơi đó đều ở tư thế sẵn sàng hỗ trợ. Tham khảo việc thực thi tiêu chí bình đẳng cần phải tham khảo thêm kinh nghiệm của thư viện khác và cácdịch vụ điển hình đã được giới thiệu trong cẩm nang.  

     

    Chương này tổng kết lại và bổ sung thông tin tham khảo trong cẩm nang và cần kết hợp thêm với nhiều nguồn thông tin khác. Thông tin về người khiếm thị ngày càng nhiều và phong phú và các nguồn tham khảo sử dụng trong đây được tuyển chọn lại. Trong phần chính chỉ chọn thông tin liên quan trực tiếp đến người khiếm thị và tổng quan về người khuyết tật. Trình bày nhiều về vấn đề phát triển ứng dụng Internet trong và ngoài nước.


    Back to Chapter index
    17.1. Hiệp hội và cơ quan cung cấp dịch vụ

    Phần này mô tả các tổ chức dịch vụ , thông tin, tư vấn và hỗ trợ rất có giá trị tham khảo cho cán bộ thư viện. Có nhiều tổ chức khu vực và địa phương, các chi tiết này có thể đọc trên “Danh bạ tổ chức ở Anh quốc”, có thể ở dạng tài liệu in ấn hay trên trang web của RNIB (www.rnib.org.uk) dưới dạng một cơ sở dữ liệu có thể tra cứu. 


    Back to Chapter index
    17.1.1. Viện hoàng gia cho người mù (RNIB)

    RNIB là tổ chức tình nguyện lớn nhất Anh quốc dành cho người mù và khiếm thị đủ loại đủ kiểu. Cung cấp hơn 60 dịch vụ khác nhau ở đủ các lĩnh vực giáo dục, tập huấn, việc làm, và hỗ trợ cho cá nhân và tổ chức.

     

    Công việc của RNIB chủ yếu có bốn lĩnh vực: thiết bị và thông tin truy cập được, dịch vụ cộng đồng (định nghĩa rộng hơn), giáo dục và việc làm. Trong dịch vụ thư viện, RNIB làm việc chặt chẽ với Thư viện quốc gia dành cho người mù để phối hợp và cải thiện dịch vụ tốt hơn. RNIB khởi xướng tổ chức ‘Share the Vision’ và tiếp tục trở thành một thành viên tích cực.

    Sứ mệnh của nó là “Một thế giới nơi mà người mù và khiếm thị hưởng thụ được quyền lợi, trách nhiệm, cơ hội và chất lượng cuộc sống như những người sáng mắt”.

     

    Các nguồn thông tin
    Mục đích chính cho kế hoạch chiến lược từ năm 2005- 2006 là có thể độc lập truy cập thông tin. Các điểm chính trong truy cập là trang web, thư viện tham khảo, dịch vụ khách hàng và đường dây trợ giúp. Nó cũng xuất bản hàng tháng – ‘New Beacon’, và bản tin hàng tháng – ‘Update’ (chủ yếu cho hội địa phương). Một bản tin nâng cao nhận thức thông tin chung quanh ‘News for You’ được xuất bản dành cho người khiếm thị. Đường dây nóng: 08457 669999 (chỉ dùng cuộc gọi Anh quốc”)

     

    Trang web RNIB
    Là một nguồn lực thông tin, RNIB luôn đảm bảo tính bình đẳng thông tin và cung cấp nhiều cách truy cập thông tin thực tế nhất và linh động nhất. Trang web chứa nhiều thông tin cho biết các dịch vụ và sản phẩm của RNIB và thông tin về người khiếm thị trên các trang web khác.

     

    Trang này được thiết kế để có thể truy cập đến tất cả mọi người sử dụng, kể cả những người sử dụng công nghệ truy cập như giọng đọc hay phóng to màn hình. Trang này được thiết kế theo các hướng dẫn của RNIB về cách lập trang web tốt cho phép người xem điều chỉnh các yếu tố trình bày như cỡ chữ, kiểu hay màu sắc. Trang này hiện thu hút khỏang 70,000 người một tháng, rất được ưa thích trong số các trang web của các tổ chức từ thiện của Anh Quốc.

     

    Thư viện tham khảo RNIB
    Thư viện này là một trong những kho tài liệu toàn diện nhất cho các chủ đề của người khiếm thị  tại Anh Quốc. Vốn tài liệu có hơn 6,000 sách, 6,000 tờ rời, 2,300 thông tin chính phủ, 3,600 báo cáo hàng năm và 175 tạp chí hiện hành. Thành viên có thể đến thư viện hay nhận thông tin qua đường bưu điện.

     

    Trong tất cả mối quan tâm có dịch vụ thông tin tư liệu cung cấp sách báo mới xuất bản trong vòng định kỳ hai tháng, các mục lục xuất bản, tờ tin của RNIB và các thông tin thời sự.

     

    Các thành viên hợp tác cũng có thể đăng ký sử dụng kể cả dịch vụ thông tin mới và các dịch vụ hỗ trợ thư viện và sử dụng không hạn chế Thư viện tham khảo. Thự viện này đặt tại 105 đường Judd, London WC1H 9NE, và thành viên đăng ký với phí £25 một người. Tel: 020 7391 2052 email: library@rnib.org.uk

     

    Trung tâm nguồn lực (Luân độn – các trung tâm khác ở EdinburghBelfast)
    Đây có lẽ là một trong những kho tài liệu trưng bày lớn nhất về nguồn lực, phương tiện và sản phẩm của RNIB và các tổ chức khác hỗ trợ cuộc sống độc lập. Việc sắp xếp theo một chủ đề nào đó: bếp ăn, chung quanh nhà, tự làm, đồ điện, làm vườn, chữ Braille và Moon, đồng hồ đeo tay và treo tường, sản phẩm học tập, trò chơi, hoạt động giải trí. Cũng có thiết bị hỗ trợ vận động, phản màu sắc và đèn chiếu. Trong các sản phẩm đó, thư viện thường quan tâm đến các sản phẩm hỗ trợ đọc, viết và các thiết bị giao tiếp khác và hàng loạt  các tờ thông tin rời khác. Trung tâm được đặt cùng trụ sở ở đường Judd, có lực lượng nhân viên hiểu biết chuyên nghiệp và là nguồn hữu ích cho các lời tư vấn và thông tin.

     

    RNIB TiLE (Công nghệ hỗ trợ học tập và làm việc)
    (Xem mục 17.4)

     

    Thư viện chữ Braille RNIB
    Đây là mối quan tâm lớn nhất của sinh viên nhưng nó cũng có rất có ích nhờ vốn tài liệu khoa học. Có trên 12,000 nhan đề. Sử dụng dịch vụ này thông qua Dịch vụ khách hàng ở Peterborough.

     

    Thư viện băng cassette RNIB
    Cũng bắt đầu từ vốn tài liệu cho sinh viên; hiện có khoảng 20,000 tài liệu, chủ yếu là tài liệu nhà trường nhưng cũng có một số tài liệu hướng dẫn cũng như một số sách khoa học phổ thông. Đây là dịch vụ theo yêu cầu với các băng được chép từ bản gốc ra. Có thể là dạng hai hay bốn rãnh tùy ý chọn lựa. Dịch vụ này được thiết kế để có thể đáp ứng nhanh được yêu cầu và chất lượng sản phẩm thích hợp cho mục đích. Sử dụng dịch vụ này thông qua Dịch vụ khách hàng ở Peterborough và không phải trả phí.

     

    Dịch vụ sách nói RNIB
    Dịch vụ này được sử dụng rộng rãi nhất đối với người có vấn đề về thị lực ở Anh quốc. Chủ yếu là nhờ dịch vụ tiêu khiển giải trí và có vốn tài liệu rất phong phú, kể cả sách văn học hay khoa học và sách thiếu nhi. Sách gần như ở dạng toàn văn và do các chuyên gia đọc ở chất lượng cao. Sách ở dạng đặc biệt và yêu cầu máy chuyên dụng, được phát như là một phần trong dịch vụ và rất dễ sử dụng (dịch vụ này là một chọn lựa tốt cho mọi người cảm thấy khó khăn khi sử dụng băng cassette hay đĩa CD). Cần thiết có dịch vụ thư đặt hàng chọn trước cao lắm là 30 nhan đề và được cung cấp nếu chúng có sẵn hoặc thư viện sẽ chọn theo các sự đánh giá nhu cầu sử dụng trước đây. Mục đích này nhằm đảm bảo việc đọc liên tục thường xuyên tuy nhiên rất khó mà đáp ứng được hết mọi yêu cầu đặc biệt.

     

    Thành viên thì thường là những người có vấn đề thị lực theo điều kiện chấp nhận cho gửi bưu điện miễn phí. Đó là dịch vụ đăng ký sử dụng, nhiều thành viên được trả phí do Phòng dịch vụ xã hội chịu; một số thì thư viện địa phương sẽ trả (ví dụ ở Bắc Ailen) hay do tổ chức từ thiện địa phương chịu chi phí này. Ngân sách của các phòng dịch vụ xã hội trong những năm gần đây bị cắt giảm và ở diện xếp hàng chờ. Tuy nhiên giải pháp hiệu quả đầu tư để có thể cung cấp dịch vụ nhiều người sử dụng và đạt chất lượng cao cho người đọc trong đó phải có cả diện phục vụ tại nhà.

     

    Phí đăng ký cá nhân là 32 bảng một người và 25 bảng cho dịch vụ bưu điện hàng năm. Thỏa thuận mức độ sử dụng có thể thương lượng với thư viện tại địa phương đăng ký sử dụng tập thể. Có thể liên lạc qua Dịch vụ sách nói RNIB, PO Box 173,

    Peterborough PE2 6WS. Tel: 0845 762 6843. Fax: 01733 375555.

     

    Biên mục các tài liệu này bằng dạng chữ Braille, băng hay sách nói có trên cơ sở dữ liệu REVEAL. Vốn tài liệu chữ Braille và băng cassette có trên mục lục liện hợp quốc tế NLS tài liệu chữ Braille và băng cassette của Thư viện Quốc hội.

     

    Liên lạc: Dịch vụ Khách hàng, RNIB, PO Box 173,
    Peterborough PE2 6WS
    . Tel: 0845 702 3153 Minicom: 0345 585691
    Fax: 01733 371555 email: help@rnib.org.uk website: www.rnib.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.2. Thư viện Quốc gia dành cho người mù (NLB)

    Sứ mệnh của NLB là đảm bảo cho người khiếm thị sử dụng dịch vụ thư viện cũng như người sáng. Chú trọng nhiều đến tầm quan trọng của việc chọn lựa độc lập của họ.

     

    Là dịch vụ thông tin thư viện dẫn đầu về hoạt động phục vụ người khiếm thị, NLB làm việc với nhiều thư viện lớn để thúc đẩy các thực hành tốt nhất và tăng thêm giá trị cho dịch vụ dành cho người khiếm thị.

     

    NLB phối hợp với một số các thành viên ở Anh quốc (kể cả RNIB, ClearVision, CALIBRE và các dịch vụ thư viện trường đại học và công) và ở nước ngoài.

     

    Dịch vụ thư viện cho mượn tài liệu có vốn tài liệu Châu Âu lớn nhất bằng chữ Braille và Moon và cung cấp dịch vụ miễn phí trên toàn thế giới. Vốn tài liệu bao gồm tài liệu văn học và khoa học, cho người lớn và thiếu nhi và cả cho người đang học chữ Braille, hay cả vốn tài liệu nhạc bằng chữ Braille. Cũng có một vốn nhỏ tài liệu khổ lớn và băng sách nói.

     

    NLB giúp cá nhân chọn lựa theo nhu cầu đọc và độc lập bất cứ nơi đâu họ muốn. Các yêu cầu có thể liên lạc qua điện thoại hay qua trang web www.nlbuk.org.

     

    Trang web NLB truy cập đầy đủ và kể cả truy cập mục lục trực tuyến để chọn lựa và đặt sách, khu vực sách cho thanh thiếu niên, bảng thảo luận và tạp chí ‘Read On’. Thêm vào đó, trang web này có nhiều dịch vụ trực tuyến bao gồm sách điện tử và tài liệu tham khảo cũng như cổng thông tin cho người khiếm thị truy cập vào các trang web khác. Bao gồm các tính năng:

    a) Mục lục trực tuyến và tìm sách

    b) Thảo luận về nghiệp vụ thư viện 

    c) Hoạt động vận động đọc và viết trong khu dân cư

    d) Cổng thông tin cho người khiếm thị

    e) Góc chọn sách văn học cho thanh thiếu niên

    f) Hướng dẫn thiết lập trang web truy cập được  

    g) Sách điện tử

    h) Dịch vụ tham khảo điện tử.

     

    NLB cung cấp cổng thông tin cho dịch vụ thư viện rộng lớn hơn cho người khiếm thị. Bằng cách phát triển mối quan hệ hợp tác với các cơ quan tổ chức trong và ngoài nước, NLB làm việc nhằm cung cấp cho người khiếm thị thêm nhiều sách và thông tin và dịch vụ theo hình thức tài liệu nào họ thích dùng.

     

    NLB cũng cung cấp Dịch vụ tập huấn và tư vấn truy cập cho thư viện, người cung cấp thông tin và các tổ chức khác mong muốn cải thiện việc truy cập dịch vụ của họ. Dịch vụ được cung cấp có thể bao gồm cả kiểm tra tính truy cập, tập huấn nhân viên, hỗ trợ công nghệ truy cập và giúp đỡ phục vụ tài liệu dạng thay thế.

     

    Xuất bản có cả tạp chí 'Read On', danh mục bổ sung 'New Reading' và bản tin  'Focus' supporters' (theo quý), bản tin 'NLB Research Bulletin' (hàng hai năm) và một 'Annual Review'.

    Liên hệ : National Library for the Blind, Far Cromwell Road,
    Stockport SK6 2SG

    Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098 Minicom: 0161 355 2043
    email: enquiries@nlbuk.org website: www.nlbuk.org 


    Back to Chapter index
    17.1.3. Thư viện băng cassette cho người mù và khuyết tật đọc (CALIBRE)

    CALIBRE là thư viện gửi băng sách nói qua đường bưu điện cho các thành viên trên 18,500 độc giả và kệ sách gồm 6,000 nhan đề (gồm khoảng 1000 sách thiếu nhi). Tất cả nhan đề này đều thu đầy đủ.

     

    Dịch vụ của CALIBRE chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu đọc giải trí. Vốn tài liệu có cả sách khoa học phổ thông như về tiểu sử, du lịch và cả sách văn học. Thành viên có thể chọn sách hoặc thích CALIBRE sẽ chọn sách cho họ dựa vào các sự chọn lựa trước đây của họ (đặc biệt là cho người khiếm thị cô đơn). Dịch vụ có nhiều tính năng độc nhất có thể truy cập cao:

    a) sách được ghi âm trong băng cassette 2 rãnh;

    b) thành viên không thể đọc tài liệu chữ in và người mù và khiếm thị (trong đó có cả người khó khăn trong việc học và người mắc chứng khó đọc và cả người bị khuyết tật tạm thời);

    c) dịch vụ được cá nhân sử dụng miễn phí, có giấy xác nhận của bác sĩ để đảm bảo đủ điều kiện chấp thuận sử dụng dịch vụ.

     

    Dịch vụ đăng ký được cung cấp cho các tổ chức và cơ quan phục vụ người khuyết tật nhưng họ chỉ có thể mượn sách cho những khách hàng đủ điều kiện sử dụng dịch vụ của CALIBRE. Mục lục cho cả người lớn và trẻ em có ở dạng chữ lớn hay trên đĩa và toàn bộ mục lục có thể tra cứu trên trang web của CALIBRE. Người lớn thì có thể bị trả tiền dịch vụ nhưng với trẻ em thì được miễn phí. CALIBRE cũng hợp tác với tổ chức Share the Vision và đóng góp các biểu ghi cho tài liệu của họ vào cơ sở dữ liệu của REVEAL của những tài liệu dạng thay thế.

     

    Liên lạc: CALIBRE, Aylesbury, Buckinghamshire HP22 5XQ.
    Tel: 01296 432339 Fax: 01296 392599
    email: enquiries@calibre.org.uk website: www.calibre.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.4. Tổ chức ClearVision

    Thư viện này cho mượn qua bưu điện các sách thiếu nhi ở hình thức đôi có bản chữ Braille trên các trang nhựa trong. Sách dành cho thiếu nhi khiếm thị chia sẻ việc đọc với gia đình hay bạn bè sáng mắt hoặc dành cho người lớn khiếm thị đọc cho trẻ sáng hoặc sử dụng trong giờ kể chuyện của thư viện. Có 3,500 nhan đề ở dạng  Braille cấp 1 hoặc cấp 2 và vốn tài liệu gồm có truyện tranh, sách bìa dày, văn học và thơ, sách thông tin đơn giản. Trong quan hệ hợp tác với Thư viện quốc gia của người mù, ClearVision hiện là nguồn chính để trẻ em đọc tài liệu chữ Braille vì các em chưa đến tuổi tự đọc.

     

    Thư viện có thể trao đổi sách đến 6 lần một năm. Phí đăng ký đến £40 một người. Tờ thông tin rơi có thể tư vấn cho việc sử dụng sách ClearVision trong thư viện và đề nghị cách thức sách có thể được tích hợp vào hệ thống.

     

    Liên hệ: Marian Ripley, ClearVision, Linden Lodge School,
    61 Princes Way, London SW19 6JB.
    Tel: 020 8789 9575 email: info@clearvisionproject.org


    Back to Chapter index
    17.1.5. Tổ chức Share the Vision (STV)

    STV là một hiệp hội quốc gia để giúp đỡ cải thiện chất lượng và kh năng triển khai dịch vụ thông tin thư viện phục vụ người khiếm thị. Là cộng sự của tổ chức quốc gia như CALIBRE, Thư viện quốc gia dành cho người mù (NLB), Viện Hoàng Gia dành cho người mù (RNIB), Hội báo nói Anh quốc, Hội đồng Thông tin Thư viện Xcốtlen, Hội của Các cán bộ thư viện chủ chốt, Viện nghiên cứu chuyên gia thư viện, Hội đồng dịch vụ Thông tin thư viện Bắc Ai len, Hội đồng dịch vụ Thông tin thư viện Wales, Thư viện quốc gia Anh quốc và Hội thư viện trường đại học cao đẳng.

    Thành lập vào năm 1990, STV hướng dẫn một chương trình ứng dụng  rộng gồm các hoạt động thúc đẩy và khởi xướng phối hợp với các thành viên tổ chức. Bao gồm: hội thảo thúc đẩy, triển lãm, điều hành và hội nghị. Nó cũng khởi xướng và đóng góp nhiều chương trình nghiên cứu như ‘Project Libra’ và ‘Testlab’ và ‘Accessible Library Partnership’ và cũng là nơi tiên phong đề xuất tính khả thi của  REVEAL, cơ sở dữ liệu quốc gia các nguồn lực ở dạng truy cập được.

     

    Năm 1999, Ủy ban Thông tin thư viện tiến hành hợp tác với STV để có thể đạt hiệu quả hoạt động từ nguồn quỹ 200,000 bảng do DCMS tài trợ từ 1999/ 2000 “để đảm bảo là người mù và khiếm thị hưởng nhiều lợi ích hơn khi sử dụng các dịch vụ đọc và thư viện”. Điều này đạt được nhờ vào sự cố gắng không ngừng của Ban hợp tác làm việc LIC/ STV để có đủ nguồn lực hình thành tổ chức mới vào năm 2000.

     

    Các xuất bản phẩm như Danh bạ các dịch vụ chuyển dạng (hết xuất bản), Dịch vụ thư viện dành cho người khiếm thị: hướng dẫn toàn quốc, Bản tin STV – bản tin định kỳ và nói về vấn đề nhận thức về dịch vụ (ngừng phát hành kể từ số 39, Đông 2001)

     

    Liên hệ: Share the Vision, c/o National Library for the Blind,
    Far Cromwell Road, Bredbury, Stockport SK6 2SG.
    Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
    email: sharethevision@nlbuk.org.


    Back to Chapter index
    17.1.6. Hội báo nói Anh quốc (TNAUK)

    TNAUK là tổ chức thành viên của hơn 500 tờ báo địa phương. Nó cũng là nhà cung cấp chính các tờ báo địa phương và tạp chí phổ thông quốc gia cho người khiếm thị và những người cảm thấy “phải căng mắt ra mà đọc”. Những tờ này có thể đăng ký gửi bưu điện miễn phí cả bản rút gọn trên băng 2 rãnh và đĩa máy tính thu toàn bộ dạng ASCII, hay thư điện tử hay CD Rom. Chúng cũng có thể tải về từ bản tin của TNAUK. Phiên bản CD Rom cũng có thể chọn từ tiểu thuyết không còn in lại tải về từ Internet  – trang web của Dự án Gutenberg – www.promo.net/pg/list.html

     

    Bên cạnh dịch vụ cung cấp trực tiếp đến người sử dụng, cả hai phiên bản sản phẩm âm thanh và tệp tin điện tử cũng được chuyển cho các thư viện bằng cách đăng ký với Dịch vụ Thư viện sách nói được điều hành bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn báo nói. TNAUK cũng quan tâm đến việc thực hiện phạm vi nhỏ của các thư viện để khám phá và mở rộng việc phát triển dịch vụ của nó.

    Là một tổ chức thành viên, TNAUK cũng là nơi tập trung tư vấn cho các tổ chức tình nguyện địa phương tự lập để sản xuất thông tin địa phương trên băng. Nó cũng hỗ trợ và hợp tác qua tư vấn, tập huấn, hội nghị và hội họp. Nó cũng tiến hành dự án Sightline cung cấp trang thiết bị và tập huấn để làm cho báo nói địa phương cung cấp truy cập trực tuyến đến các dịch vụ văn bản điện tử.

     

    Xuất bản phẩm:
    - Báo nói toàn quốc (hàng quý)
    - Tntalk (địa chỉ thảo luận dành cho thư viện)
    - Thực hành tốt dành cho báo nói
     
    - Hướng dẫn dịch vụ sản xuất băng cho người tàn tật và khiếm thị (hàng năm)

     

    Liên lạc: Talking Newspaper Association UK, National Recording Centre, Heathfield TN21 8DB. Tel: 01435 866102 Fax: 01435 865422
    email:
    info@tnauk.org.uk website: www.tnauk.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.7. Hành động vì người mù (AFBP)

    Hành động vì người mù (tiền thân là Hội người mù Luân Đôn) là tổ chức từ thiện quốc gia đã có từ lâu làm việc với người mù và khiếm thị và vì họ đã hơn 145 năm. Tổ chức cung cấp nhiều dịch vụ và hỗ trợ đặc biệt là tạo việc làm cho người mù và khiếm thị. Những điều mà các thư viện nên quan tâm đến:

     

    Dịch vụ tư vấn thông tin của AFBP

    Cung cấp thông tin về đủ các vấn đề liên quan đến khiếm thị, kể cả tư vấn về quyền lợi phúc lợi xã hội. Thông tin có ở dạng chữ lớn, Braille, chữ in chuẩn hoặc trên băng theo như yêu cầu. AFBP hiện đang làm việc với NLB để phát triển dịch vụ hỗ trợ một trạm– ‘Infolink’.

     

    Dịch vụ tư vấn và thông tin lưu động

    Điều hành qua một xe chuyên dụng cung cấp các nguồn lực di động và trung tâm tư vấn sắp xếp ghé thăm các thư viện, bệnh viện, trung tâm chăm sóc và bảo trợ và các địa điểm dừng chân trên xa lộ khắp nước Anh. Dịch vụ cung cấp thông tin về dịch vụ cho người mù và khiếm thị và các thông tin hỗ trợ, tư vấn và tập huấn. Có cả phần mô tả công nghệ truy cập thông tin. Dịch vụ lưu động được nhắm vào để hỗ trợ các sự kiện có liên quan như hội nghị và triển lãm.

    Liên lạc: The Information and Advice Centre, Action for Blind People,
    14-16 Verney Road, London SE16 3DZ.
    Tel: 020 7732 8771 Fax: 020 7639 0948


    Back to Chapter index
    17.1.8. Hiệp hội dịch vụ thông tin chuyển dạng (COTIS)

    Một tổ chức gồm nhiều nhóm đại diện những người khuyết tật và người sản xuất tài liệu chuyển dạng trong các khu vực thương mại, độc lập và có pháp nhân. Nó hỗ trợ và tư vấn cho việc sản xuất các thông tin chuyển dạng, xuất bản các hướng dẫn và bản tin ‘On track’ và tập huấn.

     

    Cũng có chương trình để giám sát và thúc đẩy chất lượng chuyển dạng và khuyến khích thực hành tốt trong đó có lập ra một bảng kiểm tra để giúp đỡ các nhà chuyển dạng căn cứ vào đó để đánh giá chất lượng sản phẩm của họ. Bảng đánh giá và bản tin cũng có trên trang web của họ. 

     

    Liên hệ: COTIS, 67 High Street, Tarporley, Cheshire CW6 0DP
    Tel: 01829 733351 Fax: 01829 732408 website: www.cotis.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.9. Tiểu ban Thư viện cho người mù của IFLA

    Thành lập để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển dịch vụ trên toàn cầu. Các lĩnh vực đặc biệt quan tâm là: biên mục và siêu dữ liệu, chia sẻ nguồn lực và xây dựng vốn tài liệu, ứng dụng và sử dụng Internet, phát triển sách nói kỹ thuật số, sản xuất chữ Braille điện tử, công nghệ thông tin và hệ thống thư viện, quản lý quyền lợi và bản quyền, quản lý và lập kế hoạch, quảng cáo và vận động ủng hộ. Các thành viên bao gồm các nhà cung ứng cấp quốc gia ở các nước phát triển. Bản tin một năm ra hai lần. Có các cuộc thảo luận tại một số tiểu ban của hội nghị IFLA hàng năm. Quy trình có tại: www.ifla.org/search/search.htm

     

    Liên hệ: Ms Rosemary Kavanagh, Canadian National Institute for the Blind, 1929 Bayview Avenue, TORONTO, Ontario M4G 3E8 Canada
    Tel: (00) 1 416 480 7521 Fax: (00) 1 416 480 7700
    email:
    kavanar@lib.cnib.ca


    Back to Chapter index
    17.1.10. Viện Chuyên gia thông tin thư viện (CILIP)

    Thành lập vào tháng 4 năm 2002 với sự họp mặt của Hội thư viện và Viện chuyên gia thông tin. Với quan tâm về việc phát triển dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị. Ở Hội thư viện, cơ hội bình đẳng và các vấn đề liên quan có liên quan thông qua Tiểu ban cơ hội bình đẳng của Ủy ban dịch vụ giáo dục. Tư vấn chính sách, tổ chức hội thảo và sản xuất một số các ấn bản như “Mọi người có thể sử dụng thư viện của bạn chưa? Dịch vụ thư viện cho người mù và khiếm thị”.

     

    Trong tổ chức mới, cơ hội bình đẳng được quy về trách nhiệm của Ban điều hành chính, nhưng bất cứ sự hỗ trợ hay tổ chức tư vấn hiện chưa được xác định làm rõ ràng.

     

    Liên hệ: Lindsay Rees-Jones
    Chartered Institute of Library and Information Professionals,
    7 Ridgmount Street, London WC1E 7AE.
    Tel: 020 7255 0635 email: lindsay.rees-jones@cilip.org.uk
    website: www.cilip.org.uk

     

    Mạng lưới chăm sóc cộng đồng

    Là nhánh nhỏ của Nhóm Thư viện Sức khỏe, nhưng sẽ trở thành cơ quan độc lập, như là mạng thông tin truy cập, nó sẽ tiếp tục liên lạc với (xem 17.1.17).

     

    Nhóm dịch vụ cộng đồng

    Nhánh nhỏ của CILIP thúc đẩy bình đẳng xã hội khi ứng dụng vào dịch vụ thông tin thư viện. Dịch vụ cho người khiếm thị được đưa vào chương trình hội họp chuyên môn hay xuất bản ấn phẩm. Liên lạc: Annie Mauger, York Library, Museum Street, York YO1 2DS.
    Tel: 01904 655631 email: annie.mauger@york.gov.uk


    Back to Chapter index
    17.1.11. Sách nói

    Tổ chức từ thiện quốc gia chuyên gửi sách nói đến người sử dụng trên toàn Anh quốc đối với người không thể cầm sách được, hay không lật trang hay đọc được. Kể cả những người bị chứng khó đọc, ME, ung thư, đau tim, bị đột quỵ, xơ cứng mạch, viêm khớp và chứng không kiểm soát được vận động. Có khoảng hơn 3,000 nhan đề về tiểu thuyết, du lịch, khoa học, chính trị và thơ v.v..

    Dịch vụ nhắm vào việc bổ sung Dịch vụ sách nói của RNIB phục vụ cho người bị khuyết tật đọc hơn là người khiếm thị. Việc thu băng trên cùng hình thức băng 6 rãnh và dùng cùng loại máy hát được cho người sử dụng mượn. Mục lục có thể tải về từ trang web. Phí đăng ký hàng năm là £50.

     

    Liên hệ: Listening Books, 12 Lant Street, London SE1 1QH
    Tel: 0207 407 9417 Fax: 0207 403 1377
    email: info@listening-books.org.uk website: www.listening-books.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.12. Tổ chức tăng cường khả năng thông tin

    Do Văn phòng trung tâm Thông tin thành lập để thúc đẩy việc truy cập thông tin đến với càng nhiều người sử dụng nếu có. Bộ phận này chỉ ra nhu cầu của người gặp khó khăn trong việc học, điếc hay khó nghe, những người cao tuổi bị mù hay khiếm thị.

     

    Liên lạc: Informability Unit, Central Office of Information, Hercules Road, London SE1 7DU
    Tel: 020 7261 8336 website: www.coi.gov.uk/whatwedo/informability.html


    Back to Chapter index
    17.1.13. Hội quốc gia của các tổ chức người khiếm thị địa phương (NALSVI)

    Hội từ thiện địa phương đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng và thường là nguồn lực cộng đồng quan trọng nhất của người khiếm thị. Nhiều hội lớn có nhiều dịch vụ như chức năng hồi phục, câu lạc bộ, chương trình liên lạc tại nhà, dịch vụ báo và sách nói, bộ sưu tập chữ lớn, phương tiện hỗ trợ nhược thị và trung tâm công nghệ thông tin hỗ trợ. Họ thường được Dịch vụ xã hội hỗ trợ, một số gửi kèm cả người công tác xã hội giúp đỡ. Nhiều thư viện có quan hệ chặt chẽ với hội địa phương, ví dụ Tameside và có nội dung xem xét để tiến hành thỏa thuận hợp tác. Giá trị cụ thể là liên lạc với người khiếm thị. NALSVI là cơ quan thành viên quốc gia của các tổ chức từ thiện địa phương. Họ tổ chức các hội nghị hàng năm và xuất bản bản tin chữ lớn ‘NALSVI Link’.

     

    Liên hệ: National Association of Local Societies for the Visually Impaired, 593 Hitchin Road, Luton, Beds LU2 7UN Tel: 01525 378327


    Back to Chapter index
    17.1.14. Phòng Dịch vụ xã hội địa phương (SSD)

    Là cơ quan chính lo phúc lợi xã hội, người khiếm thị được xác định cụ thể trong việc đánh giá nhu cầu và cung cấp dch vụ trực tiếp hay thông qua các hợp đồng. Nhiều phòng thuê nhân sự có kỹ năng và tập huấn đặc biệt. Họ là những nhân viên phục hồi chức năng để giúp người ta đối phó với những thách thức của bệnh mù lòa, nhân viên chuyên về các cơ quan vận động huấn luyện chịu trách nhiệm tập huấn về vận động và đi lại và nhân viên xã hội chịu trách nhiệm đánh giá và cung cấp thông tin về lợi ích và dịch vụ cho đối tượng biết.

     

    Các thư viện cần chú ý:

    Những người đăng ký là người mù và khiếm thị được Phòng Dịch vụ xã hội lưu vào hồ sơ để đánh giá nhu cầu và tình trạng thich hợp để xếp vào diện ưu tiên. Mặc dù không đủ số người (trung bình chỉ khoảng 1/3 người đăng ký) họ cũng có số người chính thường sử dụng dịch vụ thư viện để phản hồi ý kiến. (Người đăng ký được giữ bí mật hồ sơ và liên hệ qua SSD).

     

    SSDs cũng là nguồn chính của kinh phí địa phương đăng ký dịch vụ sách nói và tương tự. Họ cũng chịu trách nhiệm đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ và cung cấp thông tin về nhiều dịch vụ hiện có. Trong một số trường hợp, các nhà quản lý thư viện thường được coi là cơ quan thích hợp hơn để làm chuyện này và cùng phối hợp với SSD để nhận lãnh trách nhiệm này. Một vài tổ chức (ví dụ Gloucestershire) đã thành công trong việc thảo thuận việc chuyển giao quỹ trong quá trình này.

     

    Liên lạc chặt chẽ với Phòng dịch vụ xã hội tại địa phương vì thế là cần thiết để khi lập kế họach và phát triển dịch vụ thư viện. Một số thư viện phối hợp công tác cung cấp thúc đẩy và chỉ dẫn thông tin dịch vụ. Các thư viện khác liên lạc với nhân viên SSD với mục đích thành lập các thành viên thư viện trong tương lai và phát triển định hướng chia sẻ.


    Back to Chapter index
    17.1.15. Cơ quan công nghệ thông tin và viễn thông giáo dục Anh quốc (BECTa)

    BECTa là cơ quan chính phủ dẫn đầu về công nghệ thông tin và viễn thông trong giáo dục. BECTa hỗ trợ cơ quan Chính phủ Anh và tổ chức quốc gia sử dụng và phát triển công nghệ thông tin viễn thông để nâng cao tiêu chuẩn, mở rộng truy cập, tăng cường kỹ năng và khuyến khích quản lý có hiệu quả. Là một phần trong vấn đề này, BECTa xác định cơ hội công nghệ thông tin viễn thông là để hòa nhập và đáp ứng được nhu cầu học tập của những người học trong điều kiện đặc biệt và đối với những người khuyết tật. BECTa xuất bản chủ yếu là thông tin trực tuyến về lĩnh vực này và cũng quản lý hàng loạt các hộp thư trao đổi, diễn đàn để có thể trao đổi ý kiến, thông tin và tư vấn. BECTa xây dựng trang web Inclusion, đại diện cho DfES, mục lục trực tuyến nguồn lực học tập để đáp ứng nhu cầu học tập của cá nhân (http://inclusion.ngfl.gov.uk).

     

    Một dự án nữa cũng do BECTa chủ trì là tạo trang web Nguồn lực giáo dục tiếp tục (FERL), đáp ứng nhu cầu học tập đặc biệt của học sinh và giáo viên trong chương trình đào tạo tiếp tục. Nó cũng có thông tin cho những người sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. Có thể tìm thấy thông tin qua http://ferl.becta.org.uk

     

    Liên lạc: BECTa, Milburn Hill Road, Science Park,
    Coventry CV4 7JJ. Tel: 024 7641 6994 Fax: 024 7641 1418
    email:
    Becta@becta.org.uk website: www.becta.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.16. Ủy ban bảo vệ quyền lợi người khuyết tật (DRC)

    Cơ quan độc lập được thành lập theo Đạo luật của Quốc hội vào tháng 4 năm 2000. DRC có nhiệm vụ trong việc tăng cường thực hiện áp dụng Đạo luật chống phân biệt đối xử đối với người tàn tật (DDA) và giúp người tàn tật bảo vệ quyền của họ. Nó cũng giúp đỡ các tổ chức cơ quan muốn được tư vấn về vấn đề này. Đường dây trợ giúp của DRC Helpline cung cấp dịch vụ thông tin và tư vấn trên toàn quốc về vấn đề quyền và bình đẳng cho người khuyết tật. Nó được mở rộng cho cả cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

     

    Liên lạc: Tel: 08457 622 633 Textphone: 08457 622 644
    email: enquiry@drc-gb.org website: www.drc-gb.org


    Back to Chapter index
    17.1.17. Mạng lưới truy cập

    Nhóm cải tổ cho nghiệp vụ thông tin thư viện cùng với khu vực chăm sóc cộng đồng và người khuyết tật. Trước đây là một nhóm chuyên đề trong Nhóm thư viện sức khỏe của Hội thư viện, hiện giờ trong mạng của CILIP. Nhắm vào việc “tăng cao khả năng truy cập dịch vụ vào công tác thông tin thư viện và thúc đẩy việc trao đổi thông tin và quan điểm”. Chủ động thúc đẩy dịch vụ cho người khiếm thị thông qua các chuyên đề hội thảo, hội nghị và xuất bản phẩm. Bản tin ‘Network news’ là nguồn thông tin hữu ích hiện nay tham khảo về người khuyết tật.

     

    Liên hệ: Linda Butler, Head of Performance Management, Birmingham Public Libraries, Central Library, Chamberlain Square, Birmingham B3 3HQ
    Tel: 0121 303 4402 Fax: 0121 233 9702
    email: linda.butler@birmingham.gov.uk


    Back to Chapter index
    17.2. Đọc và nghiên cứu

    Phần này giới thiệu danh mục tài liệu tham khảo gồm các báo cáo, nghiên cứu liên quan đến quá trình tiến hành và có cả các ấn bản liên quan đến dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị.

     

    Phần đầu tiên của liệt kê các báo cáo từ các dự án do LIC and Resource tài trợ trong chương trình hợp tác làm việc của LIC/ Resource/ STV. Những dự án này báo cáo thông tin chính trong các nghiên cứu gần đây có ảnh hưởng đến việc phát triển tốt hơn cơ sở hạ tầng cho dịch vụ của người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    17.2.1. Báo cáo dự án hợp tác của LIC/STV

    Capital Planning Information. (March 2000). Chọn nhan đề tài liệu hợp tác chuyển dạng. CPI £19.95.

     

    Chapman, Ann. (December 1999). Tương lai của NUCAF và tính năng kỹ thuật của các yêu cầu siêu dữ liệu. UKOLN, University of Bath. www.ukoln.ac.uk/services/lic/sharethevision

     

    Chapman, Ann. (January 2000). REVEAL: cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn lực tài liệu chuyển dạng: báo cáo tóm lược. UKOLN, University of Bath.

     

    Davies, J Eric, Wisdom, Stella, Creaser, Claire. (2001). Mất ánh sáng nhưng không mất trí tuệ: viễn cảnh của người khuyết tật trong dịch vụ thông tin thư viện. LISU Occasional paper no.29.
    Library and Information Statistics Unit (LISU),
    Loughborough University. www.lboro.ac.uk/departments/dis/lisu/lisuhp.html

    Đây là tài liệu nói về kết quả của dự án nguồn lực trong đó có cuộc khảo sát toàn quốc về quan điểm và ý kiến và các hoạt động của người khiếm thị liên quan đến dịch vụ thông tin thư viện có thể đáp ứng được. Dựa vào kết quả phỏng vấn mở rộng, kết quả xác định nhu cầu dịch vụ thông tin ưa thích cùng với các dữ kiện hiện đang cản trở tính công bằng trong truy cập. Thông tin có đăng trên trang web.

     

    HumanITy (directed by Kevin Carey). (March 2000). Củng cố việc truy cập dịch vụ cho người khiếm thị dựa vào công nghệ thông tin viễn thông. HumanITy dự án cho hàng loạt các báo cáo như sau:

    Điều hành và các phần mềm - Giáo sư Helen Petrie, Giám đốc Bộ phận Nghiên cứu

    a)  Nghiên cứu về khả năng truy cập của người mù và khiếm thị vào công nghệ thông tin và viễn thông, có những nguyên tắc chung và sự tham khảo chính dùng công nghệ cụ thể nào đó như máy tính cá nhân và các thiết bị khác như chuột/ bàn phím, hệ người khuyết tật  (SDRU), Đại học  Hertfordshire và Anne-Marie O’Neill, chuyên viên nghiên cứu của Bộ phận Nghiên cứu người khuyết tật (SDRU), Đại học Hertfordshire.

    b)  Điều chỉnh hết mức cho giao diện đồ họa. Cái gì hiện nay đang có và những khuyến cáo đề nghị để thực hiện tốt hơn? – John Ravenscroft, Chuyên gia tư vấn, Khoa giáo dục đặc biệt và giáo dục bình đẳng, University of Edinburgh.

    c)  Quy định” điều chỉnh hết mức có thể” và theo tiêu chí của Deliverable 2, những phần mềm và tính năng truy cập đặc biệt nào được yêu cầu để chuyển hóa dần khả năng có thể với khả năng truy cập hoàn toàn? – Kevin Carey, Giám đốc, HumanITy.

    d)  Truy cập mục lục trực tuyến trên web theo tiêu chí của WAI – GS. Helen Petrie và Anne-Marie O’Neill.

    e)  Ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất (điện thoại di động, truyền hình số) để giúp các người khiếm thị sử dụng dịch vụ thông tin thư viện thông qua dịch vụ tại chỗ và lưu động– Kevin Carey.

    f)  Có nhiều lựa chọn để tổ chức các dịch vụ thư viện, xem dự án REVIEL, vai trò của Share the Vision (STV) và các nỗ lực sắp xếp chia sẻ trách nhiệm của RNIB và NLB Kevin Carey và GS. Peter Brophy.

    g)  Nguyên tắc cơ bản của truy cập thông tin viễn thông cho người điếc và người gặp khó khăn trong khi nghe– Mary Brennan, Giảng viên, Bộ phận dạy đại học, Phòng giáo dục đăc biệt và bình đẳng, Đại học Edinburgh.

    h)  Nguyên tắc cơ bản của truy cập thông tin viễn thông cho người khuyết tật học và vận động– TS. Geoffrey Busby, Giám đốc , GB Disability Services and Prof. Helen Petrie.

    i)  Báo cáo tổng kết – Kevin Carey.

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi, and Creaser, Claire. (March 2000). Dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. Bộ phận thống kê thông tin và thư viện (LISU), Đại học Loughborough.

     

    Moore, Nick and Wallis, Margaret. (March 2000). Người khuyết tật và dịch vụ văn hóa: hưởng ứng chương trình Ban hợp tác Ủy ban Thông tin Thư viện/ Share The Vision. Acumen.

     

    Ryan, Deborah and Darter, Pat. (March 2000). Phát triển hệ thống mượn liên thư viện quốc gia tài liệu phục vụ người khiếm thị. Hệ thống thư viện khu vực Tây Bắc.

     

    Các báo cáo này hiện có trên trang web: www.resource.gov.uk hoặc www.lic.gov.uk

    Báo cáo của CPI và LISU (Kinnell và nh.ng.khác) cũng được cung cấp từ nhà xuất bản theo giá bản in ấn.

    Báo cáo của Chapman cũng có trên trang web của: www.ukoln.ac.uk/services/lic/sharethevision


    Back to Chapter index
    17.2.2. Nghiên cứu và tham khảo thêm

    Bell, Lorna. (1980). Sách chữ lớn và người sử dụng: một bản báo cáo cho Ban tài liệu của người khuyết tật của Hội thư viện.
    Tài liệu nghiên cứu toàn diện việc cung cấp sách chữ lớn và nhu cầu cũng như thông tin tham khảo về tiêu chuẩn.

     

    British Journal of Visual Impairment and Blindness Editor, 108 High Street, Hurstpierpoint, West Sussex BN6 9PX. Một năm 3 kỳ.
    Diễn đàn thảo luận nghiên cứu, vấn đề giáo dục và phúc lợi. Nguồn thông tin chính đăng các bài nghiên cứu và đánh giá nhận xét các ấn bản và kỹ thuật.

     

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999). Thư viện mạng tích hợp: mô hình dịch vụ thế kỷ 21. Báo cáo tổng kết về dự án REVIEL (Nguồn lực thư viện điện tử của người khiếm thị). Báo cáo nghiên cứu và cải thiện dịch vụ thư viện Anh quốc số 168. CERLIM, Manchester Metropolitan University.
    Báo cáo nghiên cứu thực hiện bởi CERLIM (Trung tâm nghiên cứu quản lý thông tin và thư viện) khuyến khích việc phát triển dịch vụ tập trung nguồn lực cả tài liệu điện tử lẫn truyền thống dạng chữ Braille, Moon và tài liệu nói.

     

    Bruce, I., McKennell, A., and Walker, E. (1991). Người khiếm thị và mù ở Anh: khảo sát của RNIB. Tập 1. London: HMSO.

     

    Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Trẻ khiếm thị và mù ở Anh: khảo sát của RNIB. Tập 2. London: HMSO.
    Hai cuộc nghiên cứu tòan diện nhất về nhu cầu của người khiếm thị. Chúng có những phần quan trọng liên quan đến nhu cầu thông tin và đọc và vấn đề truy cập thông tin. Các khảo sát này hiện đang được cập nhất và được tái bản vào 2001.

     

    Bruce, Ian and Baker, Mark. (2001). Truy cập thông tin viết: quan điểm của 1.000 người khuyết tật. London: RNIB.
    Nghiên cứu diện rộng d
    ựa vào cuộc phỏng vấn trực tiếp nhân với người tự biết mình gặp khó khăn trong việc đọc chữ in. Báo cáo việc sử dụng chữ in, Braille, âm thanh, máy tính và hỗ trợ việc đọc trực tiếp với các số liệu biểu hiện bề rộng và phạm vi nhu cầu. Những lời đề nghị với các nhà cung ứng xử lý khai thác thông tin.

     

    Burrington, Gill. (2000). Xây dựng môi trường: thiết kế dịch vụ cho người khiếm thị. Phụ trương đặc biệt của STV. Bản tin STV, số 34 Mùa Thu năm 2000 tr. 47-55.

     

    Byrne, Michael and Kenny, Eileen. (1998). Xây dựng vốn tài liệu chữ lớn: báo cáo về dự án hợp tác giữa Thư viện Birmingham và nhóm Ulverscroft để kiểm tra kết quả sau khi cải thiện và tăng cường vốn tài liệu ở thư viện Birmingham. Hội đồng thành phố Birmingham, Phòng dịch vụ cộng đồng và giải trí và CT TNHH sách chữ lớn Ulverscroft.
    Mục đích của cuộc nghiên cứu để kiểm tra lại kết quả ảnh hưởng của việc mở rộng vốn tài liệu dựa vào việc cung cấp miễn phí ấn phẩm của Ulverscroft trong vòng hai năm. Kết quả cho thấy việc tăng đáng kể các nhóm tài liệu nổi trội và có sự tăng đáng kể số người sử dụng là những người không có vấn đề gì về thị lực. Sự thay đổi về chính sách chọn lựa tài liệu được ủng hộ cùng với việc viết lại chính sách luân chuyển tài liệu giữa các thư viện chi nhánh.

     

    Capital Planning Information Ltd. (2000). Hợp tác chọn lựa tài liệu chuyển dạng. Báo cáo tổng kết gửi đến Ủy ban Thông tin và Thư viện và tổ chức Share the Vision. CPI.
    Nghiên cứu toàn quốc về chính sách và thực hành của thư viện, tổ chức từ thiện tình nguyện và các tổ chức thương mại liên quan đến việc chọn lựa, sản xuất và bổ sung tài liệu hình thức chuyển dạng. Mục đích của việc nghiên cứu nhằm thúc đẩy việc hợp tác lâu dài để xây dựng vốn tài liệu dựa vào phân tích và nghiên cứu thị trường, các thực hành tốt nhất ở các thư viện, và nhu cầu của người sử dụng hiện tại và trong tương lai. Có cả lời khuyến nghị về xây dựng cơ chế chung của các tổ chức tình nguyện để tránh những nổ lực bị trùng lặp.

     

    Trung tâm Nghiên cứu quản lý thông tin thư viện -Centre for Research in Library and Information Management. (2001). TRUY CẬP: truy cập điện tử cho mọi người: nhận thức tạo dựng trang web cho thư viện trường đại học. Trung tâm Nghiên cứu quản lý thông tin thư viện (CERLIM), Đại học thủ đô Manchester. Một cuộc nghiên cứu định hình mức độ nhận thức về việc thiết kế một trang web truy cập được và nhận định cách sử dụng các phương pháp hiệu quả nhất ví dụ, các phương pháp các nhà thiết kế thích dùng và tại sao. Các phát hiện từ Thư viện Anh và dự án REVIEL. Báo cáo tổng kết và hướng dẫn thực hành tốt nhất có trên: www.dmag.org.uk/resources/casestudies/cravenfull.asp#1

     

    Trung tâm Nghiên cứu quản lý thông tin thư viện. (2001). NOVA: truy cập không cần nhìn vào thư viện điện tử: giao diện thư viện điện tử cho người mù và khiếm thị. CERLIM, Manchester Metropolitan University.
    Mục đích dự án: để xây dựng việc hiểu biết về cách tra cứu trong môi trường số, tham khảo cụ thể vào việc truy cập thông tin của người mù và khiếm thị. Dự án được tài trợ: Hội đồng Bảo tàng, Lưu trữ và Thư viện.

     

    Chapman, Ann. (1999). Dự án: xây dựng và bảo trì mục lục liên hợp tài liệu chuyển dạng (NUCAF). Phần A: Vai trò tương lai của NUCAF và các đặc tính kỹ thuật với các yêu cầu của siêu dữ liệu. UKOLN, Đại học của Bath, nghiên cứu của Ủy ban Thông tin Thư viện và tổ chức Share the Vision. www.ukoln.ac.uk/services/lic/sharethevision
    Khuyến khích phát triển xây dựng NUCAF như là cơ sở dữ liệu quốc gia và phương pháp truy cập.

     

    Chartres, Stephen. (1998). Nhu cầu đọc giải trí của người khiếm thị từ cộng đồng dân tộc thiểu số. RNIB và EMERGE (Nhóm nguồn lực và giáo dục bình đẳng cho người thiểu số).
    Nghiên cứu về nhu cầu thói quen đọc nhận thức và sử dụng sách nói và các dịch vụ đọc khác. Liên lạc: Thư viện nghiên cứu của RNIB.

     

    Chartres, S. (1999). Dịch vụ sách nói của RNIB: hiện trạng. RNIB.
    Đánh giá dịch vụ dựa vào hàng loạt các tư vấn do RNIB thực hiện từ 1996 đến 98. các phát hiện liên quan đến việc tăng trưởng sách nói thương mại, cải thiện dịch vụ thư viện, sử dụng Calibre, tham gia Dịch vụ xã hội, cắt giảm kinh phí địa phương dành cho dịch vụ, nhu cầu đọc của khách hàng hiện nay.

     

    Ủy ban Cộng đồng Châu Âu. (1993-94). EXLIB – Mở rộng dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. www.svb.nl/project/exlib/exlib.htm
    Kết quả từ dự án hợp tác quốc tế do EEC tài trợ cho chương trình thư viện của Ủy ban Cộng đồng Châu Âu. Dự án được Thư viện sinh viên mù (SVB), Amsterdam và có cả khảo sát của thư viện, cán bộ thư viện và người sử dụng. Kết quả là hàng loạt các khuyến nghị về tiêu chuẩn mô hình thực hành dịch vụ. Có một loạt các báo cáo nói về sự đóng góp của các thành viên trong dự án:
    Vol. 1 Công nghệ (University of Bradford, 1993)
    Vol. 2 Thông tin viễn thông (1994)
    Vol. 3 Người sử dụng (SVB, 1994)
    Vol. 4 Thư viện (Danmarks BlindeBibliotek, 1993)
    Vol. 5 Cơ sở hạ tầng và ứng dụng (SVB, 1994)

     

    Ủy ban Cộng đồng Châu Âu. (1997-98). TESTLAB (Hệ thống kiểm tra sử dụng thông tin viễn thông phát triển dịch vụ thư viện cho người mù và khiếm thị). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv. htm
    Dự án do EEC tài trợ dựa vào hàng loạt thực hành thử nghiệm ở các thư viện công cộng và đại học để đánh giá yêu cầu của người mù và khiếm thị để có thể truy cập vào mục lục cũng như tài liệu dưới hình thức mà họ đọc được. Trong đó bao gồm cả việc lắp đặt các máy trạm ở bốn nước và 11 thư viện để cho phép bạn đọc khiếm thị và mù có thể sử dụng được mục lục, mạng thông tin, cơ sở dữ liệu và tài liệu điện tử. Các nước thành viên là: UK, Ai len, Hà Lan, Úc, Hy Lạp và Ý. Sự đóng ghóp về phía Anh là Dự án thử nghiệm mượn liên thư viện (PIP) dựa vào các bộ phận người khiếm thị ở thư viện Manchester và Tameside. Dự án được Thư viện sinh viên đại học dẫn đầu (SVB), Amsterdam và cho ra hơn 40 báo cáo có thể tham khảo trên trang web.

     

    Cooke, Madeleine and Moody, Ron. (1990). Sách chữ lớn bằng tiếng Châu Á: nhu cầu khách hàng những năm 1990s. Báo cáo nghiên cứu kỹ thuật và khảo sát thị trường tài trợ qua chương trình vận động phát triển thư viện công. Hội đồng Quận Leicestershire: Dịch vụ thư viện và thông tin.
    Báo cáo về điều tra kỹ thuật đưa đến việc sản xuất bốn thứ tiếng Bengali, Hindi, Punjabi và Urdu. Có cả việc phân tích dân số cộng đồng Á - Anh phân bố rãi rác trên toàn quốc và các khoản chi tiêu về việc in sách chữ lớn bằng tiếng Châu Á và thị trường tiêu thụ của thư viện trong tương lai.

     

    Corrigan, Linda. (2001). Liên lạc: báo cáo đánh giá dự án vận động đọc. Phụ trương đặc biệt của bản tin STV. STVnews, 38 Autumn 2001 pp.40-63.
    Đánh giá dự án hợp tác giữa e NLB, RNIB, Calibre và hệ thống mạng lưới thư viện công được thiết kế phục vụ cho người khiếm thị cơ hội lướt tìm được các tài liệu ở những hình thức họ thích đọc.

     

    Craddock, Peter. (1996). Dự án Libra: chung cấp và sử dụng thiết bị đọc cho người khiếm thị và khuyết tật đọc khác ở các thư viện công cộng của Anh quốc. Báo cáo nghiên cứu Thông tin thư viện 91. Thư viện Anh quốc.
    Kết quả của một cuộc nghiên cứu các dịch vụ thư viện công qua các cuộc phỏng vấn người mù và khiếm thị qua điện thoại, hai mẫu câu hỏi được gửi đến 130 nhà quản lý thư viện công và một bảng gửi đến các nhà sản xuất và phân phối thiết bị đọc.

     

    Craddock, Peter. (1985). Thư viện công và người mù: khảo sát đánh giá thực hành hiện nay. Báo cáo số 35 của Thông tin và thư viện. Thư viện Anh quốc.
    Khảo sát gần đây nhất về dịch vụ thư viện công ở Anh dành cho người khiếm thị.

     

    Liên đòan người mù Châu Âu. (1997). Tiến đến thế kỷ 21: yêu cầu của người sử dụng đối với thế hệ sách nói. Báo cáo của Ban Hợp tác chuyên gia Liên đoàn người mù Châu Âu về sách nói trong thế hệ sau. Liên đòan người mù Châu Âu

    Các đề nghị của các nhà cung ứng, sản xuất, phát triển thế hệ máy đọc công nghệ mới và dịch vụ theo quan điểm của người sử dụng.

     

    Dịch vụ Thư viện, Mỹ thuật và Bảo tàng Quận Gloucestershire. (1998). Dự án NKThị Gloucestershire: dịch vụ thư viện danh cho người khiếm thị, đánh giá dự án thử nghiệm của Share the Vision, RNIB và Dịch vụ Thư viện, Mỹ thuật và Bảo tàng Quận Gloucestershire. Hội đồng Thư viện Mỹ thuật và Bảo tàng Quận Gloucestershire.
    ISBN 1 899917241. 47pp.
    Ban hợp tác dự án RNIB/ Thư viện Gloucestershire đánh giá tính linh động của các dịch vụ thư viện phục vụ hòa nhập cung cấp sử dụng các tài liệu nói và các nguồn lực khác tại địa phương và quốc gia. Dự án do Phòng Thông tin kế hoạch thủ đô thực hiện đánh giá.

     

    Tạp chí người mù và khiếm thị. AFB Press, Tổ chức người mù Hoa Kỳ, 11 Penn Plaza, Suite 300, New York, NY 10001.
    Định kỳ phát hành hai tháng một số.
    Phản ánh các thông tin mới và điểm sơ qua các nghiên cứu và bài viết chuyên môn. Nghiên cứu trên phạm vi quốc tế nhưng chủ yếu là ở Hoa Kỳ là nguồn tham khảo chính.

     

    King, Angela. (1998). Thúc đẩy dịch vụ thư viện cho trẻ khiếm thị Tháng 1 – Tháng 3 năm 1998. Hội đồng thành phố Birmingham, Phòng dịch vụ cộng đồng và giải trí.
    Báo cáo về sự tham gia của trẻ khiếm thị trong các giờ kể chuyện và các hoạt động vận động khác và các yêu cầu để cải thiện việc truy cập vào dịch vụ.

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi, and Creaser, Claire. (2000). Dịch vụ thư viện công dành cho người khiếm thị: báo cáo cho Ủy ban thông tin Thư viện. Đại học Loughborough, Phòng Thống kê Thông tin Thư viện (LISU).
    Kết quả của việc đánh giá mức độ hiện nay của việc cung cấp dịch vụ trong các thư viện công cộng và cách họ thực hiện để theo đúng các Khuyến nghị hướng dẫn của Hội thư viện và tổ chức Share the Vision xuất bản.

     

    Hội thư viện, Phòng Thực hành nghiệp vụ. (1995). Mọi người có thể liên lạc với bạn không: dịch vụ thư viện cho người mù và khiếm thị. 7tr.
    Một trong những các loạt hướng dẫn để các thư viện nhận ra có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của những người gặp khó khăn khi sử dụng dịch vụ hòa nhập chung do các khuyết tật mà họ mang. Xác định những yếu tố cần thiết của việc phát triển dịch vụ và liệt kê ra các tổ chức và cũng như các ấn bản cần thiết để tham khảo.

     

    Machell, Jean. (1996). Dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị: hướng dẫn quốc gia. Hội thư viện/ Share the Vision.
    Tư vấn cho thư viện đại học và công cộng về cách thành lập dịch vụ thông tin thư viện thích hợp cho những người gặp khó khăn trong việc đọc chữ in. Các hướng dẫn này được Hội thư viện/ Share the Vision chấp thuận.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Infolink. www.nlbuk.org
    Đường đây trợ giúp người khiếm thị có nhu cầu về thông tin và tư vấn về dịch vụ và các lợi ích của thông tin với cuộc sống, giải trí và việc làm. Dự án thử nghiệm thực hiện bởi sự cộng tác của NLB và Hội vì người mù. Mục đích là để cung cấp nơi chuyên cung cấp tin và tư vấn qua sự cộng tác của các nhà cung cấp tin với nhau.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Điều tra dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị đang theo học đại học ở Anh. Nghiên cứu báo cáo việc thực hành hệin nay và các mô hình tốt nhất.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Ngày hội sách quốc gia đọc bằng cách sờ vào sách: báo cáo nguyên văn. NLB.
    Báo cáo về hội sách trong hai tuần do NLB và RNIB để xây dựng thúc đẩy hình ảnh chủ động tích cực và cách đọc bằng cách sờ vào sách và khuyến khích người ta học cách đọc bằng cách sờ vào tài liệu.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). NLB và bạn đọc trẻ. NLB.
    Khảo sát nhu cầu của bạn đọc NLB từ 15-16 tuổi. Các phát hiện cho thấy hầu hết các em đi học trường hoà nhập. Hầu hết các việc mượn tài liệu về nhà với sự giúp đỡ của phụ huynh. Chữ Braille bao giờ cũng là hình thức được ưa chuông nhất. Hầu hết các em thích đọc tài liệu điện tử như CD Rom, email, Internet. Nhiều nguồn lực thông tin khác lấy từ NLB – ClearVision, RNIB, trường và thư viện địa phương. Khảo sát nghiên cứu hợp tác giữa NLB/ Đại học Birmingham: Học sinh khiếm thị và sự chọn lựa dạng tài liệu đọc.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. Tạp chí nghiên cứu. Spiral.
    Hai lần một năm cập nhật về các dự án nghiên cứu hiện đang quan tâm đến nhà cung ứng dịch vụ cho người khiếm thị. Xuất bản chủ yếu cho các tổ chức thành viên và nhân viên của NLB.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Liên lạc. Dự án khảo sát cách thức liên lạc với người mù và khiếm thị để có thể giúp họ nói lên nhưng nhu cầu thông tin và đọc của mình. Dự án thực hiện ở Manchester và khu vực địa bàn xung quanh.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Visugate. Dự án hiện đang tiếp tục để có thể cung cấp nguồn lực tham khảo và thông tin trên Internet toàn diện và miễn phí về tất cả các vấn đề của người khiếm thị từ một điểm truy cập trang web duy nhất. NLB đang phát triển dự án với các nhà cung cấp khác như Hành động vì người mù, Báo Anh của Người khiếm thị, Âm thanh, Trung tâm chăm sóc mắt quốc tế, Khoa Giáo dục của đại học, NALSVI, RNIB, Share the Vision, Scottish Sensory Centre and Talking Eyes.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (2001).
    Mở rộng phục vụ: dịch vụ thư viện cho người khiếm thị trong cộng đồng thiểu số. Phụ trương đặc biệt của bản tin STV. STVnews, 36 Spring 2001 pp.41-63.

     

    New Beacon. RNIB, 105 Judd Street, London WC1H 9NE
    Hàng tháng (trừ tháng Tám).
    Nguồn thông tin tòan diện nhất về các sự kiện và vấn đề hiện nay về người khiếm thị. Có cả các bài báo chuyên sâu, báo cáo sự kiện, đánh giá công nghệ, liên lạc lẫn cáo phó. Có nhiều nhà cung ứng đăng tin kể cả các phòng ban của RNIB. Cho đăng miễn phí thông báo các sự kiện sắp diễn ra.

     

    Tài liệu mới về người khiếm thị. Thư viện tham khảo RNIB,
    105 Judd Street, London WC1H 9NE. Hai lần trong tháng.
    Chỉ mục, danh mục báo tạp chí được thư viện tham khảo RNIB mua. Hình thức này đang dự định tiến đến việc hình thành dịch vụ đăng ký sử dụng.

     

    Owen, David. (March 2000). Làm sao để có 11.76 xu một năm liên tục. Bản tin nghiên cứu Thông tin và Thư viện. Tháng 3 năm 2000, tr 18-19.
    Mô tả ngắn gọn về chương trình dự án và nghiên cứu của LIC/STV.

     

    Page, Geraldine. (1990). Dịch vụ thư viện công cộng và người khiếm thị chưa đăng ký là người mù: một cuộc nghiên cứu được nộp như bản phụ kèm theo yêu cầu tốt nghiệp của thạc sĩ thư viện. Đại học Sheffield.
    Nghiên cứu so sánh về việc sử dụng thư viện của người mù và khiếm thị ở thư viện Sheffield và Rotherham và việc sử dụng thư viện đã ảnh hưởng đến người khiếm thị ngay từ đầu.

     

    Hội cấp giấy phép xuất bản. (2001). Người khiếm thị sử dụng sách báo và tạp chí. Publishers Licensing Society Ltd.
    5 Dryden Street, London WX2E 9NB. Tel. 020 7829 8486.
    e-mail: info@pls.org.uk website: www.pls.org.uk.
    Chi tiết điều kiện luật pháp cho một người bị khuyết tật đọc hay các cơ quan đại diện cho họ có quyền sao chép và chuyển dạng xuất bản phầm.

     

    Rawsthorne, L. (1990). Sách chữ lớn và thư viện công cộng. Tạp chí thư viện công cộng 5(1) Jan. 1990, pp. 19-24.
    Tóm tắt kết quả khảo sát việc cung cấp sách chữ lớn ở 38 thư viện ở Anh và xứ Wales (1988). Cả người đọc và thư viện nhìn chung là thỏa mãn với những gì được cung cấp, nhưng các thư viện vẫn chưa thể cung cấp đủ sách và không có mục lục thích hợp cũng như tài liệu tham khảo chữ lớn.

     

    Resource. (2001). Tài liệu tham khảo về người tàn tật cho phòng trưng bày và bảo tàng.
    Resource. 183 tr. Tờ rời đóng tập.
    Hướng dẫn phòng trưng bày và bảo tàng cách cải thiện dịch vụ phục vụ cho mọi đối tượng khuyết tật. Nó đề ra các nguyên tắc để hứơng các thực hành tốt nhất đi vào quỹ đạo, cho những lời khuyên thiết thực và địa chỉ cần thiết để liên lạc. Bản sao ở dạng thay thế có thể cung cấp theo yêu cầu.
    Liên lạc: Resource, 16 Queen's Anne's Gate, London SW1H 9AA.
    Tel. 020 7273 1444 website: www.resource.gov.uk

     

    Resource. (2001). Khảo sát việc phục vụ người khuyết tật cho bảo tàng, lưu trữ và thư viện. Resource.
    Báo cáo mẫu điều tra khảo sát mẫu gồm 340 tổ chức ở Anh quốc. Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng chính sách hoà nhập và xây dựng phương pháp đánh giá khả năng sử dụng bảo tàng, lưu trữ và thư viện. Báo cáo khảo sát hiện trạng không đồng đều thực hiện công tác phục vụ tư vấn tập huấn. Trên trang web về nguồn lực có đăng bản báo cáo đầy đủ.

     

    RNIB. (1997). Tổ chức quốc tế cho người mù và khiếm thị. RNIB.
    Niên giám tổ chức và dịch vụ theo danh mục quốc gia, tổ chức đa quốc gia và các nhà sản xuất.

     

    RNIB. (1999). Tri thức cho mọi người? RNIB.
    Chiến lược của RNIB là khuyến khích các trường học đảm bảo trẻ bị vấn đề thị lực nghiêm trọng sẽ được hưởng lợi ích từ chính sách giáo dục của chính phủ. Chiến lược được vạch ra từ việc tư vấn cho các tổ chức giáo dục, dịch vụ cho người khiếm thị và các trường hoà nhập và những trường đặc biệt.

     

    RNIB. (2000). Định hình cho tương lai: khảo sát đối tượng thanh thiếu nhi mù và khiếm thị ở Anh. 6 tập. Có cả bảng báo cáo tóm lược. London: RNIB.
    Báo cáo kết quả khảo sát hơn 1000 trẻ mù và khiếm thị cùng với phụ huynh của trẻ bị đa khuyết. Các đề nghị đưa ra như truy cập bình đẳng thông tin trên sách, bài giảng bằng nhiều hình thức, tập huấn nâng cao nhận thức cho giáo viên, những thay đổi trong luật bản quyền để khắc phục những rào cản của dịch vụ chuyển dạng, có những tiêu chuẩn tốt hơn cho công tác giáo dục hội nhập.

     

    RNIB. (1998). Tổ chức của Anh quốc dành cho người mù và khiếm thị. 6th. edition. RNIB.
    Niên giám Tổ chức của Anh quốc dành cho người mù và khiếm thị. Có các tổ chức từ địa phương đến trung ương kèm theo chi tiết các dịch vụ. Sắp xếp theo bốn khu vực tổ chức Anh quốc, dịch vụ xã hội và chính phủ, nhà sản xuất và phân phối, tổ chức đa quốc gia. Nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho các thư viện, có ở dạng bản in, chữ Braille và đĩa. RNIB cũng bảo trì các CSDL trên web của nước ngoài và ở Anh quốc.

    ‘Tổ chức cho người mù và khiếm thị’ cung cấp thông tin về tổ chức của và cho người mù trên khắp thế giới. Thông tin dựa trên sự phản hồi các bảng câu hỏi và mô tả về các tổ chức. Được cập nhật trước khi phát hành. www.rnib.org.uk/linksite/visimp.htm

     

    Ryan, Deborah and Darter, Pat. (2000). Xây dựng hệ thống mượn liên thư viện cho tài liệu cho người khiếm thị. Ủy ban Thông tin Thư viện, Research report 60.
    Xây dựng hệ thống mượn liên thư viện để đảm bảo người khiếm thị truy cập vào được tất cả các nguồn lực có thể. Có cả sự phối hợp giữa các nhà cung ứng dịch vụ và tổ chức quốc gia: RNIB, Calibre, TNAUK, NLB và các tổ chức liên quan khác.

     

    Diễn đàn thông tin người khuyết tật Xcốt-len. (1999). Tiêu chuẩn cung cấp tư vấn và thông tin người khuyết tật Xcốt-len. Scottish Consumer Council, có dạng chữ lớn, chữ Braille, băng, đĩa và CD Rom.
    Scottish Consumer Council, SAIF, 100 Queen Street, Glasgow G1 3DN.
    Tel. 0141 226 5261 email: SCC@scotconsumer.org.uk
    website: www.connections.gcal.ac.uk/saif

     

    Share the Vision. (1991-2001). Bản tin STV. Hàng quý  dạng in, Braille, băng và đĩa. (Đình bản kể từ số 39, Winter 2001).
    Bản tin và thông tin hiện tại đặc biệt dành cho nhân viên ngành thông tin thư viện. Liệt kê các xuất bản phẩm dành cho người khiếm thị, ở các dạng thích hợp, các dự án nghiên cứu và chủ trương chính sách mới, tập huấn và phát triển nghề nghiệp, các sự kiện sắp diễn ra và các trang web có liên quan.

     

    Shaw, Alison. (1969). Chữ in cho người khiếm thị: báo cáo cho Ban trong Hội thư viện phụ trách sách cho người khiếm thị  Library Association.
    Báo cáo cuộc điều tra những ảnh hưởng tính dễ đọc của kiểu thiết kế, trọng lượng, kích thước và khổ cỡ chữ. Mặc dù đã cũ, nhưng nó vẫn đảm bảo tính chuẩn của các tiêu chí rõ ràng dành cho chữ lớn.

     

    Kỹ năng: Văn phòng thông tin cho sinh viên khuyết tật. www.skill.org.uk.
    Thông tin liên quan đến tất cả các loại khuyết tật trong giáo dục đại học: “cải thiện môi trường vật lý cho tất cả sinh viên khuyết tật”.
    Skill đã biên soạn ‘Danh bạ các nguồn lực: cải thiện phục vụ cho sinh viên khuyết tật”, có đăng trên www.equipservices.hefce.ac.uk/ResDir/Intro.htm
    Danh bạ có nguồn thông tin về trang thiết bị điện tử do các trường đại học và cao đẳng ở Anh cung cấp thông tin. Một ví dụ hữu ích khác là “Sổ tay cho nhân viên phục vụ hỗ trợ người khiếm thị trong thư viện” do Ủy ban truy cập, Trung tâm khuyết tật hợp tác giữa các trường ở Manchester.

     

    White, P.J. editor. (2001). Tài liệu hướng dẫn hỗ trợ người mù và điếc: tư vấn và thông tin thực hành cho người hỗ trợ người điếc và mù.
    Hứơng dẫn thực hành cho đủ các nhu cầu khác nhau của người vừa mù vừa điếc. Đề tài đề cập đến cộng đồng, sức khỏe, vấn đề đi lại, sinh hoạt hàng ngày và truy cập thông tin.
    Hội ng
    ười mù và điếc Anh quốc Deafblind UK, 100, Bridge St., Peterborough PE1 1DY
    Voice/textphone: 01733 358100 Fax: 01733 358356
    email: info@deafblinduk.org.uk website: www.deafblinduk.org.uk
    24 hour helpline: 0800 13 23 20


    Back to Chapter index
    17.3. Tập huấn về phục vụ công bằng và nhận thức về người khuyết tật

    Có nhiều cơ quan tổ chức tập huấn như hội người mù địa phương, các tổ chức địa phương khác, tổ chức trong khu vực và quốc gia và các cơ quan tư vấn độc lập. Nhiều khóa học do những chuyên gia có kinh nghiệm về người khiếm thị. Tập huấn có thể kết hợp với nâng cao nhận thức và phục vụ công bằng cho mọi người nói chung và người khuyết tật nói riêng. Một số cơ quan có chương trình tập huấn tại chỗ tùy theo dịch vụ mà thư viện có. Danh mục sau có cả ấn phẩm liên quan chương trình tập huấn và một số cơ quan có các khóa giới thiệu thư viện.

     

    Burrington Partnership. (1999). Hiểu biết về người khuyết tật: khóa tập huấn hai ngày cho khu vực thông tin thư viện. Burrington Partnership Publishing, 33 Green Courts, Bowdon, Altrincham, Cheshire WA14 2SR. Tel/Fax: 0161 928 6240 email: BurringtonandCo@aol.com
    Nâng cao nhận thức và hướng dẫn về Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 1995, Phần III (Sử dụng dịch vụ, sản phẩm và trang thiết bị
    ). Burrington Partnership cũng có chương trình  tập huấn thích hợp cho người mù và khiếm thị và thực hiện các đánh giá kiểm tra khuyết tật về di chuyển cũng như giác quan

     

    Bộ Y tế. (2001).
    Khóa học cho người tập huấn khiếm thính hay người bị khiếm khuyết cả hai giác quan
    Ấn bản in lần thứ 7.
     Social Care Group 6B, Area 228, Department of Health,
    Wellington House, 133-155 Waterloo Road, London SE1 8UJ. Tel: 020 7972 4121
    Nguồn thông tin chủ yếu về các khóa cho các nhân viên trung tâm phục hồi hay cho những người cần khóa học tổng quan kiến thức về người khiếm thị, khiếm thính và người vừa mù vừa điếc. Danh bạ này có thông tin của người tập huấn. Tải miễn phí từ www.doh.gov.uk/scg/deafblind.htm

     

    Diversity UK. (serial). Danh bạ: hướng dẫn phục vụ bình đẳng và đa dạng. 17th edition, April 2000. 135pp. ISSN 1358-7978. Diversity UK,
    3 Abbey Square, Turvey, Bedford MK43 8DJ.
    Danh bạ các nhà tư vấn chuyên về vấn đề bình đẳng và đa nhu cầu. Chi tiết cho biết khoảng 104 cơ quan tư vấn, 80 nơi trong số đó tạo cơ hội bình đẳng và 53 tổ chức liên quan đến phục vụ người khuyết tật. Xuất bản hai lần hàng năm. Chữ in rõ cỡ 14.

     

    Hội Julie Ryder
    Tập huấn vấn đề người khuyết tật kể cả đạo luật chống phân biệt. Danh bạ dịch vụ người khuyết tật địa phương, tư vấn về lập kế hoạch dịch vụ và theo dõi giám sát thực hiện công tác. Bộ phận tư vấn có liên kết mạnh với những công việc truy cập ở các thư viện công cộng
    . Liên hệ: Julie Ryder Associates, Holmbury, Wheeler Lane, Witley, Surrey GU8 5QU. Tel: 01428 683448
    email: julie.ryder@lineone.net

     

    Diễn đàn thông tin quốc gia. (1997). Làm thế nào để cung cấp thông tin được tốt: chương trình tập huấn. Diễn đàn thông tin quốc gia, BT Burne House,
    Post Point 10/11,
    Bell Street, London NW1 5BZ. Tel. 020 7402 6681
    Fax. 020 7402 1259 email: info@nif.org.uk website: www.nif.org.uk Hướng dẫn tập huấn chương trình khóa học 1 ngày.

     

    Diễn đàn thông tin quốc gia. (1992). Nhu cầu cần biết.
    Chương trình tập huấn bằng băng hình mô tả những khó khăn của người khuyết tật càng bị nặng nề thêm là do sự thiếu hiểu biết về nhu cầu của người khiếm thị rộng hơn người khác thiết tưởng. Sử dụng những bối cảnh trong nhà và trong các trung tâm y tế. Băng hình quay trong 32 phút và được đóng kèm chung với sổ tay hướng dẫn của người tập huấn (được cập nhật vào năm 1998).

     

    Dịch vụ tập huấn và tư vấn truy cập NLB (ACTS)
    Tập huấn cho các thư viện, nhà cung cấp thông tin và các tổ chức khác, những người muốn cải thiện khả năng truy cập của dịch vụ. Dịch vụ có cả phần đánh giá khả năng truy cập, tập huấn nhân viên
    , hỗ trợ công nghệ truy cập và giúp cung cấp tài liệu chuyển dạng.

    Thư viện quốc gia dành cho người mù cũng tập huấn miễn phí cho các thư viện cách sử dụng các dịch vụ trên trang web của NLB. Chương trình tập huấn được thiết kế để đảm bảo nhân viên thư viện có thể hỗ trợ người đọc khiếm thị sử dụng các trang web và phần mềm, biết chọn sách và sử dụng các dịch vụ của NLB. Tập huấn được phối hợp cùng với 10 tổ chức thư viện là: Bradford, East Riding of Yorkshire, Essex, Gloucestershire, Islington, Kirklees, Lancashire, Manchester, Oxfordshire, Tameside.
    Reader Advice Manager, National Library for the Blind, Far Cromwell Road, Bredbury, Stockport SK6 2SG. Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
    email:
    enquiries@nlbuk.org. website: www.nlbuk.org

     

    Hội Playforth
    Cung cấp các chương trình tập huấn về phục vụ, nghiên cứu và tư vấn cho các khu vực tình nguyện, tư nhân và công cộng bình đẳng. Các khoá học tạo cơ hội cho “các cá nhân cảm thấy được giá trị, khám phá và phát triển tiềm năng của mình”. Tư vấn cho các tổ chức trong việc xây dựng các chiến lược bình đẳng có cả nhận thức về bệnh điếc và mù. Do các chuyên gia bị khuyết tật điều phối và quản lý. Playforth Associates, 3 Marine Parade, Seaford, East Sussex BN25 2PL. Tel: 01323 899615 Fax: 01323 899462 email: splayforth@aol.com

     

    Tập huấn về bình đẳng/ nhận thức về khuyết tật RADAR
    RADAR, 12 City Forum, 250 City Road, London EC1V 8AF
    Tel: 020 7250 3222 Fax: 020 7250 0212 website: www.radar.org.uk
    Tờ tin về chương trình Tập huấn về bình đẳng/ nhận thức về khuyết tật trong đó là một danh mục chọn lọc những cơ quan đơn vị nào tổ chức tập huấn.

     

    RNIB. Tập huấn nhận thức .
    Chương trình RNIB tập huấn cho các thư viện chăm sóc khách hàng. Khóa học nhằm vào việc bồi dưỡng kỹ năng và xây dựng lòng tự tin để phục vụ người mù và khiếm thị có cả kiến thức hiểu về DDA
    . Tập huấn người cộng sự- tập huấn nhận thức. Dịch vụ thông tin công cộng, RNIB.

     

    Đại học Surrey, Trường nghiên cứu giáo dục
    Liên kết với Surrey Phab, cung cấp các khoá học về đảm bảo bình đẳng cho người khuyết tật.
    Contact: Surrey Phab, Felbury House, Holmbury St Mary, Nr. Dorking, Surrey. Tel. 01306 730929


    Back to Chapter index
    17.4. Công nghệ hỗ trợ

    AbilityNet
    Tư vấn và tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật cho người khuyết tật sử dụng máy tính ở trường, chỗ làm và ở nhà có những phần mềm và phần cứng thích hợp để điều chỉnh.
    Abilitynet, PO Box 94, Warwick CV34 5WS Helpline (UK) 0800 269545
    Tel: 01926 312847 Fax: 01926 407425 email: enquiries@abilitynet.co.uk

     

    Abledata website: www.abledata.com/Site_2/project.htm
    Cung cấp thông tin về công nghệ hỗ trợ và thiết bị phục hồi từ các nguồn trong và ngoài nước đến các khách hàng, tổ chức, người làm dịch vụ chăm sóc ở Mỹ. Cơ sở dữ liệu có hơn 19,000 sản phẩm công nghệ hỗ trợ có đầy đủ chi tiết về nhà sản xuất, sản phẩm và giá cả. Viện nghiên cứu phục hồi và khuyết tật quốc gia tài trợ.

     

    Hội Máy tính Anh quốc. (2000). DDA truy cập cho tất cả: hướng dẫn thực hành cho các nhà quản lý doanh nghiệp và chuyên gia. Phòng xuất bản, Hội Máy tính Anh quốc, Freepost, Swindon,
    Wiltshire SN1 1BR.
    Tổng quát trình bày về đạo luật được viết thành dạng hỏi đáp rõ ràng và súc tích. Cần quan tâm đến là phần thiết bị công nghệ thông tin chuyên dụng – ‘Khai thác công nghệ thông tin: yêu cầu của khả năng sử dụng thông tin và công nghệ viễn thông đối với người khuyết tật’.

     

    Nhóm máy tính hội khuyết tật Anh quốc

    Thúc đẩy công nghệ thông tin cho các dạng người khuyết tật. Mục đích chính của nhóm là mô tả cho các nhân viên và công chúng biết được là CNTT là công cụ để mang tới bình đẳng trong sở làm.
    BCS Disability Group, GEC Computer Services Ltd, Great Baddow, Chelmsford CM2 8HN. Tel: 01245 473331 Fax: 01245 475244

     

    Trang web đăng bản in điện tử truy cập được: www.e-accessibility.com
    Bản tin có dạng thư điện tử và trên web. Phản ánh tất cả các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thông tin và công nghệ viễn thông của những người mù và khiếm thị, kể cả việc phát triển ở Châu âu và trong nước.

     

    HumanITy
    Đăng ký là đơn vị từ thiện tư vấn về công nghệ thông tin viễn thông và hòa nhập xã hội. Tham gia vào các dự án nghiên cứu thư viện, như  ExLib, cố vấn TESTLAB cho Văn phòng nội các chính phủ Anh  , Phòng Thương mại và Công nghiệp (DTI), Phòng Giáo dục và Việc làm (DfEE), và Nguồn lực. HumanITy, 112a High Street, Hurstpierpoint,
    West Sussex BN6 9PX Tel: 01273 834821 Fax: 01273 833744
    email: humanity@atlas.co.uk

     

    Thư viện cho người mù. (1999). Công nghệ truy cập, hướng dẫn thực hành: đến nơi nào và làm được gì. Phụ trương đặc biệt của STV. Bản tin STV, 31 1999, pp.39-50

     

    Trung tâm nghiên cứu giáo dục cho người khiếm thị (RCEVH). Dùng thiết bị trợ thị trong các trường hòa nhập hỗ trợ người khiếm thị.
    Hướng dẫn cho phụ huynh và giáo viên của trẻ bị khiếm thị. RCEVH được biết như là VICTAR (Trung tâm khiếm thị dành cho giảng dạy và nghiên cứu), School of Education, University of Birmingham, Edgbaston, Birmingham B15 2TT Tel: 0121 414 6733.

     

    RNIB. (2001). Công nghệ truy cập: dùng công nghệ hỗ trợ cơ hội học tập và việc làm cho người khiếm thị. RNIB. 148 trang ISBN 1 85878 517 0. Tài liệu dạng in hay đĩa.
    Thông tin và nguồn lực về công nghệ cho người khiếm thị trong tổ chức giáo dục, sở làm, học tập suốt đời và ở nhà.

     

    Trung tâm nguồn lực (London, Belfast, Edinburgh)
    Có lẽ đây là nơi có nguồn thông tin lớn nhất về công nghệ, sản phẩm thiết bị hiện có. Có cả những loại đặc biệt trong công nghệ hỗ trợ, đặc biệt là trung tâm nguồn lực Luân Đôn ở Judd Street (xem mục 17.1.1).

     

    RNIB TiLE: Công nghệ thông tin ứng dụng trong học tập và làm việc. Bộ phận này dựa trên Coventry, cung cấp các dịch vụ sau:

    a) dịch vụ thông tin công nghệ cho công chúng và các chuyên gia, kể cả những ấn phẩm, tờ tin, trang web và đặt hàng yêu cầu thông tin;

    b) tư vấn hỗ trợ cho các cơ quan giáo dục, người thuê lao động, xây dựng phần mềm, chính phủ và các tổ chức khác, để truy cập công nghệ được thích hợp xây dựng và thực hiện để đảm bảo cho người khiếm thị biểu hiện hết năng lực học tập và làm việc của mình;

    c) đóng góp vào việc xây dựng chính sách và chiến lược công nghệ của RNIB, dựa vào việc liên hệ thường xuyên với các tổ chức và cá nhân.

    Văn phòng phát triển CNTTVT của Anh, RNIB Công nghệ thông tin ứng dụng trong học tập và làm việc, c/o Exhall Grange School, Wheelwright Lane, Ash Green, Coventry CV7 9HP Tel: 024 7636 9500 Fax: 024 7636 9501
    email: technology@rnib.org.uk website: www.rnib.org.uk/technology

     

    RNIB. (1999). Trang web hoạt động. Pacifica Films của WAI, RNIB và bộ phận nghiên cứu khuyết tật giác quan (SDRU) ở Đại học Hertfordshire. Tư vấn cho các nhà thiết kế trang web, ban lãnh đạo địa phương và các tổ chức cách thức làm trang web được người mù và khiếm thị truy cập được nhiều hơn.

     

    TechDis website: www.techdis.ac.uk
    nguồn tư vấn và thông tin chính cho cộng đồng đại học và sau đại học. Tập trung vào việc sử dụng CNTTVT và cách thức liên hệ với nhưng khó khăn trong việc học hay do khuyết tật. Nó duy trì ”cơ sở dữ liệu truy cập được” có hơn 2,500 sản phẩm của công nghệ hỗ trợ, công nghệ thích ứng và công nghệ trợ giúp.
    TechDis là Ủy ban hệ thống hợp tác thông tin (JISC) tài trợ dịch vụ và thay thế trang web của DISinHE trước đây. TechDis, Genesis 3, Innovation Way, York Science Park, Heslington, York YO10 5DQ
    email: helpdesk@techdis.ac.uk

     

    Tiresias website: www.tiresias.org
    Nguồn thông tin cho các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực khiếm thị. Phần chủ yếu trên trang web thông tin danh bạ kỹ thuật (kèm cả giá cả) của hơn 1400 thiết bị hỗ trợ hiện có, có cả liên kết đến các nhà cung ứng. Các khu vực khác cung cấp danh bạ của các tổ chức quốc tế, chương trình dự án đang thực hiện, nguồn quỹ cho nghiên cứu và danh bạ báo tạp chí dành cho người khiếm thị.

     

    VISTEL. (1998). Hướng dẫn thiết kế trang màn hình và âm thanh trên web để giúp người khiếm thị truy cập được. (biên tập John Gill), RNIB cho  VISTEL. (cũng có trên: www.rnib.org.uk/wedo/research/sru/sruhome.htm). Tư vấn cho những người gặp khó khăn trong việc thiết kế giao diện màn hình và âm thành cho người mù. Những điểm chính trong các yếu tố thiết kế sẽ cải thiện việc sử dụng cho người mù. Vistel là một dự án EC Telematics (Bộ phận người cao tuổi và khuyết tật).


    Back to Chapter index
    17.5. Phương tiện thông tin không rào cản

    Phần này bao gồm mục lục danh mục các nhà xuất bản tài liệu thay thế và cơ quan quan phát hành phân phối cùng với các hướng dẫn chuyển dạng.

     

    Dịch vụ thông tin Camden. (2001).
    danh bạ nhà xuất bản tờ rời. Ấn bản lần thứ 13.
    Danh bạ có hơn 360 nhà cung cấp tài liệu dạng rời. tài liệu về quyền của người khuyết tật, nhà cửa, tư vấn khách hàng, quyền lợi xã hội, tiền bạc, luật pháp và sức khỏe.
    Sắp xếp theo thứ tự chữ cái theo chủ đề và chỉ mục ngôn ngữ cộng đồng. Chi tiết về các tổ chức xuất bản ấn phẩm dạng thay thế (Braille, chữ lớn và băng) và cung cấp cả địa chỉ trang web và email.  (Dịch vụ thông tin Camden cũng điều hành tổ chức tờ rời Frills– dịch vụ đăng ký hàng tháng thông tin về tài liệu mới, ấn bản mới và tờ rời, và cũng tư vấn giúp đỡ cách tổ chức vốn tài liệu tờ rời).
    Liên lạc: Frills Leaflet Service, Camden Information Services,
    Crowndale Centre, 218 Eversholt Street, London. NW1 1BD
    Tel: 020 7911 1656 Fax: 020 7911 1566

     

    Confederation of Transcribed Information Services (COTIS). www.cotis.org.uk
    Hướng dẫn (Một tập hướng dẫn sản xuất băng).

    Kỹ thuật thu âm: Thủ thuật lắp đặt và sử dụng thiết bị.

    Trình bày: Thủ thuật đọc văn bản.

    Kỹ năng đọc: Thủ thuật tăng âm cho giọng đọc thu trên băng.

    Phát hành: Thủ thuật phát hành sản phẩm.

    Đọc tài liệu máy tính: đọc tài liệu về máy tính.

    Xử lý bảng biểu, đồ họa, biểu đồ v.v.: Thủ thuật trình bày tài liệu hình ảnh phức tạp.
    Dán nhãn và đóng gói băng cassette: Thủ thuật về việc dán nhãn và đóng gói băng cassette cho người sử dụng và thư viện.

     

    Liên hiệp dịch vụ chuyển dạng thông tin (COTIS). Huấn luyện đọc: hợp tác với Edward Kelsey, “Joe Grundy” của Archers và thông thạo xử lý âm thanh, về bí quyết làm sao để thu âm hay. Băng hướng dẫn 70-phút và bộ sách hướng dẫn đọc thông tin trên băng.

     

    Craddock, Peter, editor. (2000). Thư viện và báo nói. Phụ trương đặc biệt STVnews. STVnews, 35 Winter 2000 pp.45-63.

     

    Frith, Jackie and Home, Sarah. (2001). Chữ Braille và thư viện. Phụ trương đặc biệt STVnews. STVnews, 39 Winter 2001 pp.48-63.

     

    Gregory, Wendy. (1996). Cẩm nang khả năng thông tin: làm thông tin có thể truy cập theo hứơng dẫn của DDA. Văn phòng thông tin trung ương, HMS0. Hướng dẫn thực hành toàn diện.

     

    Thư viện Quốc hội Mỹ, Dịch vụ Thư viện quốc gia. Mục lục liên hợp quốc gia tài liệu chữ Braille và âm thanh.
    Có khỏang250,000 nhan đề tài liệu ở Mỹ, Canada, Úc, New Zealand và Anh (RNIB trừ sách băng 6 rãnh). Có thể tra cứu qua trang web trực tuuyến của TV quốc gia và còn có dạng vi phim và CD. RNIB được coi là cơ quan mượn liên thư viện của Anh.
    Liên hệ: Cán bộ thư viện nước ngòai. Dịch vụ mạng lưới, Dịch vụ thư viện quốc gia cho người mù và khuyết tật, Thư viện Quốc hội Mỹ,
    1291 Taylor Street NW, Washington, DC 20542 USA.
    website: www.loc.gov/nls/web-blnd

     

    McLachlan, Neil. (1997). Hội báo nói Anh quốc: truy cập báo và tạp chí của người khiếm thị. www.ariadne.ac.uk/issue10/tnauk
    Mô tả công tác và sản phẩm điện tử của Hội báo nói Anh quốc (TNAUK).

     

    Thư viện quốc gia của người mù. (1999). Đọc bằng cách sờ vào tài liệu: làm thế nào để bắt đầu. Thông tin và tư vấn về các tờ rời nói về chữ Braille và Moon và hướng dẫn cách học, đọc và viết những dạng này. Hợp tác xuất bản với RNIB để hỗ trợ Ngày hội đọc đặc biệt toàn quốc.

     

    Thu âm cho người mù và chứng loạn chữ.
    Tổ chức của Mỹ có hơn 75,000 tài liệu học và ở dạng băng âm thanh. Liên lạc: RFBD, 20 Roszel Road, Princeton, NJ 08540 USA.
    Tel: (00) 1 800 221 4792 Fax: (00) 1 609 987 8116
    email: custserv@rfbd.org website www.rfbd.org

     

    RNIB. Sách truy cập.
    Sách dạng điện tử (3.5 disk) có các tính năng đọc màn hình và hệ thống tổng hợp giọng đọc. Cũng có dạng chữ lớn (từ cỡ 16pt trở lên). (Mẫu có trên trang web của RNIB).

     

    RNIB. Chương trình mua bán và mượn bằng hình cho độc giả của RNIB. Băng hình mượn có thể mua bán khi so sánh giữa chi phí mượn và giá bán. Mục lục bằng các dạng Braille, chữ lớn, băng cassette).

     

    RNIB. Chương trình mua sách băng, cho người khiếm thị qua RNIB.

     

    RNIB. Băng âm nhạc hay các vở hát. Trang thông tin dạng chữ lớn. Chữ Braille hay băng cassette.

     

    RNIB. Lướt nhanh. Xuất bản hàng tháng thông báo vốn tài liệu của các nhà cung cấp tài liệu nơi nào mà bán hay cho mượn hoặc cả hai. Có cả tài liệu của Calibre, NLB, RNIB, Báo chữ nổi Xcốt-len. Cũng có tài liệu chữ lớn và sách nói của Chivers, Ulverscroft, và Isis Audio.

     

    RNIB. Tin tức dành cho bạn. Hàng qúy đánh giá các lần ra băng thông tin của các tổ chức công cộng, tư nhân và tình nguyện. Chia ra thành nhiều chủ đề: kinh doanh, sức khỏe, nhà ở, v.v. Mô tả vắn tắt nội dung, địa chỉ liên lạc và số điện thọai. Ấn phẩm phát miễn phí, bằng chữ Braille, băng, đĩa hay in ấn.

     

    RNIB. Spotlight. Danh mục chú giải phát hành hàng tháng các tài liệu thay thế cho người khiếm thị. Có nhan đề mới từ khu vực kinh doanh và tình nguyện: NLB, Báo Braille Xcốtlen, Calibre, RNIB, Chivers,
    Ulverscroft và Isis. Liệt kê đủ các loại hình tài liệu thay thế.

     

    RNIB. (1997). Truy cập. Mục lục các danh mục dịch vụ và sản phẩm cho người vừa mù vừa điếc. Có thông tin về ngày lễ, giải trí, lợi ích và dịch vụ chăm sóc hỗ trợ. Tài liệu chữ lớn, chữ Braille, băng hay đĩa.

     

    RNIB. (1999). Để đọc rõ hơn. Tư vấn cho các nhà làm sách thiếu nhi và thiết kế sách về cách thức làm sách rõ và dễ đọc cho trẻ có vấn đề nghiêm trọng về thị lực. Các đặc điểm thiết kế như độ tương phản màu sắc, cỡ chữ và tranh minh họa. Được Vụ giáo dục và việc làm bảo hộ và cho Hội nhà xuất bản tài trợ.

     

    RNIB. (2001). Thông tin đọc được. Hướng dẫn các nhà cung cấp thông tin phương pháp làm cho thông tin truy cập được. Tư vấn giúp họ theo đúng các yêu cầu của DDA.

     

    Sacre, James, biên tập. (2000). Chữ lớn. Phụ trương đặc biệt STVnews. STVnews, 33 Summer 2001 pp.32-46.
    Làm rõ xu hướng hiện nay cũng như các vấn đề và đánh giá sự quan trọng của việc cung cấp tài liệu chữ lớn trong các thư viện.

     

    Speaking volumes (Trung tâm người mù ở Bắc Ai - len).
    Dự án hợp tác của 5 hội đồng thư viện và giáo dục làm chữ viết Ailen chuyển thành dạng băng phục vụ cho người khiếm thị ở các thư viện công cộng. Các nghệ sĩ ở đó được mời để tham gia đọc. Deane Houston, Chief Executive, Blind Centre, 126 Bloomfield Avenue, Belfast BT5 5AE
    Tel: 028 9050 0999 Fax: 028 9050 0999
    email: blindcentre@northernirelandhq.freeserve.co.uk

     

    Hội báo nói Anh quốc. (1996). Thực hành tốt để làm báo nói.
    Hướng dẫn việc thành lập, quản lý và yêu cầu tổ chức của một tờ báo nói địa phương. Nhưng nhiều nội dung rất ích cho các thư viện và các nhà cung ứng dịch vụ khác để sản xuất băng từ cũng như các loại sản phẩm khác. Cũng có kế hoạch và các đặc trưng kỹ thuật cho một phòng thu âm.

     

    Hội báo nói Anh quốc. (hàng năm). Hướng dẫn dịch vụ cung cấp băng cho người mù và khuyết tật. Danh bạ các báo và tạp chí Anh quốc và các nhà sản xuất. Có cả danh mục các thư viện lưu trữ xuất bản phẩm TNAUK.

     

    Công ty TNHH báo nói (TNEL).
    Mục đích kinh doanh của TNAUK là tạo ra nguồn quỹ cung cấp cho hoạt động các tổ chức từ thiện trong nước. Nhưng nó cũng tồn tại để hướng xa hơn mục đích của TNAUK là để tạo ra một thị trường xuất bản phẩm thay thế có thực, bằng không thì có thể sẽ không tồn tại. Sản phẩm chính là chuyển dạng băng cassette cho thông tin về khách hàng và cộng đồng của các tổ chức phát ngôn khác kể cả cơ quan thông tin, công cộng, hay kinh doanh hay người buôn bán lẻ. Những xuất bản phẩm được phân phát miễn phí hay có thể tính tiền cho người khiếm thị thông qua mạng lưới báo nói địa phương, thư viện và các cơ quan tổ chức địa phương khác.
    Liên hệ: Talking Newspaper Association UK, National Recording Centre,
    10 Browning Road, Heathfield, E. Sussex TN21 8DB. Tel: 01435 866102 Fax: 01435 865422 email: info@tnauk.org.uk website: www.tnauk.org.uk

     

    TNAUK. Tntalk. Danh mục địa chỉ liên lạc những người và đơn vị cung cấp báo nói. Chủ trì là TNAUK (Hội báo nói Anh quốc). Liên hệ đăng ký: http://groups.yahoo.com/group/TNTALK


    Back to Chapter index
    17.6. Giới thiệu thư viện điển hình

    Khi phát triển các dịch vụ thư viện, cách thực hành chung nhất là các thư viện nên tham khảo kinh nghiệm và kiến thức của các thư viện khác. Có giá trị cụ thể trong hoạt động phục vụ người khiếm thị và các thư viện ở Anh thực hành tốt tổng kết lại được nhiều bài học thực tế  từ mô hình thực hành thư viện điển hình  mặc dù không phải là tất cả các thư viện đều làm tốt ở mọi khía cạnh được yêu cầu.

     

    Phần này rút ra những thực hành tốt nhất mà các thư viện hiện có. Một bảng đánh giá ngắn gọn về các trang thiết bị, các loại dịch vụ hiệu quả và toàn diện và số thư viện được giới thiệu có những thế mạnh riêng khác nhau. Không thể bao quát hết thấu đáo dịch vụ có mọi nơi và cũng xin các thư viện khác vui lòng đề nghị bổ sung để đưa thông tin thêm giới thiệu những địa chỉ mới. Phiên bản web của cẩm nang này có mục bản tin và ban biên soạn rất vui lòng đón nhận thông tin đóng góp bổ sung của các quý vị.


    Back to Chapter index
    17.6.1. Thư viện trường đại học

    Là một bộ phận của các cơ quan giáo dục đại học, việc hỗ trợ cho sinh viên và nhân viên khiếm thị trong thư viện trường đại học thường được quản lý khác với thư viện công cộng. Thư viện sẽ hình thành một phần nào trong chính sách chung hỗ trợ người khuyết tật để tạo ra môi trường học tập công bằng. Một số dịch vụ liên quan đến việc sử dụng thư viện không nhất thiết nằm trong quyền điều hành của riêng thư viện.

     

    Nhiều viện giáo dục đại học quan tâm đến những điều khoản mà Hội đồng Quỹ giáo dục đại học (HEFC) đề cập về những điều kiện tối thiểu cần có cho sinh viên khuyết tật (HEFC, 1999). Trong đó có tuyên bố chính sách, dịch vụ hỗ trợ và chiến lược phục vụ cho đối tượng sinh viên này. Trong đó có cả hàng loạt các nhu cầu cần phải đưa ra như: chính sách quản trị, định hướng và tư vấn, vấn đề truy cập sử dụng dịch vụ. Được chuyển sang lĩnh vực dịch vụ của thư viện, có thể là:

     

    a)  tổ chức đội ngũ người dạy kèm và điều phối nhân sự dạy kèm;
    b)  bài giảng và bài tập của dạy kèm ở dạng thay thế;
    c)  tư vấn về kỹ thuật học nào thích hơn;
    d)  hướng dẫn giảng dạy cho giảng viên về nhu cầu của sinh viên khiếm thị đặc biệt là hướng dẫn học và danh mục đọc, làm cho chúng ở dạng đọc được và chuẩn bị khoảng thời gian cần thiết để chờ dịch vụ chuyển dạng xử lý;
    e)  hỗ trợ kiểm tra mục lục, định vị và tra cứu tài liệu trên kệ, hay sao chụp tài liệu;
    f)  tập huấn nhận thức về người khuyết tật cho nhân viên thư viện kể cả việc đọc chữ Braille;
    g)  chuyển dạng tài liệu thành nhiều hình thức: Braille, chữ lớn, băng tiếng, biểu đồ dạng nổi, đĩa máy tính;
    h)  chuẩn bị người đọc trực tiếp;
    i)  cung cấp thiết bị đọc – máy quét có đầu ra là giọng nói và hệ thống phóng to văn bản;
    j)  cung cấp máy trạm có cài các chương trình công nghệ hỗ trợ
     để truy cập mục lục thư viện;
    k)  hình thức truy cập vào mạng lưới trường đại học.


    Back to Chapter index
    17.6.1.1. Trường dạy nghề RNIB, Loughborough

    Đây là trường dành riêng cho học viên mù và khiếm thị có nhiều khoá học dành cho người nghỉ học để học lại tiếp lên cao. Trường cộng tác với một trường đại học hòa nhập đó là đại học, Loughborough; nó cũng chia một giảng đường với Đại học Loughborough. Được coi là thực hành tốt nhất, là một trường chuyên biệt, Loughborough có tiêu chuẩn riêng biệt và theo dõi các thực hành của các trường khác để thi đua nhau làm tốt hơn.

     

    Hỗ trợ cho sinh viên: chương trình giới thiệu, chuơng trình dạy kèm, tập huấn sử dụng máy tính 1-1, dịch vụ hỗ trợ người khiếm thị chung.

     

    Luôn chú trọng đến việc ứng dụng công nghệ thông tin, tập huấn và cập nhật công nghệ tiên tiến. Sinh viên luôn được hướng vào việc sử dụng máy tính phóng to ký tự, dùng máy đọc màn hình hay chữ Braille cùng với các thiết bị để ghi bài và sử dụng tài liệu in khác. Sinh viên cũng có thể mua máy tính xách tay, máy đọc để dùng bên ngoài lớp học.

     

    Trường cũng có một đội chuyển dạng sản xuất các tài liệu học tập ở dạng được thích dùng. Dịch vụ cũng cung cấp bài kiểm tra hay đề cương bài giảng kèm với bản in thường. Bài ghi chép trên lớp cũng có thể nhận chuyển dạng. Trung tâm học liệu cũng được diễn tả như “khu vực học tập tiện ích” để độc lập nghiên cứu và phát triển thêm một số kỹ năng ngoài giờ học. Nó bao gồm cả việc truy cập máy tính nối CCTV, máy ghi băng, máy quét, CD Rom, Internet và một nhan đề báo nói. Tài liệu chuyển dạng có thể mượn tại Trung tâm tài liệu. Thêm nữa, Trung tâm có dịch vụ phục vụ đọc cho cá nhân và nhóm tình nguyện viên thu băng bài giảng


    Back to Chapter index
    17.6.1.2. Trường Đại học Lancashire (UCLAN)

    Xét về nhiều phương diện, thư viện của UCLAN nhiều năm qua là trung tâm hỗ trợ cho sinh viên và nhân viên khiếm thị. Là trung tâm hỗ trợ cho đối tượng đặc biệt này tại trường. Nhiều hỗ trợ được do Phòng Học liệu đặc biệt (SLRU) đặt tại tầng trệt của trường. Dịch vụ gồm có:

     

    a) chuyển dạng tài liệu thư viện thành một dạng thích hợp (Braille, chữ lớn, biểu đồ nổi và đĩa máy tính);
    b) sắp xếp tài liệu để ghi thành băng;
    c) tổ chức nhóm tình nguyện đọc cho cá nhân;
    d) phục vụ thiết bị đọc (máy quét mà đầu ra là giọng đọc) và hệ thống phóng to chữ;
    e) cung cấp máy trạm tra cứu mục lục và mạng máy tính với đầu ra là tiếng nói hay màn hình lớn


    Back to Chapter index
    17.6.1.3. Đại học Leeds

    Đặc trưng của Leeds là việc phối hợp lâu năm với Dịch vụ chuyển dạng của RNIB để phục vụ chuyển dạng tài liệu của thư viện thành dạng chữ Braille, chữ lớn hay băng cassette. Trung tâm cũng hình thành một phần dây chuyền trong dịch vụ chuyển dạng trong khu vực của RNIB cung cấp dịch vụ chuyển dạng trong nước và khu vực để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và người khiếm thị nói chung. 


    Back to Chapter index
    17.6.1.4. Đại học Sunderland

    Trường này cam kết cải thiện tăng cường việc truy cập cho người khuyết tật và người gặp khó khăn trong việc học. Có ban tư vấn khuyết tật báo cáo trực tiếp với Ban lãnh đạo nhà trường để được chấp thuận quyết định và hợp tác thực hiện. Ban làm việc cho người khuyết tật chú trọng nhiều đến xây dựng chính sách thảo luận báo cáo cho Phòng Cơ hội học tập bình đẳng của trường. Tạo ra vai trò quan trọng cho trường – tổ chức hỗ trợ dạy kèm và có ban đại diện cho người khuyết tật trong thư viện và một số các dịch vụ chính khác.

     

    Cải thiện việc truy cập cho người khuyết tật là ưu tiên chính trong dịch vụ thông tin thư viện. Tuyên bố của thư viện, hướng dẫn sử dụng nguồn lực và trang web nêu rõ cơ chế hỗ trợ. Thành viên quản lý cao cấp có trách nhiệm cụ thể về dịch vụ của người khuyết tật (phải dành ra một ngày trong tuần để làm việc này) và phân công người chịu trách nhiệm cho từng khu vực. Nhận thức về người khuyết tật là phần tổng hòa chung với chương trình chăm sóc khách hàng cho toàn thể nhân viên và giao tiếp với người khiếm thị kể cả bằng ký tự của người mù. Công nghệ hỗ trợ (phóng to và làm ra âm thanh) được ưu tiên phục vụ cho người khuyết tật. Cả hai loại ấn phẩm đều được chú ý đến các yếu tố đó kể cả dạng web hay in ấn. Có chương trình đem sách đến các thư viện truy cập được, hay gửi về nhà hay mượn liên thư viện và chuyển dạng thành chữ Braille hay phóng to, giới thiệu hay đọc cho từng cá nhân. Cải thiện tòa nhà xây dựng như cửa cầu thang, đánh dấu cửa, ánh sáng và đổi chỉnh màu.


    Back to Chapter index
    17.6.1.5. Đại học Swansea

    Swansea cho biết đã đầu tư đáng kể vào việc hỗ trợ dịch vụ cho sinh viên khiếm thị. Như đại học Leeds có Trung tâm ghi âm cho người mù (RFB) với ba phòng thu tiêu chuẩn cao có các máy thu âm và micro chuyên nghiệp. Giống với việc sản xuất băng, Trung tâm cũng có dịch vụ tạo chữ Braille và chữ lớn. Tài liệu có thể làm bằng chữ của xứ Wales và hầu hết là theo một số ngôn ngữ chính của Châu Âu. Thêm vào đó, có trung tâm học đặc biệt cho người khiếm thị với các máy quét văn bản, chế bản chữ Braille và máy đọc sách nói.

     

    Thư viện chính có máy đọc CCTV, sử dụng máy tính có đầu đọc CD Rom và máy tính đặc biệt cho người khuyết tật/ nhu cầu đặc biệt. Có thể cho mượn máy thu âm ghi bài nếu sinh viên có yêu cầu. Cán bộ quản lý thư viện có trách nhiệm để hỗ trợ cho đối tượng này.

     

    Các tiện nghi sinh hoạt cho sinh viên đặc biệt được thiết kế cho phù hợp với họ và có chỗ ở cho cả những chú chó dẫn đường của họ. Giảng đường được thiết kế có những đường dẫn nổi và tập huấn đi lại nếu sinh viên cần.


    Back to Chapter index
    17.6.2. Thư viện công cộng

    So với khu vực đại học, thư viện công cộng tự lập hơn cho việc lập kế hoạch phục vụ cho người khiếm thị mặc dù thường thì theo tiêu chí chung của chính sách của địa phương là tạo cơ hội bình đẳng cho mọi công dân.

     

    Cuộc nghiên cứu chỉ ra là nhiều quản lý thư viện thừa nhận là nhu cầu của đối tượng đặc biệt này rất đa dạng (Craddock, 1996), (Kinnell et al, 2000). Các dịch vụ như trung tâm CNTT, chuyển dạng tài liệu, dịch vụ cho mượn tài liệu chữ lớn, băng và dịch vụ gửi sách nói qua đường bưu điện. Có một số thư viện được công nhận là có mô hình hoạt động rất tốt. Những thư viện sau được coi là có những nét đặc trưng và chuẩn dịch vụ tốt. Tuy nhiên cũng thấy rõ là nhu cầu người khiếm thị trong chương trình xây dựng thư viện đang ngày càng phát triển rộng rãi hơn, thúc đẩy việc ứng dụng thực hiện các chính sách hoà nhập xã hội và các điều kiện mà DDA đề ra. Cụ thể là việc phát triển CNTTVT được định hướng bởi một mạng lưới và CNTT ngày càng cải thiện tốt hơn việc truy cập bình đẳng thông tin cho tất cả. Có rất nhiều ví dụ để thấy toàn cảnh việc phân phối dịch vụ ở Bắc Ailen được trình bày ở mục 17.6.2.7.


    Back to Chapter index
    17.6.2.1. Thư viện Quận Essex

    Dịch vụ thư viện Essex cho người khiếm thị được đánh giá là mẫu điển hình cho thư viện quận trong nhiều năm qua đã cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng theo cách chủ động và có trách nhiệm. Trong đó có cả dịch vụ gửi băng cassette – cho 2,000 người sử dụng ở Essex, Southend và Thurrock. Cũng có dịch vụ sử dụng miễn phí băng sách, băng hình có thuyết minh hình ảnh và cả CD cho người khiếm thị và có khuyết tật đọc ở các thư viện.

     

    Cải thiện việc truy cập vào CNTTVT bằng cách cài các chương trình phóng to màn hình. Thư viện cũng đi đầu trong việc hướng dẫn và lập chuẩn cho việc cung cấp các tài liệu thay thế trong khu cộng đồng quận nói chung.

     

    Những chương trình gần đây có cả việc lôi kéo người mù và các hoạt động thảo luận nói chuyện sách, như chương trình đọc sách chữ lớn, bản tin liên kết khu dân cư bằng chữ lớn, thu băng hay chia nhóm đọc.


    Back to Chapter index
    17.6.2.2. Thư viện Gateshead

    Chú ý là dịch vụ AIRS (Sử dụng dịch vụ thông tin thư viện) của thư viện này đã có từ nhiều năm nay. Mục đích của AIRS là cung cấp đủ mọi dạng thông tin truy cập được. Có cả nhật báo nói do chính nhân viên tòa soạn thực hiện, sản xuất băng sách nói cho thiếu nhi, dịch vụ chuyển dạng cho việc cung cấp thông tin cá nhân theo dạng thay thế, thiết bị sao chụp nhanh và thu băng theo yêu cầu khách hàng. Như là trung tâm chuyển dạng tập trung, Gateshead được coi là chuyên gia trong lĩnh vực này. Cơ quan này cũng tư vấn và tham vấn về các khía cạnh trong việc chuyển dạng tài liệu kể cả chuyện viết kịch bản, biên tập, thu băng và phân phối.

     

    Thế mạnh đặc biệt của dịch vụ là thuê cả người khuyết tật làm việc, so với lúc mới hình thành số người này đã lên hơn 50%. Kết quả này đã giúp làm rõ thêm chính sách cho người khiếm thị và khuyết tật và nhu cầu của độc giả thư viện.


    Back to Chapter index
    17.6.2.3. Thư viện Quận Gloucestershire

    Là một địa chỉ có những thực hành tốt, Gloucestershire có kinh nghiệm đánh giá việc phục vụ và thành lập dịch vụ sách nói trong khuôn khổ của một dự án nghiên cứu. Bao gồm vấn đề sắp xếp với Phòng dịch vụ xã hội về vấn đề trách nhiệm và tạo vốn để sử dụng các dịch vụ toàn quốc đặc biệt là dịch vụ sách nói của RNIB. Nó cũng bao gồm thực hành tư vấn cho NKT và định ra chính sách chung cho việc phát triển dịch vụ trong tòan quận. Yếu tố chính của dịch vụ mới là việc phát hành dịch vụ bưu điện của thư viện kết hợp nguồn lực băng sách nói của mình với nguồn băng 6 rãnh của RNIB chuyển giao. Tất cả những dịch vụ này hình thành cơ bản dịch vụ thư viện truy cập được rộng rãi tại địa phương ở Gloucestershire.

     

    Về phương diện nghiên cứu, chủ trương này được định ra để khám phá khả năng kết hợp nguồn lực địa phương và trên tòan quốc làm mô hình cho các thư viện khác làm theo. Kinh nghiệm để làm chuyện này và đối phó với những yêu cầu cao cấp hơn theo nhu cầu người sử dụng và theo ghi nhận trong các đề tài nghiên cứu (Thư viện quận Gloucestershire, Dịch vụ mỹ thuật và bảo tàng, 1998).


    Back to Chapter index
    17.6.2.4. Thư viện Islington

    Thư viện này đặc biệt quan tâm đến và khai thác khả năng sử dụng CNTT để mở rộng điểm truy cập của người khiếm thị.

     

    Ví dụ truy cập mục lục qua màn hình được phóng lớn và nghe đọc mục lục từ các máy trạm ở thư viện trung tâm và ba thư viện nhánh hay dịch vụ thư viện tại nhà bằng máy tính xách tay. Thư viện trung tâm cũng có thiết bị quét và nhận dạng chữ để chuyển dạng in thành dạng thay thế cùng với các thiết bị máy tính để hỗ trợ tập huấn người sử dụng.

     

    Gần đây hơn là dịch vụ Internet được giới thiệu. Đây là biện pháp thỏa hiệp dùng các trạm truy cập Internet tại thư viện tham khảo trung tâm có những công nghệ hỗ trợ cải tiến như phóng to văn bản hay phát âm. Hỗ trợ điện thoại trực tiếp khi sử dụng dịch vụ do các nhà chuyên gia CNTTVT dành cho người khiếm thị từ Ban tư vấn chuyên biệt. Islington cũng tham gia dự án thử nghiệm của TNAUK đánh giá việc sử dụng báo và tạp chí điện tử.


    Back to Chapter index
    17.6.2.5. Thư viện Manchester

    Là thư viện có bề dày lịch sử thành tích phục vụ người khiếm thị từ lâu. Đó là thư viện đầu tiên  cài bộ đọc Kurzweil và thành lập “đơn vị VI” của thư viện trung tâm và các thư viện vùng ngọai ô chú trọng đến phục vụ đối tượng này.

     

    Những cơ sở này có văn phòng riêng biệt và cung cấp công nghệ hỗ trợ và nhân viên phục vụ bạn đọc khiếm thị. Chú trọng vào việc phục vụ thông tin cho nhu cầu học tập và làm việc của họ. Thư viện cộng đồng được thiết kế để tạo ra nhiều dịch vụ giải trí và coi thư viện như là trung tâm phục hồi cho người già và những người vừa bị khiếm thị. Qua nhiều năm, Manchester đã đúc kết nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong lĩnh vực này. Luôn giữ được mối quan hệ giữa các nhân viên tâm huyết, độc giả và những người làm công tác xã hội. Nó cũng bắt nguồn từ chính sách để thực hành những kinh nghiệm. Manchester cũng là thành viên trong ban dự án Testlab truy cập vào mục lục với sự giúp đỡ của người tình nguyện trong suốt hai năm vừa qua.

    Bên cạnh những dịch vụ này, Manchester cũng phát báo và băng sách nói miễn phi.


    Back to Chapter index
    17.6.2.6. Trung tâm Tameside của người khiếm thị

    Trung tâm này là mô hình độc nhất của thư viện nhánh phục vụ trực tiếp cho người khiếm thị. Nó cũng phục vụ như là nguồn lực trung tâm cho các dịch vụ thư viện còn lại.

     

    Có nhiều dịch vụ chuyển dạng và cho mượn khác nhau được triển khai ở đây. Bao gồm:

    a) cho mượn vốn tài liệu chữ lớn, băng sách, băng nhạc cho người lớn và trẻ em và tạp chí in bằng chữ Braille và băng;
    b) nhiều thiết bị chuyển dạng và đọc kể cả dùng công nghệ cao hay bình thường như thiết bị trợ thị, máy tính điều chỉnh được, máy quét đầu ra là âm thanh, và máy in chữ Braille hay chữ lớn.

     

    Có một phòng cách âm dùng để thu băng.

    Trung tâm được độc giả khiếm thị khai thác nhiều, một phần là nhờ vào sự hợp tác với Hội người mù Tameside. Có dịch vụ xe buýt cho người khiếm thị và còn có trung tâm phục hồi tinh thần cho những người mới bị khiếm thị.


    Back to Chapter index
    17.6.2.7. Thư viện công cộng ở Bắc Ailen

    Khi xét về thực hành tốt nhất, thư viện ở Bắc Ailen có thời gian từng được coi là thư viện đi đầu trong việc nhận thức ra được nhu cầu sử dụng thư viện của người khiếm thị. Nhiều đặc điểm phục vụ thực hành tốt đã được thực hiện kể từ thập niên 70. Gồm có dịch vụ cho mượn thiết bị đọc, cam kết dịch vụ với nhà cung ứng quốc gia và cả phí đăng ký sử dụng các dịch vụ của địa phương. Cũng quan hệ tốt với các báo nói do các nhóm tình nguyện thực hiện sao chép nhiều bản và phân phối băng báo nói hàng tuần qua hệ thống tỉnh thành. Dự án ‘Speaking Volumes’ hợp tác với Trung tâm người mù của Bắc Ailen đang mở rộng phạm vi và khả năng truy cập vào các xuất bản của Ailen dưới dạng băng tiếng.

     

    Chương trình chính hiện nay là đang chuẩn bị sử dụng công nghệ hỗ trợ ở mạng lưới 124 thư viện công cộng với chính sách “truy cập được tất cả” và thể hiện mạnh mẽ  việc thực thi pháp luật theo pháp luật bình đẳng của Bắc Ailen và với các điều khỏan của DDA. Được Bộ Văn hóa, nghệ thuật và giải trí tài trợ như là một phần của chương trình phát triển CNTTVT, tất cả các thư viện trong chương trình sẽ phục vụ màn hình phóng lớn và sờ được, bàn phím cải tiến, hệ thống phát thanh, và hệ thống theo dõi để tiện việc chăm sóc những người khiếm thị lại có thêm những khuyết tật khác. Thư viện lớn hơn sẽ phải có máy đọc và in chữ Braille, và máy CCTV. Công nghệ đã được chọn theo sự tư vấn của RNIB để đảm bảo tính tương thích và đồng nhất và RNIB ký hợp đồng để tập huấn việc sử dụng các thiết bị đó.


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Commission of the European Communities. (1997-98). TESTLAB
    (Testing systems using telematics for library access for blind and visually handicapped readers). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv. htm

     

    Craddock, Peter. (1996). Project Libra: the provision and use of reading aids for visually impaired and other print handicapped people in UK public libraries. Library and Information Research Report 91. British Library.

     

    Gloucestershire County Library, Arts and Museums Service. (1998). The Gloucestershire VIP Project: library services for visually impaired people, an evaluation of a pilot project for Share the Vision, The Royal National Institute for the Blind and Gloucestershire County Library, Arts and Museums Service. Gloucestershire County Council, Library Arts and Museums. 1988.
    ISBN 1 899917241. 47pp.

     

    Higher Education Funding Council for England, Higher Education Funding Council for Wales. (1999). Guidance on base-level provision for disabled students in higher education institutions, HEFCE Report 99/04. www.hefce.ac.uk/pubs/hefce/1999/99_04.htm

     

    Adaptive technology – N.I. libraries project. Irish Library News 217, March 2002, p1.

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi, and Creaser, Claire. (2000). Public library services for visually impaired people: report to the Library and Information Commission. Loughborough University, Library and Information Statistics Unit (LISU).


    Back to Chapter index
     Thư viện Khoa Học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh