Written By Jo Heaton
Contents : Dịch vụ thư viện cho thiếu nhi
Skip to Navigation
7.1. Giới thiệu
7.2. Vấn đề quản lý
  7.2.1. Nhân sự
  7.2.2. Chính sách
7.3. Đánh giá nhu cầu
  7.3.1. Liên hệ
  7.3.2. Phương pháp
7.4. Hoạt động thúc đẩy và phát triển việc đọc sách
7.5. Câu lạc bộ hướng dẫn làm bài tập
7.6. Quảng bá dịch vụ
7.7. Thiết kế và trưng bày thư viện
7.8. Tập huấn nhân viên
7.9. Chính sách chọn tài liệu
  7.9.1. Điều kiện chọn lựa tài liệu
7.10. Bổ sung tài liệu
7.11. Chọn tài liệu cho trẻ khiếm thị
7.12. Xây dựng hình ảnh tích cực
7.13. Sách nổi
7.14. Sách khổ lớn
7.15. Băng truyện
7.16. Băng hình có thuyết minh hình ảnh
7.17. Sách chữ lớn
7.18. Tài liệu chữ Braille
7.19. Tài liệu hình thức đôi
7.20. Tài liệu chữ Moon
7.21. Hình thức điện tử
7.22. Thông tin cho phụ huynh
7.23. Nhà cung ứng và các địa chỉ cần thiết
7.24. Tài liệu tham khảo
7.25. Sách thiếu nhi

7.1. Giới thiệu

Tất cả thư viện công cộng cần đảm bảo là họ có kế hoạch phục vụ trẻ khiếm thị, thông qua thư viện địa phương và cả thư viện trường học. Luật pháp và tư vấn yêu cầu chương trình phục vụ không được phân biệt đối xử. Tất cả chiến lược dịch vụ, kể cả việc chọn tài liệu để mua, tổ chức, công nghệ thông tin, dịch vụ, huấn luyện nhân viên và quảng bá nên được chỉnh sửa dựa vào kết quả đánh giá nhu cầu và thảo luận với các em, phụ  huynh, người chăm sóc trẻ và nhà chuyên môn trong cộng đồng.

 

Theo khảo sát của RNIB xuất bản vào năm 1992 (Walker và nh. ng. khác), 56% trẻ em khiếm thị lại còn mang thêm khuyết tật khác và điều này cũng nên ghi nhớ khi lên kế hoạch và phân phối dịch vụ.  Một cuộc khảo sát mang tên “Chia sẻ tương lai” (RNIB, 2000) gần đây báo cáo về kinh nghiệm và nhu cầu của trẻ khiếm thị, đặc biệt liên quan đến vấn đề giáo dục, sức khỏe và giải trí. Trong báo cáo tóm tắt, có cả bảng phân tích kinh nghiệm đọc và sử dụng thư viện của các em. Nó cũng làm rõ nhu cầu của các em muốn tiếp cận nguồn lực thông tin rộng và chất lượng hơn.

 

Các thông tin khác như về dân số được đề cập ở chương 5, và phần 5.7 đề cập đến thiếu nhi. Phần 5.7.3 cho biết thông tin về các loại trường học của trẻ em khuyết tật. Quan trọng để thấy là có nhiều trẻ (chiếm 60%) đến các trường học hòa nhập, và vì thế chúng rất cần đến nhiều sự giúp đỡ và nguồn lực đặc biệt hỗ trợ.  


Back to Chapter index
7.2. Vấn đề quản lý

Mỗi nhà quản lý thư viện và thư viện trường học nên có kế hoạch nói rõ việc phục vụ trẻ khiếm thị nên được duy trì và cải thiện thế nào trong cơ quan tổ chức của mình.  Kể cả các bước cụ thể từ việc quảng bá, vốn tài liệu, tập huấn nhân viên, cung cấp CNTT và các dịch vụ / sự kiện có mục đích cụ thể và cả khoản chi phí để thực hiện các dịch vụ hội nhập cho các em khuyết tật.

 

Tổ chức dịch vụ thư viện trường nên kết hợp với khối thư viện công cộng để đảm bảo trẻ khiếm thị truy cập tốt vào nguồn lực phục vụ cho nhu cầu học của các em. Thêm vào đó, tổ chức phải chắc chắn là họ đã không bỏ sót trẻ khiếm thị  từ chuyện giao tiếp thường có trong nhà trường và cũng nên định hướng việc cung cấp sách ở dạng phù hợp nếu có thể (chuyện này không có nghĩa là thư viện cho các em khiếm thị chỉ có sách cỡ lớn).


Back to Chapter index
7.2.1. Nhân sự

Để đảm bảo dịch vụ thư viện có thể đáp ứng được nhu cầu cụ thể, trong tổ chức cần có một bộ phận riêng chịu trách nhiệm phục vụ trẻ khuyết tật. Đây có thể là một bộ phận phát triển dịch vụ cho trẻ khuyết tật hay là một bộ phận của phòng ban phục vụ cho trẻ có nhu cầu đặc biệt. Trong các thư viện lớn, cần có một đội ngũ gồm vài nhân viên ở nhiều lĩnh vực khác nhau như phụ trách vốn tài liệu, CNTT, và quảng bá dịch vụ, cùng làm việc chung với nhau. Tuy nhiên thư viện nên có một người chịu trách nhiệm cuối cùng để quyết định kế hoạch cho dịch vụ.

 

Người này nên có trách nhiệm cho:

a) phân tích, đánh giá thực trạng;

b) xác định mục đích và kế hoạch sắp tới;

c) phối hợp và tư vấn cho khách hàng;

d) tư vấn cho nhân viên về vấn đề phục vụ và nhu cầu của độc giả;

e) đối với nội bộ thư viện, thì sẽ là người đại diện cho nhu cầu của trẻ khiếm thị;

f) đối với bên ngoài, thì sẽ đứng ra đại diện cho thư viện;

g) tìm kiếm tài liệu;

h)tập huấn nhân viên;


Bộ phận này cũng nên khuyến khích tổ chức công tác tư vấn và mạng lưới trong cộng đồng địa phương bằng cách triển khai và hướng dẫn nghiệp vụ thực hành.


Back to Chapter index
7.2.2. Chính sách

Chương 3 của cẩm nang này đã trình bày về các đạo luật về chống phân biệt đối xử người khuyết tật và Đạo luật về người khuyết tật và nhu cầu giáo dục đặc biệt đã tác động đến việc cung cấp dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. Phần III của đạo luật đề cập cụ thể đến vấn đề trẻ em và phần IV trình bày yêu cầu đối với nhà tổ chức giáo dục. Phần 3.7.1 của cẩm nang này cho thấy cần có chính sách để điều chỉnh dịch vụ thực thi tốt các điều khỏan mà đạo luật đã nhắc đến.

 

Chính sách của tổ chức cũng chỉ định tính toán trước dịch vụ như dịch vụ trọn gói đáp ứng cho người khuyết tật. Đối tượng này nên được sử dụng các dịch vụ miễn phí. Mặc dù dưới đây là không phải là một danh mục đầy đủ, nhưng nó cũng giúp chỉ ra những thay đổi cần thực hiện trong chính sách để phục vụ trẻ em khuyết tật.

 

a) Thư viện nên bỏ qua các hình thức phí xử phạt khi bạn đọc làm hư sách. Một số trẻ không kiểm soát được nên không thể giữ sách tốt được như các bạn khác.
b) Thư viện không nên tính phí mượn về nhà các tài liệu băng truyện cassette đối với trẻ khiếm thị.

c) Thư viện nên xem xét trường hợp ngoại lệ khi quá hạn trả sách. Trẻ khuyết tật thường có rất nhiều cuộc hẹn với các nhà chuyên môn, các em không thể đến thư viện đều đặn như các trẻ khác.

d) Nếu thư viện in tài liệu trắng đen miễn phí thì cũng không nên tính phí khi in màu đối các em nhìn giấy in trắng đen không rõ.
e) Thư viện nên cho phép các em có thể sử dụng các ổ cắm  điện dùng cho máy tính xách tay để có thể truy cập thông tin tư liệu từ bên ngòai. Mặc dù máy tính xách tay ít nhất cũng có thể chạy bằng pin khỏang 3 tiếng nhưng thư viện cứ nên cung cấp sẵn nguồn điện để bất cứ khi nào các em cần dùng đến.


Back to Chapter index
7.3. Đánh giá nhu cầu

Một trong những thách thức lớn là tạo dịch vụ cho trẻ khiếm thị thì phải biết được nhu cầu của các em. Hồ sơ cư dân địa phương nên kèm cả thông tin về số trẻ khuyết tật, đối tượng nào, các trường hay bộ phận nào trong trường mà các em đang theo học. Thực hiện các cuộc khảo sát và nói chuyện với các em để biết được trẻ muốn gì, và hỏi ý kiến của các bậc phụ huynh, người chăm sóc trẻ, cán bộ thư viện và các nhà chuyên môn. 


Back to Chapter index
7.3.1. Liên hệ

Nên giữ liên lạc với với các em đang học trường biệt lập và trường hòa nhập. Quan trọng là cần giữ liên lạc với các nhà chuyên môn làm việc với trẻ khiếm thị. Cơ cấu dịch vụ lưu động được thay đổi tùy theo nhà quản lý, nhưng tất cả các bộ phận giáo dục đều có nhân viên chịu trách nhiệm hỗ trợ các học sinh khiếm thị. Cũng nên nối kết với gia đình nếu họ sẵn lòng thảo luận về yêu cầu của họ. Một số dịch vụ lưu động cũng có các nhóm hoạt động cụ thể.

 

Tổ chức dịch vụ thư viện trường học cũng nên liên lạc với dịch vụ giảng dạy lưu động và bất cứ trường hay bộ phận đặc biệt của trường trong địa phương.

 

Thư viện nên xin các tổ chức tình nguyện trong địa bàn tư vấn như các tổ chức quốc gia như Look, Portage và R.N.I.B có thể là những điểm khởi đầu để tìm ra nhu cầu của từng nhóm đối tượng.


Back to Chapter index
7.3.2. Phương pháp

Có nhiều cách để thu thập thông tin khác nhau, nên cân nhắc để chọn cách nào thích hợp nhất tùy vào từng hoàn cảnh.

 

Chọn một nhóm cụ thể có thể chứng minh được giá trị lớn. Tự các em có thể tham gia ngay từ đầu. Miễn là phải đảm bảo nhân viên diễn giải được nhu cầu của việc tìm hiểu thông tin và giúp bọn trẻ nhận thấy được vai trò quan trọng của chúng trong cộng đồng.

 

Việc tham quan các tổ chức tại địa phương và các trường học có thể có hai mục đích, đầu tiên là giúp nhân viên hiểu được phụ huynh và các em muốn gì, và thứ hai là họ có thể quảng cáo các dịch vụ hiện có trong thư viện. Đôi khi vấn đề không phải là do thư viện không có các dịch vụ đó mà là vì cha mẹ các em không biết các dịch vụ đó có tồn tại trong thư viện.

 

Khi lập kế hoạch tham quan, thư viện nên sắp xếp thăm viếng nhiều hơn một lần. Chuyện trò với nhau sẽ giúp làm phá tan khoảng cách xa lạ ban đầu và bất cứ chuyến thăm nào bằng xe thư viện lưu động hay xe cổ động luôn được mọi người chào đón.

 

Nhân viên thư viện nên tính đến chuyện văn hóa ứng xử khi họ đến thăm gia đình hay các nhóm. Trong quyển “Birmingham: phát triển hiệu quả dịch vụ viếng thăm các gia đình Châu Á có trẻ khiếm thị trước tuổi đến trường,”

Chris Fryer (Fryer, 2000) có trình bày một số phép lịch sự giao tiếp cơ bản để thích nghi với các cộng đồng Châu Á.

 

Các cuộc tham khảo ý kiến chính thức như dùng bảng hỏi đáp thì định rõ mục tiêu và dễ định lượng hơn, nhưng nhân viên cần thận trọng hơn cả khi tiếp xúc với người lớn. Nếu nhân viên đang nói chuyện với trẻ thì có nghĩa là họ đang giao tiếp với người thiểu số, trẻ em và phụ huynh và những người này được bảo hộ dưới Đạo luật Bảo vệ dữ liệu (Great Britain. Đạo luật, 1998).  Quyển “Cẩm nang phục vụ trẻ em” (CIPFA, 1997) hướng dẫn rất rõ về cách thực hiện một cuộc phỏng vấn hay đặt câu hỏi cho trẻ. Việc thiết kế các câu hỏi cũng rất quan trọng và có thể kèm theo các trò chơi hay các hoạt động khuyến khích trẻ trả lời.

Bất kỳ cuộc khảo sát hay tham khảo ý kiến trên bình diện tổng quan thì nên có phần ý kiến của trẻ khuyết tật.


Back to Chapter index
7.4. Hoạt động thúc đẩy và phát triển việc đọc sách

Cần nắm được nhu cầu của trẻ khuyết tật thì mới tổ chức được các hoạt động này có thể hòa nhập như mình mong muốn. Khi lập kế hoạch nhân viên cần chú ý:

 

a) khi đọc truyện thì cần giải thích thêm các hình minh họa;

 

b) trẻ cảm thấy tự do thoải mái nói cho nhân viên là các em muốn ngồi chỗ nào để có thể nghe rõ nhất và cảm nhận trọn vẹn nhất từ người kể chuyện;


c) trẻ tham gia phần kể chuyện cần có thêm các  trang thiết bị phụ vào để các em có thể nhập vào chương trình một cách thỏa thích. Nghĩa là chúng cũng cầm trong tay quyển sách mà người kể đang sử dụng trong chương trình;


d) cũng nên cho trẻ các bản in chữ lớn, lời hướng dẫn hoạt động. v.v.;


e) sử dụng các vật trang trí minh họa có thể làm tăng thêm tính hấp dẫn cho giờ kể chuyện nếu trẻ khiếm thị được cầm trong tay các vật thể đó. Mặc dù không có một nguồn nào cung cấp đầy đủ mọi thứ, các nhân vật trong sách đồ chơi nhồi bông thường có thể tìm thấy trong các câu lạc bộ sách và tại các nhà cung ứng Peters và L.F.C. L.F.C cũng có loại rối phát ra âm thanh có thể sử dụng minh họa trong giờ kể chuyện;

 

f) bất cứ dịch vụ nào cũng nên nhớ đến nhu cầu của trẻ khiếm thị, kể cả các hình nổi hay sự hỗ trợ nếu được yêu cầu;


g) bất cứ cuộc thử nghiệm hay thi cử nào cũng nên có phương tiện đọc để thay thế;

 

h) hoạt động vận động đọc sách như Bookstart nên được điều chỉnh để có thể thỏa mãn được nhu cầu của trẻ và phụ huynh trẻ khiếm thị. Ví dụ, sẽ hiệu quả hơn nếu có sách nổi hay thông tin được ghi băng cung cấp cho họ. Cần hỏi ý kiến các tổ chức chăm sóc sức khỏe để đảm bảo là thông tin và sách phù hợp với người sử dụng.


Back to Chapter index
7.5. Câu lạc bộ hướng dẫn làm bài tập

'Qui định thực hành của thư viện công cộng' (Botten và nh. ng. khác, 1999) đề cập đến việc hỗ trợ học tập thì thực hiện công bằng với trẻ khiếm thị. Bất cứ cuộc tham khảo ý kiến nào như về nhu cầu của câu lạc bộ hỗ trợ làm bài tập, khi nào nên tổ chức, tài liệu và trang thiết bị nào nên được cung cấp cũng phải hỏi qua ý kiến của các em khiếm thị. Cũng nên có danh sách hộp thư của các trường giáo dục biệt lập hay bộ phận đăc biệt để tham khảo ý kiến và vận động họ tham gia chương trình.  


Back to Chapter index
7.6. Quảng bá dịch vụ

Chương 15 bàn về vấn đề quảng bá một cách chung nhất nhưng một trong những cách hiệu quả nhất để thúc đẩy dịch vụ cho trẻ là sử dụng các tổ chức trung gian. Nên tham khảo phần “Đánh giá nhu cầu” (7.3) và liên lạc trực tiếp với thư viện địa phương hơn là chỉ lo in tài liệu quảng cáo.


Back to Chapter index
7.7. Thiết kế và trưng bày thư viện

Chương 12 nói về các dịch vụ được thiết kế đế đáp ứng nhu cầu chung của người khiếm thị nhưng cần có thêm yêu cầu riêng dành cho đối tượng nhỏ.

Cần chú ý đến một số chướng ngại vật đối với trẻ khiếm thị và vị trí của các vật như như ghế bành lớn hay các hộp đựng đồ chơi. Các góc cạnh nhọn cần phải tránh, nhất là các thùng đựng đồ chơi.

 

Trưng bày có thể là cách hiệu quả tạo không khí thân thiện cho thư viện và quan trọng là khu vực trưng bày vừa đủ thấp để các em có thể chạm vào. Trưng bày các vật hình nổi nên chú ý yếu tố an toàn, chẳng hạn như các kim gút!

Tổ chức các giờ kể chuyện hay sinh hoạt nên tránh những khu vực ồn ào.

Mặc dù nên chú trọng yếu tố hòa nhập nhưng cũng rất quan trọng khi cho trẻ tìm được những tài liệu chúng cần; sách chữ lớn, và sách in cần được xếp gần khu vực để băng đĩa.

 

Nếu khu vực thiếu nhi cách xa khu vực người lớn thì phải trang bị thêm các thiết bị khác như máy CCTV.


Back to Chapter index
7.8. Tập huấn nhân viên

Việc này nên được thực hiện thường xuyên và nhân viên cần luôn tự tin là họ có thể sử dụng trang thiết bị và chọn tài liệu thích hợp cho trẻ. Cán bộ của sở giáo dục hay trong các tổ chức tình nguyện thường sẵn lòng giúp đỡ việc tập huấn. REACH – Trung tâm tư vấn quốc gia cho trẻ có khuyết tật đọc cũng thường cho các khóa đào tạo tại chức dạy theo chuyên đề để bồi dưỡng kiến thức tổng quan hay hướng phục vụ vào người gặp khó khăn trong việc học tập. Nhu cầu tập huấn cần cụ thể liên quan đến trẻ và bao gồm các nội dung: tập huấn nhận biết khuyết tật, nhu cầu học và phát triển của trẻ, luật pháp, tổ chức cần liên lạc, nhà cung ứng cho dịch vụ thư viện, chọn lựa tài liệu cho trẻ, trang thiết bị và kế hoạch sinh hoạt phục vụ trẻ khuyết tật.


Back to Chapter index
7.9. Chính sách chọn tài liệu

Chính sách chọn tài liệu nên nói rõ về như về tiêu chuẩn phục vụ trẻ khiếm thị. Bất kỳ quyết định nào không có  trong tiêu chuẩn thì phải dựa vào các điều khoản của các đạo luật mà DDA và SEND (Xem Chương 3 để biết thêm chi tiết).

Phần nội dung của chính sách bổ sung tài liệu nên thể hiên tính hòa nhập, tức là phải tính đến nhu cầu trẻ khuyết tật, ví dụ trong phần đề cập đến sách, nhưng nên có phần riêng trong chính sách làm nổi bật những dịch vụ thêm cần có để giúp trẻ có nhu cầu đặc biệt có thể tiếp cận được thông tin hay sách truyện.

 

Nó có thể chỉ ra:

a)  nơi để bổ sung tài liệu bằng cách mua hay đăng ký sử dụng;

b)  dịch vụ cơ bản phải có;

c)  nơi xếp tài liệu;

d)  ai có thể mượn tài liệu (ví dụ có phải ai cũng mượn được sách cỡ lớn không?


Back to Chapter index
7.9.1. Điều kiện chọn lựa tài liệu

Tiêu chuẩn cung cấp và sử dụng vốn tài liệu cần nhắm đến mọi đối tượng. Tất cả các chuẩn phải xem xét và tính đến nhu cầu của người khuyết tật. Các chuẩn được đưa ra dựa vào hồ sơ của khu dân cư. Các chuẩn hợp tác hay kiểm soát nên đủ linh động để phù hợp với đặc điểm của từng khu vực. Nhiều chuẩn không cần phải thay đổi ứng dụng đối với cho trẻ khiếm thị, ví dụ độ tuổi đọc hay điều kiện kho sách. Tuy nhiên, khi xác định tỷ lệ nội dung kho sách, như chuẩn mượn trả hay phát hành cần được chỉnh sửa, ví dụ sách chữ lớn, băng kể chuyện của trẻ, tài liệu có hai hình thức.   

 

Các tiêu chuẩn phải được dựa vào:

  • Hồ sơ thành phần độc giả
  • Tỷ lệ nội dung kho sách, tỷ lệ mượn trả
  • Điều kiện kho sách: tuổi và chất lượng 

Back to Chapter index
7.10. Bổ sung tài liệu

Mặc dù một phần nào tài liệu được yêu cầu phải có để đáp ứng nhu cầu trẻ khiếm thị cần phải được mua hay mượn từ các nhà cung ứng chuyên ngành, nhưng cũng có nhiều tài liệu bình thường cũng rất có ích. Danh mục sách cần được cung cấp để giúp nhân viên có thể tự tin giải quyết các yêu cầu.

 

Các loại tài liệu cho trẻ ở dạng thay thế rất hạn chế, và vì thế rất quan trọng để đảm bảo là tài liệu được tìm kiếm bổ sung từ nhiều nguồn nếu có thể. Những tài liệu này gồm các nhan đề mua từ nhà kinh doanh xuất bản sách chữ lớn và sách nói, hay tài liệu từ các cơ quan chuyên nghiệp trong nước. Hầu hết các nhà xuất bản hay nhà cung cấp dịch vụ nàyphục vụ cho cả người lớn và thiếu nhi; và những thông tin thêm về dịch vụ của họ có thể tham khảo ở Chương 8, 917.

 

Danh mục và catalog sách của họ được Viện Nghiên cứu Người mù Hoàng gia (RNIB), Thư viện Quốc gia cho Người mù (NLB), Thư viện Băng Cassette Calibre và ClearVision ấn hành. RNIB and NLB có website có khả năng truy cập xuất sắc trong đó có đủ thông tin giới thiệu về vốn tài liệu và dịch vụ của họ. RNIB cũng xuất bản  mục lục tài liệu cho thiếu nhi của một số cơ quan. Tiêu đề các danh mục này như “Sách văn học thiếu nhi từ 5-7 tuổi”, “Sách văn học thiếu nhi 8-11 tuổi”, “Mục lục sách văn học” và “Mục lục sách giáo khoa”. Trên đó, cũng có danh mục sách cho đối tượng thanh thiếu niên. Tạp chí “Spotlight” của các tổ chức này thông tin về tiểu thuyết và phi tiểu thuyết mới xuất bản, và tạp chí này cung cấp miễn phí. Đang phát triển một kế hoạch phát hành một tạp chí mới mô tả đặc điểm đọc và tài liệu cho thiếu nhi.

Tất cả những tổ chức trên tham gia vào một dự án mới đấy để xây dựng mục lục liên hợp quốc gia các tài liệu chuyển dạng, và hình thành thủ tục mượn liên thư viện trên toàn quốc. Mục lục liên hợp quốc gia được xây dựng để có tất cả dữ liệu vốn tài liệu của các nhà xuất bản, kể cả trường đặc biệt dành trẻ người khiếm thị (Xem chương 1011).

 

Có một công cụ mới và chủ lực để chọn tài liệu, cho cả thiếu nhi và thủ thư, là  thư mục “Fiction Café” của NLB, có thể đọc trên website của NLB tại địa chỉ www.nlbuk.org/fiction-cafe/index.html. Đó là một cách lý thú cho trẻ chọn và đặt sách trực tuyến, và tìm sách theo tâm trạng và chủ đề. CSDL hiện nay có trên 150 nhan đề, mỗi nhan đề có phần điểm sách giới thiệu nội dung. Nó tạo cơ hội cho trẻ khiếm thị tự lướt tìm sách theo yêu cầu của chúng, cơ sở dữ liệu bao gồm nhan đề tài liệu của NLB, Calibre và dịch vụ sách nói RNIB.

 

REACH: Trung tâm Tư vấn Quốc gia cho Thiếu nhi khuyết đọc phát hành danh mục sách có mô tả gồm 27 trang khổ A 4 với tên gọi là “Điểm khởi hành”. Danh mục này gồm có tài liệu cho trẻ khiếm thị, sách có các nhân vật là người khuyết tật hay gặp khó khăn trong học tập, và tài liệu chữ lớn cho các em. Chúng được phân phối với phí trả là 1 bảng Anh (nếu là thành viên thì chỉ trả 75 xu). “Mỗi em là một bạn đọc: cẩm nang giúp các em gặp khó khăn trong việc đọc” có một phần nói về trẻ bị mất thị lực. Một mục lục xuất bản phẩm đầy đủ cũng sẽ được cung cấp nếu được yêu cầu. REACH cũng có Trung tâm Nguồn lực có nhiều loại sách nổi và chữ lớn, băng truyện và phần mềm máy tính. Nếu có yêu cầu tham quan thì cần hẹn trước.

 

Các danh mục khác thỉnh thoảng cũng có thể sử dụng nhưng khi sử dụng phải chú ý vì chúng có thể đã cũ và cán bộ thư viện cần nhớ thêm các nhan đề mới.

 

Có một số trường đặc biệt cho trẻ khiếm thị, và cán bộ thư viện nên sẵn lòng tư vấn chọn tài liệu thích hợp cho các em. 

“Thư viện Hộp thư” là một cửa hàng đặt sách qua thư có những tài liệu về những hình ảnh tích cực về vấn đề thị tộc, giới tính, và người khuyết tật. Vì một số tài liệu có thể được nhập về nên nó cũng cho phép tìm các sách này mà không có ở cửa hàng này. Thành viên thì được miễn trả phí 5 bảng/ một người và sách có thể chọn từ một tạp chí điểm sách trình bày rất hấp dẫn.


Back to Chapter index
7.11. Chọn tài liệu cho trẻ khiếm thị

RNIB xuất bản một tập hướng dẫn “Để đọc rõ hơn” (1999) rất có ích. Xuất bản phẩm này trình bày các yếu tố làm sao để sách dễ tiếp cận hơn cho trẻ khiếm thị, liệt kê ra một số điểm sau: 

 

a)  chữ đen trên nền trắng, hay vàng kem sẽ cho độ tương phản tốt;

b)  chọn kiểu chữ đánh máy rõ trên nền tối ;

c)  nhiều em có thể đọc cở chữ 14 nhưng 18 thì còn tốt hơn nữa;

d)  đậm đen, hay đậm vừa cho phép phản quang tốt;

e)  tốt nhất là tránh loại chữ kiểu cọ;

f)  chữ in hoa thì khó đọc hơn là chữ thường;

g)  nền giấy xần xùi không láng bóng ;

h)  không nên chọn loại giấy trong suốt nhìn thấu được bên kia

i)  trình bày đơn giản và rõ ràng. Trong trường hợp sách thông tin, người đọc có thể theo dõi văn bản hợp lý bắt đầu từ góc bên trái phía trên;

j)  minh họa đậm trên khu vực có nền tương phản màu tốt nhất;

k)  Đừng để chữ in trên nền minh họa rất khó theo dõi  

 


Back to Chapter index
7.12. Xây dựng hình ảnh tích cực

Để trẻ nhìn thấy hình ảnh người khiếm thị trong sách là điều rất quan trọng và thủ thư phải vận động trẻ đọc những nhan đề loại này. Thủ thư phải nhận ra những nhan đề thích hợp, theo các ví dụ sau:

 

a) Truyện tranh có hình trẻ mang kính như “Căn phòng của Rosie” của Mandy & Ness. Sách chỉ những ích lợi của việc mang kính như “Tất cả tốt hơn khi nhìn thấy bạn với…” của  M. Wild và “Vịt con và cặp kính tệ hại” của Amy Hest.

 

b) sách khoa học phổ thông trình bày cách trẻ tham gia các hoạt động thực nghiệm khoa học, chơi nhạc, chơi trò chơi, và những sinh hoạt hàng ngày mà tất cả mọi đứa trẻ đều trãi qua.

 

c) Walls xuất bản hai bộ “Bạn bè” và “Hãy làm đi”. Cả hai nhan đề này đều có ích cho cả trẻ sáng hiểu được khuyết tật là gì, cách mà người khác giúp đỡ hay gây cản trở họ. Truyện “Nhà vô địch Judo” của Eleanor Archer and “Đến trường” của D. Church có nhân vật chính là trẻ khiếm thị.

d) Tiểu thuyết phác họa hình ảnh trẻ khiếm thị tham gia vào câu chuyện phiêu lưu, không phải là nạn nhân mà là sự chủ động hay là nhân vật chính cũng rất quan trọng. Sách  “Chiếc sừng biết nói” của  Berlie Doherty và “Trong bóng tối” của  N. Wilde đã có từ lâu nhưng vẫn là những ví dụ còn rất thích hợp cho vấn đề này. “Mắt của Charlie” của Dorothy Horgan là những câu chuyện hài hước nói về những vấn đề khó khăn hay những ngộ nhận về trẻ khiếm thị.


Back to Chapter index
7.13. Sách nổi

Đây là loại rất phổ biến với mọi đứa trẻ và đặc biệt quan trọng đối với trẻ có thể phải đọc chữ dưới dạng nổi. Sách thường có chủ đề giúp trẻ liên tưởng được như về động vật, quần áo, hay dự tiệc sinh nhật. Khu vực nổi của sách có thể cảm nhận tương tự như cho vật cần được minh họa và lý tưởng là cho thấy được hình dáng của đồ vật hay sinh vật đó. Nhà xuất bản thông thường cung cấp sách nổi như một phần trong danh mục chung của họ và một số nơi có xu hướng xuất bản sách có hương thơm và âm thanh.

 

Marion Ripley ở ClearVision cũng đã xuất bản quyển “Ngón tay vui” khuyến khích trẻ nhận dạng đồ vật bằng ngón tay của chúng, hay cùng thời cũng có các nhan đề khác “Chiếc ủng khổng lồ” hay “Charlis khó chịu”. Tất cả những nhan đề trên hiện có bán tại RNIB. ClearVision cũng có sách bản dày với các nhân vật hình nổi cũng như nhãn bằng chữ Braille và sắp tới là xuất bản tài liệu nổi. “Giỏ sách” của Chris Fuller cũng thường có những sách nổi đặc biệt hữu ích cho các em bị đa khuyết tật. 


Back to Chapter index
7.14. Sách khổ lớn

Có một cuộc thảo luận nghiêm túc về ích lợi của loại sách này. Sách cỡ rất lớn và khoảng cách in làm chúng khó đọc đối với trẻ mà có độ thị lực khác nhau, vì thế chúng không phải là giải pháp tốt trong nhiều trường hợp. Do kích thước của chúng, bọn trẻ thấy sách quá cồng kềnh, đặc biệt là để mượn về, và rất quan trọng là có thể được mượn chúng không, nếu có thì bao nào thích hợp đựng chúng được mua để chứa nó. Bao nhựa lớn có thể sử dụng cho nhiều mục đích có thể có trong thư viện như bao trùm trang thiết bị như LFC. Vì sự thuận lợi cho các “Giờ Văn chương” nhiều nhà xuất bản chế bản cho một số  nhan đề sách in thông thường thành phiên bản ở dạng cỡ lớn.  


Back to Chapter index
7.15. Băng truyện

Hiện nay có nhiều băng truyện do giới xuất bản thương mại thực hiện. Nhà xuất bản Chilvers cũng cung cấp sách chữ lớn và băng cassette. Bất cứ chỗ nào có sách thu âm trọn cuốn thì nên mua. Đối tượng tuổi thơ luôn được chú ý đến nhưng tài liệu cho thanh thiếu niên thì rất ít mặc dù số băng xuất bản ra ngày càng tăng. Tuy nhiên, vẫn còn sự thiếu hụt lớn về băng sách thông tin khoa học và nếu có thì nghiêng về chủ đề tiểu sử và lịch sử.

 

Tính đến nay, Chilvers có hơn 500 nhan đề thu âm không bị rút ngắn. Có rất ít tài liệu cho trẻ trước tuổi đến trường nhưng các tác giả viết cho đối tượng từ 7-13 trình bày rất tốt.

BBC Cover to Cover sản xuất băng truyện thu trọn quyển. Họ có trên 100 nhan đề, trong đó có vài nhan đề dành cho thiếu nhi.

 

Bags of Books có nhiều thể loại từ tiểu thuyết đến phi tiểu thuyết. Tài liệu có thể được mua qua mạng Internet và mục lục của họ có một số tài liệu thiếu nhi. Họ cũng có kịch, truyện cho thanh thiếu niên, bài hát ru và bài hát

 

Các tổ chức tình nguyện cũng quan tâm đến trẻ em, và cả hai tổ chức dịch vụ băng sách nói RNIB và băng casstte của Calibre có nhiều tài liệu sách nói cho các em.


Back to Chapter index
7.16. Băng hình có thuyết minh hình ảnh

Nhan đề dành cho thiếu nhi không nhiều lắm nhưng một số nhan đề dành cho người lớn thì cũng rất có ích cho thanh thiếu niên đang học Văn học Anh. Có thể mua từ RNIB


Back to Chapter index
7.17. Sách chữ lớn

Chivers là nhà cung cấp chính các loại sách chữ lớn dưới nhãn hiệu Nhà xuất bản Galaxy và họ có xấp xỉ khoảng 200 nhan đề

 

Tháng 4 năm 2000, Ulverscroft tung ra bộ Quang phổ dành cho thanh thiếu niên. Các nhan đề gồm chủ đề tội phạm, lãng mạn, kinh dị và cả tiểu thuyết thông thường. Bộ sách này hiện nay đã ngưng phát hành, nhưng vẫn còn lưu giữ. Họ cũng xuất bản băng sách nói hấp dẫn cho lứa tuổi này.

 

RNIB sản xuất hàng loạt “Sách truy cập được” bán giá rẻ ở dạng in chữ lớn hay chữ đại, và loại này có cả nhan đề cổ điển thích hợp cho chương trình giáo khoa.

 

Đáng buồn là sự chọn lựa tài liệu in lớn vẫn còn rất hạn chế, và đa số là sách tiểu thuyết. Vẫn còn có nhu cầu chưa được đáp ứng là sách thông tin khoa học được in lớn, và đưa vào GCSE và sách giáo khoa dạng này.


Back to Chapter index
7.18. Tài liệu chữ Braille

Theo ấn bản “Văn học cho mọi người” của RNIB (1999), có khoảng 23.000 thanh thiếu niên dưới 19 tuổi bị khiếm thị và có ít hơn 1000 em sử dụng chữ Braille (chiếm 4,3%). Tuy nhiên, có một điểm quan trọng hơn nữa là các em dùng chữ Braille địa phương. Thư viện có thể mua tài liệu chữ Braille từ Thư viện Quốc gia dành cho Người mù và Viện Nghiên cứu Người mù của Hoàng gia Anh  hoặc họ có thể tạo ra điểm truy cập để giúp trẻ mượn tài liệu từ hai nơi đó. Thông tin về dịch vụ mượn liên thư viện trên toàn quốc được giới thiệu ở Chương 11.

 

Thư viện Quốc gia dành cho Người mù có bộ sưu tập lớn tài liệu chữ Braille dành cho trẻ đọc trôi chảy. Nó cũng có vốn tài liệu hay cho thanh thiếu niên, và cho mượn miễn phí. NLB còn cung cấp miễn phí danh mục sách cho thiếu nhi và thanh thiếu niên. Mục lục của nó có thể tra tìm trực tuyến (www.nlbuk.org) và website của nó cũng cho tiếp cận vào ‘Fiction Café’ (Xem 7.10). Việc đọc của trẻ cũng được nói đến trong các tạp chí “Đọc đi nào” và “Đọc cái mới” của NLB phát hành.

RNIB có nhiều nhan đề chữ Braille bán giảm giá, đặc biệt là tài liệu học tập.

 

Khi chọn tài liệu để mua, quan trọng là cần cân nhắc cân bằng giữa trình độ chữ Braille lớp 1 và lớp 2. Cho đến gần đây thì  trẻ được khuyến khích học chương trình Braille lớp 2 càng sớm càng tốt, nhưng hiện một số nhà chuyên môn cảm thấy rằng co ít có lợi trong khi chữ Braille nén và trẻ có thể tiến đến tốc độ cao hơn với chương trình lớp 1. Braille là hình thức mang tin cồng kềnh, vì thế cũng rất đáng để xem xét cách thức lưu trữ tài liệu 


Back to Chapter index
7.19. Tài liệu hình thức đôi

Hơn 11.000 sách trong vốn tài liệu của ClearVision có thể giúp cả trẻ sáng mắt và người đọc chữ Braille chia sẻ sách, và thích hợp cho các em nhỏ và cho người học đọc chữ Braille. Sách tranh thông thường của thiếu nhi được chia riêng ra và phần chữ Braille trên loại giấy rõ hơn và chèn vào xen kẽ với loại giấy thường khác. Điều này có nghĩa là hình ảnh và chữ in cũng có thể thấy vì nhờ đọc phần văn bản chữ Braille. Sách cũng có lợi cho cha mẹ người đọc chữ Braille cũng như các em  đang học chữ Braille. Vốn tài liệu này có nhiều sách tranh của các tác giả viết sách thiếu nhi khá nổi tiếng, một số đối tượng đọc có “Story Chest”, loại sách bìa dày và sách thơ. Còn có bộ sưu tập quan trọng cho loại phi tiểu thuyết để hỗ trợ cho việc đọc theo chủ đề. ClearVision cũng có sách bìa dày có hình nổi  giới thiệu chữ Braille cho trẻ bị khiếm thị làm quen ngay từ khi các em còn nhỏ.

 

ClearVision còn sản xuất sách truyện ngắn bằng chữ Braille gửi kèm theo một bản in thường. “Sách chuối”, “Xe đẩy” và “Superchamps” là những ví dụ cho bộ sách minh họa kiểu này. ClearVision vừa mới bắt đầu bộ sưu tập sách đơn giản in bằng chữ thường và chữ Moon. Bộ sưu tập có cả sách xuất bản của ClearVision, sách Hai-chiều trước đây có từ NLB, và còn có sách từ các nguồn cung cấp khác. Các tổ chức gồm thư viện công cộng trả 40 bảng hàng năm để đăng ký dịch vụ có thể mượn một lúc được 20 cuốn và có thể thay đổi đến 6 lần trong một năm.


Back to Chapter index
7.20. Tài liệu chữ Moon

Đây là phương pháp khác đọc nổi. Học nhanh hơn nhưng không phổ biến như chữ Braille. ClearVision cho mượn sách hai hình thức cho trẻ học Moon, và NLB có 100 nhan đề sách thiếu nhi bằng chữ Moon, có cho mượn miễn phí,

 

RNIB sản xuất mục lục sách chữ Moon bán giảm giá, mặc dù nó có thể mượn từ hệ thống cho mượn liên thư viện tài liệu chuyển dạng.


Back to Chapter index
7.21. Hình thức điện tử

Đây là phương tiện thông tin rất hữu ích hay cũng có thể coi là phương tiện giải trí khi trẻ có thể làm việc với máy tính. Một số tính năng nâng cao của máy tính có trên Windows 95, 98, 2000 và XP. Phần mềm phóng đại màn hình và có bản hướng dẫn sử dụng các công cụ điều chỉnh có thể dùng các phần mềm thông thường và một số hệ thống phóng đại do RNIB sản xuất. (Thông tin chi tiết trình bày ở Chương 13).

 

Một địa chỉ website rất có ích cho các em (tuổi từ 11-16) gặp vấn đề về thị lực có thể tham khảo tại địa chỉ website www.sortit.org.uk, có các thông tin về hoạt động giải trí, chủ đề đặc biệt, phỏng vấn hay bảng thông báo.

 

Chivers-Ramesis cung cấp dịch vụ CD-Rom bán hơn 400 phần mềm học tập và trò chơi cho các đối tượng từ 0-12 tuổi và hơn 100 nhan đề phục vụ học tập cho lứa tuổi từ 11-18 tuổi. Tất cả những nhan đề trên đều có thể được mượn.


Back to Chapter index
7.22. Thông tin cho phụ huynh

Cũng cần xem xét đến dịch vụ cung cấp thông tin cho phụ huynh và những người chăm sóc trẻ. Có nhiều nhu cầu cần chú trọng trong quá trìn tư vấn tham khảo ý kiến. Danh mục sách trọng tâm có thể bao gồm các thông tin sau:

a)  tổ chức địa phương và quốc gia;

b)  địa chỉ website hữu ích;

c)  dịch vụ chăm sóc vào ngày nghỉ và lễ;

d)  những lợi ích;

e)  tổ chức giáo dục;

f)  những công trình nghiên cứu về người khiếm thị;

g)  thông tin về điều kiện y tế.

 

Website, tờ rời và các tạp chí như “Khả năng thị lực” (RNIB) và “Nhìn” (Hiệp hội gia đình người khiếm thị quốc gia) thật sự là các nguồn thông tin có ích cho các đối tượng này. 


Back to Chapter index
7.23. Nhà cung ứng và các địa chỉ cần thiết

Bag Books

Chris Fuller, 60 Walham Grove, London SW6 1QR
Tel: 020 7385 4021 Fax: 020 7385 4021
email: bagbooks@appleonline.net
(Xuất bản sách truyện cho trẻ từ 3 tuổi trở lên và trẻ gặp khó khăn trong việc học, có sách bìa dày, hay tài liệu cảm ứng có tiếng động rất có lợi cho trẻ khiếm thị. Có 13 loại trọn gói khác nhau cho từng cá nhân hay tập thể nhóm hiện bán hạ giá)

 

Bags of Books

1 South Street, Lewes, East Sussex, BN7 2BT
Tel: 01273 479320 Fax: 01273 478404
email: bagsofbooks@bags-of-books.co.uk
website: www.bags-of-books.co.uk

 

BBC Cover to Cover Cassettes
BBC Worldwide, Woodlands, 80, Wood Lane, London W12 0TT
Tel: 020 8433 2200 Fax: 020 8749 0538
email: sales@bbc.co.uk website: www.bbc.co.uk

 

Calibre (Cassette library for the blind and print disabled)
Aylesbury, Buckinghamshire, HP22 5XQ
Tel: 01296 432339 Fax: 01296 392599
email: enquiries@calibre.org.uk
website: www.calibre.org.uk

 

Chivers Press (BBC)
Windsor Bridge Road, Bath BA2 3AX
Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
email: info@chivers.co.uk
website www.chivers.co.uk
(Cung cấp sách in lớn, băng cassettes và có một số mang hình thức cả hai phiên bản trong một gói)

 

Chivers-Ramesis
Windsor Bridge Road
, Bath BA2 3AX

Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
email: info@chivers.co.uk
website www.ramesis.com
(cho mượn CD-ROM)

 

ClearVision Project

Linden Lodge School, 61 Princes Way, London SW 19 6JB
Tel: 020 8789 9575
email: info@clearvisionproject.org
(Trên 1,500 nhan đề, kể cả sách nổi cho trẻ nhỏ, chủ yếu hướng vào đối tượng chưa đến trường hay tuổi cấp 1).

 

Letterbox Library

71-73 Allen Road, Stoke Newington, London N16 8RY
Tel: 020 7503 4801 Fax: 020 7503 4800
email: info@letterboxlibrary.com
website: www.letterboxlibrary.com

 

LFC Despatch Line

Freepost ANG9675, PO Box 188, Hoddesdon,
Hertfordshire EN11 0BR
Tel: 0800 616621 Fax: 0800 616629
email: projects@lfc-ltd.co.uk

website: www.lfc-ltd.co.uk

 

Look: Hiệp hội gia đình trẻ khiếm thị

National Office, c/o Queen Alexandra College, 49 Court Oak Road, Birmingham B17 9TG
Tel: 0121 428 5038 Fax: 0121 427 9800
email: office@look-uk.org

website: www.look-uk.org

 

Hội Thiếu nhi mù

NBCS House, Market Street, Highbridge, Somerset TA9 3BW
Tel: 01278 764764 Fax: 01278 764790
email: enquiries@nbcs.org.uk

website: www.nbcs.org.uk

(có dịch vụ thu âm, cung cấp cả sách chữ lớn và chữ đại có trên 100 nhan đề có tểh đặt hàng chỉ cung cấp lẻ cho cá nhân)

 

Thư viện Quốc gia cho Người mù Far Cromwell Road, Bredbury, Stockport, SK6 2SG
Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
email: enquiries@nlbuk.org

website: www.nlbuk.org

 

National Portage Association

PO Box 3075, Yeovil, Somerset BA21 3FB
Tel/Fax: 01935 471641
email: npa@portageuk.freeserve.co.uk

website: www.portage.org.uk

 

Peters Bookselling Services

120 Bromsgrove Street, Birmingham B5 6RJ
Tel: 0121 666 6646 Fax: 0121 666 7033
email: sales@peters-books.co.uk

website: www.peters-books.co.uk

(nhà cung ứng đặc biệt dịch vụ thư viện thiếu nhi  )

 

REACH: National Advice Centre for Children with Reading Difficulties
California Country Park, Nine Mile Ride, Finchampstead,
Berkshire RG40 4HT

Tel: 0845 604 0414

email: enquiries@reach-reading.demon.co.uk

website: www.reach-reading.demon.co.uk

 

Royal National Institute For the Blind (Customer Service),
PO Box 173, Peterborough PE2 0WS
Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
email: enquiries@rnib.org.uk

website: www.rnib.org.uk

(Có thể tải thông tin về các chương trình và tổ chức như ClearVision, Clearly a better read, Screen magnification systems, Technology in Learning and Employment and The National Literacy Strategy – Literacy for all).

 

Ulverscroft Large Print Books Ltd.

The Green, Bradgate Road, Anstey, Leicester LE7 7FU
Tel: 0116 236 4325 Fax: 0116 234 0205
email: sales@ulverscroft.co.uk
website: www.ulverscroft.co.uk

 

Tổ chức ở Việt Nam

Hội người mù Việt Nam

 

Trường Nguyễn Đình Chiểu

 

Mái ấm Thiên Ân

 

Thư viện chữ nổi

 

Thư viện sách nói. Hội Phụ nữ từ thiện Thành phố Hồ Chí Minh

 

Studio sản xuất sách nói kỹ thuật số. Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phô! Hồ Chí Minh

Thư viện Hà Nội

 

Trung tâm phát hành băng đĩa Trùng Dương

 

Trung tâm dịch vụ đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Trung tâm Dịch vụ đài phát thanh Thành phố Hồ Chí Minh

Trung tâm Tin học Sao Mai

 


Back to Chapter index
7.24. Tài liệu tham khảo

Blanshard, C. (1998). Quản lý dịch vụ cho thiếu nhi và thanh thiếu niên: cẩm nang thực hành. Hội thư viện

 

Cẩm nang cho lời khuyên rõ ràng và rất có ích cho việc lập kế hoạch dịch vụ chung cho thiếu nhi và đối tượng trẻ có nhu cầu đặc biệt 


Botten T., và nh. ng. khác. (1999). Bí quyết thực hành cho các thư viện công cộng: hỗ trợ nghiên cứu. Trường đại học Strathclyde.


Do Hội thư viện xuất bản và hiện có tại dịch vụ Thông tin, Viện Thông tin thư viện Chartered

7 Ridgmount Street, London WC1A 7AE

 

CIPFA. (1997). Cẩm nang phục vụ thiếu nhi: tiêu chuẩn quốc gia khảo sát thiếu nhi và thanh thiếu niên ở thư viện công cộng và cộng đồng. London: Trung tâm cải tiến và và nghiên cứu Thư viện/ Viện tài chính công (IFP).

 

Fryer, C. (2000). Birmingham: phát triển dịch vụ giáo viên tổ chức đưa trẻ đến thăm các gia đình trẻ em khiếm thị người Châu á. Tạp chí Visibility số 28, Xuân 2000, tr. 8.

Great Britain. Acts. (1998). Đạo luật Bảo vệ dữ liệu. Chương 29. Luân đôn: HMSO.

 

www.legislation/hmso.gov.uk/acts/acts1998/19980029.htm
Hướng dẫn thi hành đạo luật 

www.dataprotection.gov.uk

Royal National Institute for the Blind. (1999). Đọc rõ hơn. RNIB.

Royal National Institute for the Blind. (1999). Văn học cho mọi người. RNIB.

Royal National Institute for the Blind. (2000). Định hình cho tương lai. Kinh nghiệm của người mù và khiếm thị tại Anh quốc. Báo cáo tóm tắt. Tác giả Issy Cole-Hamilton and Dan Vale. Luân đôn: RNIB.

 

Báo cáo này là một kết quả trong sáu cuộc khảo sát.

 

1. Định hướng tương lai: phương pháp luận nghiên cứu và khảo sát.


2. Kinh nghiệm giáo dục của người mù và khiếm thị từ 5-16 tuổi

3. Kinh nghiệm giáo dục của người khiếm thị từ 16 đến 25 tuổi .


4. Hoạt động giải trí và xã hội của trẻ và thanh thiếu niên mù và khiếm thị ở Anh từ 5 đến 25 tuổi

 

5. Sức khoẻ và tài chính của trẻ và thanh thiếu niên mù và khiếm thị ở Anh từ 5 đến 25 tuổi.

 

Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Người mù và khiếm thị ở Anh: khảo sát của RNIB. Luân đôn: RNIB. Chương  6, p. 65.

 


Back to Chapter index
7.25. Sách thiếu nhi

Archer, Elanor. (March 2000).

Nhà vô địch Judo: Ian bị mù. Watts.

Church, D. (March 2000).

Con đường đến trường: Georgia bị mù. Watts.

Doherty, Berlie. (1989).

Cái sừng biết nó. Hamish Hamilton.  Collins.

Hest, Amy. (1996).

Vịt con và đôi kính tệ hại. Walker.

Horgan, Dorothy. (1998).

Mắt của Charlie. Puffin.

Mandy and Ness. (1998).

Phòng của Rosie: cuốn sách đầu tiên về sáng mắt. Little Hippo.

Wild, Margaret. (1999).

Tất cả tốt hơn để nhìn bạn với. Allen and Unwin.

Wild, Nicholas. (1987).

Trong bóng tối. Collins.

 


Back to Chapter index
 Thư viện Khoa Học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh