Written By Tim Harries, hiệu đính bởi Nigel Charles, RNIB
Contents : Khảo sát nhân khẩu học về tình hình khiếm thị ở Anh quốc
Skip to Navigation
5.1. Mở đầu
5.2. Định nghĩa về mù, giảm thị lực và rối loạn thị lực
  5.2.1. Mù và giảm thị lực một phần
  5.2.2. Rối loạn thị lực và những vấn đề về khả năng nhìn
5.3. Số lượng và tuổi tác của cộng đồng người khiếm thị ở Anh quốc
  5.3.1. Số lượng người khiếm thị theo từng vùng địa lý – được công bố bởi chính quyền địa phương
  5.3.2. Dự đoán số lượng người khiếm thị
5.4. Tuổi khởi phát khiếm thị
5.5. Giới tính
5.6. Người lớn khiếm thị
  5.6.1. Các yếu tố kinh tế - xã hội
  5.6.2. Bị nhiều bệnh
  5.6.3. Di chuyển
  5.6.4. Nguồn tiếp cận thông tin
  5.6.8. Giáo dục cao hơn
5.7. Trẻ em khiếm thị
  5.7.2. Đọc
  5.7.3. Trường học
References. Tham khảo

5.1. Mở đầu

Chương này tổng kết những bằng chứng thu thập được qua khảo sát những đặc điểm xã hội - nhân khẩu và những thói quen đọc của người khiếm thị ở Anh quốc. Chương này mô tả những khảo sát và các công trình nghiên cứu được thực hiện trong hơn 10 năm vừa qua, trong đó đa số là các nghiên cứu của RNIB. Để biết thêm chi tiết của các đề án này, xin xem thêm phần tham khảo. [Ghi chú: Các số liệu thu thập trong các nghiên cứu chỉ có giá trị căn cứ nhằm ước lượng tình hình thực tế].

 

Chương này phản bác một số nhận thức không đúng về rối loạn thị lực. Chẳng hạn chương này dẫn chứng rằng người khiếm thị đọc rất nhiều chủng loại, kể cả (mặc dầu có thể là rất khó khăn) các tài liệu in ấn. Và người khiếm thị có thể còn đọc nhiều hơn khi họ chưa có các vấn đề về mắt. Chương này còn đưa ra những vấn đề khác biệt đáng kể trong cuộc sống của người khiếm thị so với người bình thường. Chẳng hạn, người khiếm thị thường có thu nhập thấp hơn mức thu nhập trung bình, thường gặp những khó khăn trong tiếp cận thông tin, tạp chí, sách vở và có thể không được thu nhận khi xin việc hay đi học. Những ghi nhận này có thể giúp ích trong việc lên kế hoạch hỗ trợ cho người khiếm thị trưởng thành cũng như trẻ em.


Back to Chapter index
5.2. Định nghĩa về mù, giảm thị lực và rối loạn thị lực

Có nhiều từ ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ người bị giảm hoặc mất khả năng nhìn. Phần này sẽ định nghĩa sơ lược về một số từ ngữ có liên quan.


Back to Chapter index
5.2.1. Mù và giảm thị lực một phần

Đa số thông tin trong chương này nói về những người bị khiếm thị, có nghĩa là những người bị mù hoàn toàn hay bị giảm thị lực một phần.

 

Người khiếm thị có thể bị mù hay giảm thị lực một phần. Những tiêu chuẩn đánh giá dựa vào chất lượng của thị lực, do bác sĩ chuyên khoa mắt khám và kết luận. Các chi tiết cụ thể và kỹ thuật đánh giá được nêu trong tài liệu của RNIB – Cẩm nang kiểm tra thị lực người khiếm thị (1977).

 

Bị khiếm thị không hẳn là bị mất hoàn toàn khả năng nhìn. Chẳng hạn, một số người giảm thị lực một phần vẫn có khả năng đọc sách có kích thước chữ bình thường mà không cần sử dụng bất kỳ dụng cụ phóng to nào.

 

Cần lập hồ sơ y khoa và danh sách người khiếm thị để có chế độ trợ cấp và giúp đỡ. Chính quyền địa phương cần có những chế độ trợ cấp hay dịch vụ dành cho người khiếm thị, tuy nhiên theo khảo sát thì dường như không có sự khác biệt về chế độ ưu đãi giữa người khiếm thị và người bình thường (Ford & Heshel, 1994).


Back to Chapter index
5.2.2. Rối loạn thị lực và những vấn đề về khả năng nhìn

Những thuật ngữ này được dùng để chỉ những người bị giới hạn khả năng nhìn mà không thể điều chỉnh được bằng mắt kính, bao gồm những người đã được xác nhận là bị mù hoàn toàn hay giảm thị lực một phần, cũng như những người chưa được kết luận nhưng gặp khó khăn khi đọc báo có kích thước chữ bình thường hay không nhận ra người quen thân đi ngược đường mặc dù có mang mắt kính (Martin et al, 1988). Những thuật ngữ này cũng có thể dùng để chỉ những người không đủ thị lực để lái xe, khả năng nhìn hai bên bị hạn chế, chậm thích ứng với những thay đổi về độ sáng.


Back to Chapter index
5.3. Số lượng và tuổi tác của cộng đồng người khiếm thị ở Anh quốc

RNIB ước lượng có trên 2 triệu người bị khiếm thị ở Anh quốc. [Ghi chú: Đó là ước lượng gần đây nhất của RNIB. RNIB cũng ước lượng rằng có khoảng 1.1 triệu người (chiếm 2% dân số) được kết luận rằng bị mù và giảm thị lực một phần hay có đủ yếu tố để xếp vào nhóm này. [Ghi chú: Ước lượng này dựa trên số liệu thăm dò của RNIB (Bruce và cộng sự, 1991). Ước lượng này cho rằng tỉ lệ người khiếm thị trong dân số vẫn không thay đổi. Tổng số được tính từ các kết quả của một thăm dò được công bố năm 1988 (Martin và cộng sự, 1988) để dự đoán cho năm 2001].

 

Chỉ có một phần ba trong số 1.1 triệu người khiếm thị là được lập danh sách (Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992). Đa số người khiếm thị (khoảng 801,000 người) có tuổi trên 75 tuổi.

 

Bảng 5A cho thấy ước tính có khoảng 18% người khiếm thị từ 75 tuổi trở lên, so với 2.5% người khiếm thị từ 65 đến 74 tuổi, 0.4% từ 15 đến 64 tuổi và 0.2% từ 14 tuổi trở xuống.

 

Bảng 5A: Ước tính prevalence1 của người khiếm thị ở Anh quốc (2001)

 

Nhóm tuổi

 

0-14

15-64

65-74

75+

Tất cả các tuổi

Tỉ lệ phần trăm
trong cộng đồng người
khiếm thị ở Anh quốc

0.2

0.4

2.5

18

2

Ước tính số
người khiếm thị
ở Anh quốc (x1000)

22.5

156

123

801

1,103

Nguồn: Bruce và cộng sự (1991) và Walker và cộng sự (1992) và thống kê của Chính phủ

 

Ghi chú:Các số liệu này cho thấy tỉ lệ % của tuổi tác ở người khiếm thị vẫn tương tự như các số liệu ghi nhận được trong khảo sát của RNIB trong các năm 1986-1987 (Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992).


Back to Chapter index
5.3.1. Số lượng người khiếm thị theo từng vùng địa lý – được công bố bởi chính quyền địa phương

Được tổng kết trong Phục lục A1. Thông tin này được lấy từ trong web của RNIB www.rnib.org.uk/wesupply/fctsheet/statistics.htm

 

[Ghi chú: Có một khác biệt nhỏ giữa tổng số người khiếm thị trong Bảng 5A và con số trong trang web của RNIB. Đó là do Bảng 5A dựa trên số liệu năm 2001 còn trang web thì sử dụng số liệu năm 1996. Trang web của RNIB sẽ sớm được cập nhật].

 

Bộ Y tế của Anh quốc cũng có trang web trong đó có các số liệu thống kê về tổng số người khiếm thị tại Anh quốc: www.doh.gov.uk/public/blindandpartiallysighted.


Back to Chapter index
5.3.2. Dự đoán số lượng người khiếm thị

Việc dự đoán số lượng người khiếm thị dựa trên dự đoán của Bộ Y tế Anh quốc. Theo dự đoán này thì trong 50 năm tới, số lượng trẻ em khiếm thị từ 14 tuổi trở xuống sẽ giảm, số lượng người khiếm thị từ 15 đến 64 tuổi sẽ không đổi và số lượng người khiếm thị trên 65 tuổi (nhất là những người trên 75 tuổi) sẽ tăng.

 

Thừa nhận tỉ lệ khiếm thị không đổi, bảng 5B cho thấy những dự đoán của chính phủ rằng số lượng trẻ khiếm thị dưới 14 tuổi giảm từ 22,500 năm 2001 xuống còn 20,000 vào năm 2051. Trong cùng giai đoạn đó, số lượng khiếm thị độ tuổi 15 đến 64 vẫn giữ trong khoảng 160,000 người.

 

Bảng 5B cũng cho thấy rằng số lượng người khiếm thị độ tuổi 65-74 dự đoán sẽ tăng từ 122,925 năm 2001 lên đến 137,100 vào năm 2011; 166,225 vào năm 2021 và 196,350 vào năm 2031. Sau đó, số lượng sẽ hơi giảm còn 189,000 vào năm 2041 và 175,475 vào năm 2051.

 

Số lượng người khiếm thị trên 75 tuổi sẽ tăng đáng kể và sẽ tăng đến gấp đôi sau 50 năm. Các số liệu cho thấy từ 801,360 năm 2001 sẽ tăng lên đến 854,820 vào năm 2011; 1,008,360 vào năm 2021; 1,257,300 vào năm 2031; 1,535,940 vào năm 2041 và 1,605,420 vào năm 2051. Hình 5a cho thấy đường biểu diễn rất rõ nét.

 

Table 5B: Dự đoán số lượng người khiếm thị 2001-2051

 

Năm

Nhóm
tuổi

2001

2011

2021

2031

2041

2051

0-14

22,480

20,622

20,820

20,924

20,148

20,044

15-64

156,320

165,644

165,768

161,068

158,620

157,572

65-74

122,925

137,100

166,225

196,350

189,000

175,475

75+

801,360

854,820

1,008,360

1,257,300

1,535,940

1,605,420

 

Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Y tế và RNIB

 

Hình 5a:

 

figure5a.jpg

 

Dự đoán số lượng người khiếm thị 2001-2005


Back to Chapter index
5.4. Tuổi khởi phát khiếm thị

Khảo sát của RNIB trên những người khiếm thị về tuổi khởi phát bệnh, 31% người trả lời nói rằng khởi phát khi còn ở độ tuổi lao động (17-59 tuổi), nhưng đa số (56%) cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau. Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi còn dưới 16 tuổi. (Ibid.)


Back to Chapter index
5.5. Giới tính

Hình 5b: Phân bố giới tính theo tuổi

 

figure5b.jpg

 

Các số liệu thống kê cho hình 5b được liệt kê bên dưới. Tuổi được xếp đầu tiên, sau đó là tỉ lệ phần trăm(%).

 

Nam:

- 3 đến 7 tuổi. 56%.
- 8 đến 11 tuổi. 60%.
- 12 đến 15 tuổi. 70%.
- 16 đến 59 tuổi. 43%.
- 64 đến 74 tuổi. 32%.
- từ 75 trở lên. 25%.

 

Nữ:

- 3 đến 7 tuổi. 44%.
- 8 đến 11 tuổi. 40%.
- 12 đến 15 tuổi. 30%.
- 16 đến tuổi. 57%.
- 64 đến 74 tuổi. 68%.
- từ 75 tuổi trở lên. 75%.

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992

 

Trẻ nam khiếm thị hơn nhiều hơn trẻ nữ khiếm thị. Thật vậy, 70% trẻ bị khiếm thị 12-15 tuổi là nam. Trong độ tuổi lao động, tỉ lệ nữ bị khiếm thị hơi cao hơn sao với nam. Còn sau 60 tuổi thì tỉ lệ nữ bị khiếm thị cao hơn đáng kể so với nam giới.


Back to Chapter index
5.6.1. Các yếu tố kinh tế - xã hội

Ước tính chỉ có khoảng 25% người khiếm thị độ tuổi lao động là có việc làm (được trả lương). 46% những người khiếm thị không có thu nhập nói rằng họ muốn được làm việc (Ibid).

 

Khảo sát của RNIB (Ibid) cho thấy có 31% người khiếm thị độ tuổi lao động có thu nhập thấp hơn 1/3 thu nhập trung bình. 

 

40% người lớn khiếm thị sống trong viện dưỡng lão địa phương. Độ tuổi 60-74 có tỉ lệ sống ở viện dưỡng lão địa phương cao (58%) và thấp hơn ở độ tuổi 16-59 (40%) và trên 75 tuổi (43%) (Ibid). Ở người khiếm thị hoàn toàn thì tỉ lệ sống ở viện dưỡng lão địa phương gấp 1.75 lần so với những người sống ở nhà (Grundy và cộng sự, 1999).

 

45% người lớn khiếm thị sống ở nhà (Bruce và cộng sự, 1991) so với 11% trong dân số nói chung (Số liệu của Cơ quan thống kê quốc gia).

 

Người khiếm thị cao tuổi thích sống ở nhà của mình. 50% người khiếm thị trên 75 tuổi sống tự lo, so với 44% người khiếm thị độ tuổi 60-74 tuổi và 19% ở độ tuổi 16-59 tuổi.


Back to Chapter index
5.6.2. Bị nhiều bệnh

22% người khiếm thị tuổi từ 60 trở lên có sử dụng máy trợ thính. 35% người lớn khiếm thị bị rối loạn khả năng nghe (Bruce và cộng sự, 1991).

 

45% người khiếm thị cho biết họ thường hay đau ốm và bệnh tật (ngoài những vấn đề về mắt) nên thường gặp khó khăn khi làm những công việc hàng ngày trong nhà hay khi ra đường. Tỉ lệ này tương tự nhau ở người lớn khiếm thị ở tất cả các độ tuổi. (Ibid.).


Back to Chapter index
5.6.3. Di chuyển

32% người lớn khiếm thị nói rằng họ bị giới hạn rất nhiều trong việc đi lại khi ra đường và 26% nói rằng họ bị giới hạn hoàn toàn khả năng đi lại ngoài đường (Ibid.). Chỉ có 48% tự tin khi đi bộ một mình trong khu vực mà họ sinh sống (Ibid.).

 

Chỉ một tỉ lệ nhỏ người lớn khiếm thị dùng phương tiện hỗ trợ đi lại. 22% người khiếm thị từ 16 tuổi trở lên dùng gậy trắng và 1% có chó dẫn đường (Ibid.).


Back to Chapter index
5.6.4. Nguồn tiếp cận thông tin

Hình 5c: Những nguồn chính cung cấp thông tin cho người lớn khiếm thị

 

figure5c.jpg

 

Các số liệu thống kê của hình 5c được liệt kê bên dưới. Đầu tiên là nguồn thông tin và sau đó tỉ lệ người lớn khiếm thị thường xuyên sử dụng nguồn thông tin này 

 

- Sách viết bằng chữ Braille: 1%
- Báo nói: 7%
- Băng đĩa hay sách nói: 13%
- Tạp chí, báo: 41%
- Điện thoại trao đổi thông tin: 54%
- Radio: 63%
- Tivi: 64%
- Nói chuyện, giao tiếp: 85% 

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

 

85% người lớn khiếm thị tiếp cận thông tin qua nói chuyện trực tiếp. Ngoài ra nguồn tiếp cận thông tin quan trọng khác là các phương tiện truyền thông. Tivi chiếm 64%, radio chiếm 63% và báo, tạp chí chiếm 41% là các nguồn tiếp cận thông tin quan trọng. Ngoài ra, băng đĩa hay sách nói chiếm 13%, báo nói chiếm 7% và sách viết bằng chữ Braille chiếm 1% cũng là những nguồn quan trọng.

 

Ngoài ra, hiện nay máy vi tính cũng được sử dụng rộng rãi và trở thành một phương tiện cung cấp thông tin quan trọng cho người khiếm thị.

 

The data shown in Figure 5c was collected when computer use was not widespread in the home or at work. But, as section 5.6.5.3 suggests, computers are likely to become ever more widely used and therefore to become a more important source of information for blind and partially sighted people.

 


Back to Chapter index
5.6.5.1. Đọc nhiều hơn sau khi bị giảm thị lực

Một khảo sát từ các khách hàng của 2 cửa hàng sách nghe dành cho người khiếm thị (Chartres, 1998), trên 2/3 người trả lời (68%) rằng họ đọc nhiều hơn sau khi bị khiếm thị. 

 

Trong nhóm những người cho biết rằng họ đọc nhiều hơn sau khi bị khiếm thị, 67% cho rằng lý do chính là do có nhiều thời gian rãnh. 14% cho rằng đọc là một điều thích thú mới sau khi bị khiếm thị. 

 

Nói chung, 82% trả lời cho rằng đọc là một phần rất quan trọng trong thời gian rỗi của họ. 63% dành thời gian đọc trên 2 giờ mỗi ngày.


Back to Chapter index
5.6.5.2. Các thể loại đọc

Dữ liệu trong bảng 5C cho rằng việc giảm thị lực làm giảm đọc báo, tạp chí nhưng lại tăng đọc sách.

 

Về báo và tạp chí, chỉ có báo địa phương và chương trình tivi/ radio là còn được trên 10% người đọc sau khi bị khiếm thị. Giảm nhiều nhất là số người đọc nhật báo, giảm từ 70% xuống còn 9%. Số người đọc chuyện trinh thám tăng 11% và các loại sách không phải thể loại trinh thám tăng 8%.

 

Bảng 5C: Các thể loại đọc trước và sau khi bị khiếm thị

 

table5b.jpg

 

Các số liệu thống kê ở bảng 5C được liệt kê dưới đây. Mỗi hàng được mô tả lại như sau:

 

Thể loại đọc, tỉ lệ % đọc trước khi bị khiếm thị, tỉ lệ % đọc sau khi bị khiếm thị, % thay đổi:

 

- Nhật báo: 70%, 9%, -61%.
- Báo ngày Chủ nhật: 49%, 6%, -43%.
- Báo địa phương: 46%, 33%, -13%.
- Tạp chí tổng hợp: 34%, 9%, -25%.
- Tạp chí chuyên đề: 22%, 8%, -14%.
- Chương trình tivi/radio: 37%, 22%, -15%.
- Sách trinh thám: 74%, 85%, +11%.
- Sách không phải loại trinh thám: 56%, 64%, +8%. 

 

Nguồn: Chartres, 1998

 

Ghi chú 2: Từ một thăm dò trên 1,067 khách đến 2 cửa hàng sách dành cho người khiếm thị. Tóm lại, sau khi giảm thị lực, số người đọc tăng lên nhưng giảm thể loại đọc.


Back to Chapter index
5.6.5.3. Hình thức đọc

Hình 5d: Hình thức đọc thường được người lớn khiếm thị chọn

 

figure5d.jpg

 

Dưới đây là các số liệu thống kê của hình 5d được mô tả lại: 

 

- Chữ Braille: 1%
- Băng đĩa: 13%
- Có người đọc cho nghe: 21%
- Sách báo chữ to: 24%
- Sách báo chữ bình thường: 48% 

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

 

Ghi chú 3: Người trả lời được quyền chọn từ 1 hình thức trở lên, cho nên tổng số cộng lại không đủ 100% 

 

Cần lưu ý rằng những người đọc sách báo chữ bình thường có thể sử dụng kính lúp hay những dụng cụ phóng to khác. Chẳng hạn, 60% người trên 60 tuổi có sử dụng kính lúp cầm tay (Bruce và cộng sự, 1991). 

 

Gần phân nửa (48%) đọc sách báo chữ bình thường, 24% thường đọc sách báo chữ to và 13% thường nghe băng đĩa. Chỉ có 1% thường đọc chữ Braille. 21% thường có người đọc cho nghe.

 

  • Sách báo : 58% người khiếm thị có thể đọc với số lượng nhỏ các tài liệu với loại phông chữ 16 và in đậm. Trong đó có 36% được xác nhận và có thẻ “khiếm thị” và 75% hội đủ các yếu tố để được xem là khiếm thị (Ibid). Khoảng 25% người khiếm thị đọc các loại sách chữ bình thường và chữ to. Như được mô tả trong bảng 5D, có khoảng 1/3 (31%) trong số đó có tuổi 16-59 tuổi và ¼ (24%) trong số đó có tuổi dưới 60 tuổi đọc sách chữ bình thường (31% so với 23%). Sách có chữ to có tỉ lệ đọc tương tự giữa 2 nhóm tuổi (21% và 23%).

    Bảng 5D: Tỉ lệ % người lớn khiếm thị đọc sách in

table5c.jpg

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991.

Bảng 5E cho thấy rằng người khiếm thị trẻ tuổi hơn ít đọc sách chữ to hơn người khiếm thị lớn tuổi và có 25% người khiếm thị trẻ tuổi không đọc gì cả. Khoảng phân nửa (46%) người khiếm thị trên 60 tuổi đọc từ 7 quyển sách chữ to trở lên mỗi 6 tháng và 30% đọc từ 13 quyển trở lên.

 

Bảng 5E: Số lượng sách chữ to được đọc-theo nhóm tuổi
table5d.jpg

Dưới đây là mô tả lại các số liệu thống kê của bảng 5D. Các số liệu thống kê của từng hàng được liệt kê theo thứ tự như sau:
Số lượng sách đọc mỗi 6 tháng, tỉ lệ % người đọc sách chữ to tuổi 16-59, tỉ lệ % người đọc sách chữ to tuổi từ 60 tuổi trở lên, tỉ lệ % tổng cộng của người đọc sách chữ to.

- Không sách nào cả: 25%, 5%, 7%.

- 1-3 sách: 43%, 28%, 30%.
- 4-6 sách: 10%, 21%, 20%.
- 6-12 sách: 11%, 16%, 16%.
- 13 sách trở lên: 10%, 30%, 28%.
 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

  • Băng cassette : 46% người khiếm thị có máy nghe băng đĩa (Ibid). Một nghiên cứu năm 2001 cho thấy có 78% người lớn khiếm thị có máy cassette (Bruce và Baker, 2001). Chỉ có 3% người lớn khiếm thị nghe sách qua băng cassette, nhưng có 13% xem đó như mà một trong những phương tiện để đọc mà họ sử dụng thường xuyên nhất (Bruce và cộng sự, 1991).

    Gần đây, tổ chức LISU (Library and Information Statistics Unit) khảo sát và nhận thấy rằng 83% người lớn khiếm thị dùng máy cassette và CD để đọc (Davies và cộng sự, 2001). 

    Hiện nay các loại sách nói ngày càng phổ biến và rẻ hơn và do đó nhu cầu về thể loại này ngày càng gia tăng kể từ nghiên cứu của Bruce và cộng sự tiến hành năm 1991 và điều này có thể được phản ánh bởi sự gia tăng số người khiếm thị có sở hữu máy cassette từ năm 1991 đến năm 2001. Kết quả của một nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng băng cassette là thể loại sách đọc phổ biến của người khiếm thị (Moore, 2000). 

    25% người mù và 4% người khiếm thị một phần có máy nghe sách nói (RNIB Talking Books player) mặc dù cũng tương đối ít người biết đến dịch vụ này – 47% người mù và 59% người khiếm thị một phần không biết đến dịch vụ sách nói và chỉ có 13% biết rằng nhà sách có thể cung cấp cho họ những thông tin về sách nói (Bruce và Baker, 2001). LISU cho biết có ít người sử dụng máy nghe sách nói (RNIB Talking Books) (13%) nhưng con số này có thể tăng lên do cách lấy mẫu khác nhau. (Davies và cộng sự, 2001).
  • CDs
    33% người khiếm thị có máy nghe CD nhưng tỉ lệ này thay đổi giữa các nhóm tuổi: 66% dưới 60 tuổi, so với 32% ở độ tuổi 60-74 tuổi và 12% từ 75 tuổi trở lên (Bruce và Baker, 2001). Một khảo sát của LISU thấy rằng có ít người sử dụng máy CD để đọc (Davies và cộng sự, 2001). Ví dụ, chỉ có 7% người khiếm thị độ tuổi 25-64 tuổi thích sử dụng máy CD để đọc. [Ghi chú: LISU đã đánh giá sự ưa thích sử dụng máy CD để đọc và RNIB đã đánh giá có bao nhiêu người có sử dụng máy nghe CD].
  • Chữ Braille
    Chỉ có 4% người mù và 0.4% người khiếm thị một phần đọc sách Braille (Bruce và Baker, 2001). Nghiên cứu trước đó cho thấy có sự khác biệt đáng kể theo tuổi tác. Ví dụ, 14% người độ tuổi 16-59 và 1% người trên 60 tuổi có thể đọc chữ Braille (Bruce và cộng sự, 1991).
  • Computers
    Máy vi tính đang trở thành một phương tiện quan trọng để tiếp cận thông tin cho người khiếm thị với các thiết bị hỗ trợ như màn hình phóng to hay thiết bị chuyển văn bản thành lời nói, qua đó người khiếm thị có thể tra cứu thông tin trên đĩa hay truy cập thông tin trên internet.
  •  
  • 11% người khiếm thị nói rằng họ có sử dụng máy vi tính, nhưng có sự khác biệt đáng kể theo tuổi tác. 31% có tuổi 16-59 và chỉ có khoảng 2% trên 60 tuổi sử dụng máy vi tính (Bruce và Baker, 2001). Hiện nay, số người sử dụng máy vi tính sẽ tăng nhiều hơn so với số liệu trong nghiên cứu này thực hiện từ năm 1998 đến 2000. Trong những người sử dụng máy vi tính, 78% sử dụng màn hình bình thường, 20% sử dụng thiết bị phóng to màn hình và 14% sử dụng thiết bị chuyển bản văn thành lời nói (Ibid). LISU cho rằng số người sử dụng máy vi tính nhiều hơn (Davies và cộng sự, 2001). Ví dụ, họ tổng kết có 53% người khiếm thị 25-64 tuổi sử dụng máy vi tính. [Ghi chú: Có một số khác nhau giữa ước lượng của RNIB và LISU do số lượng mẫu nghiên cứu khác nhau (n=134 trong nghiên cứu của LISU và n=418 trong nghiên cứu của RNIB. Mẫu nghiên cứu càng ít thì tính chính xác thấp hơn so với nghiên cứu có số mẫu nghiên cứu nhiều hơn].

    Back to Chapter index
    5.6.6. Sử dụng thư viện tại chỗ

    Tỉ lệ người khiếm thị là thành viên của các thư viện có sự khác nhau đáng kể giữa các địa phương. Một số vùng chỉ có 2% người khiếm thị là thành viên của thư viện, trong khi đó có vùng tỉ lệ người khiếm thị là thành viên của thư viện chiếm đến 55%. Số liệu này so sánh với tỉ 58% ở toàn thể nước Anh. (Kinnell và cộng sự, 2000). 

     

    Số liệu ghi nhận từ 2 địa phương ở Anh quốc cho thấy rằng có khoảng 6% sách cho mượn ở thư viện thuộc loại chữ to (số liệu không công bố được cung cấp bởi Hội đồng thành phố của 2 địa phương Gloucestershire và Essex). Ngành thư viện ở Anh quốc ước tính rằng ở Anh quốc có khoảng 9% - tương đương với 46 triệu sách – thuộc loại chữ to hàng năm. 

     

    Có 2 thư viện sách nói lớn ở Anh quốc là thư viện sách nói RNIB có khoảng 50,000 thành viên và Calibre có khoảng 15,000 thành viên. Đa số các thông tin trong phần này được lấy từ khảo sát của Chartres (1998) trên các thành viên của các thư viện kể trên. Cần lưu ý rằng các số liệu này không thể đại diện cho toàn bộ cộng đồng người lớn khiếm thị trên khắp nơi.


    Back to Chapter index
    5.6.6.1. Tỷ lệ người khiếm thị đến thư viện

    Chartres (Ibid) tổng kết có khoảng 42% người sử dụng sách nói  có đến thư viện sách của địa phương. Trong số đó, đa số tự đi, 38% nhờ người thân đi thay và 15% tự đi hoặc nhờ người thân. Còn theo nghiên cứu LISU thì có khoảng 31% người khiếm thị đến thư viện trong 6 tháng gần nhất (Davies và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.6.6.2. Tần số đi thư viện

    Bảng 5F cho thấy tần số của những người tự đi thư viện. 34% đi mỗi tuần, khoảng 49% đi mỗi tuần hay mỗi tháng một lần và 17% đi dưới 1 lần mỗi tháng.

     

    Bảng 5F: Tần số đi thư viện địa phương
    (Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

    table5e.jpg

    Các số liệu thống kê của bảng 5F được mô tả lại dưới đây. Kết quả được liệt kê ở mỗi hàng: Tần số, tỉ lệ % người đi thư viện. 

     

    - Trên 1 lần mỗi tuần: 8%
    - 1 lần mỗi tuần: 26%
    - 1 lần mỗi 2 tuần: 22%
    - 1 lần mỗi tháng: 27%
    - Dưới 1 lần mỗi tháng: 14%
    - Không nhớ: 3%
    n=255 

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.6.3. Chọn sách

    Người khiếm thị thường nhờ giúp đỡ của nhân viên thư viện hoặc người thân khi chọn lựa sách nói cũng như sách in. Tuy nhiên 23% trong số họ thường tự mình chọn lựa và 9% chọn lựa thông qua danh mục sách niêm yết. LISU cũng nhận thấy rằng có khoảng 60% người khiếm thị đến thư viện có người khác đi chung (Davies và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.6.6.4. Đánh giá chất lượng thư viện

    Bảng 5G cho kết quả đánh giá của người khiếm thị sử dụng thư viện về chất lượng thư viện trên nhiều khía cạnh khác nhau. Thuận tiện đi lại trong thư viện chiếm 85%, chất lượng phục vụ tốt của nhân viên thư viện chiếm 93%. Nhưng LISU nhận thấy có 50% người khiếm thị đến thư viện gặp khó khăn khi đi lại trong thư viện (Davies và cộng sự, 2001). [Ghi chú: Sự khác biệt này là do Chartres lấy mẫu không điển hình]. Sử dụng các phương tiện di chuyển công cộng được đánh giá không cao so với số chủng loại sách và hình thức tiếp cận thông tin. 

     

    Một tỉ lệ lớn người trả lời cho rằng họ không biết làm thế nào để đánh giá chất lượng ánh sáng ở bên trong và bên ngoài thư viện, số chủng loại sách có trong thư viện và danh mục tựa sách dưới nhiều dạng trình bày khác nhau. Lý do của sự do dự khi trả lời không rõ lắm.

     

    Bảng 5G: Đánh giá của người được phỏng vấn trên chất lượng của dịch vụ ở thư viện (Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

    table5f.jpg

     

    Các số liệu thống kê trong bảng 5F được mô tả lại dưới đây. Tiêu đề của các cột là: Chất lượng của dịch vụ: Tốt; Trung bình; Không tốt; Không biết. 

     

    - Sử dụng phương tiện di chuyển công cộng: 42%, 12%, 15%, 31%.
    - Ánh sáng bên ngoài thư viện: 41%, 9%, 4%, 46%.
    - Ánh sáng bên trong thư viện: 60%, 9%, 3%, 28%.
    - Thuận tiện đi lại trong thư viện: 85%, 11%, 1%, 3%.
    - Chất lượng phục vụ của nhân viên thư viện: 93%, 4%, 1%, 2%.
    - Số loại sách in có trong thư viện: 27%, 11%, 5%, 57%.
    - Số loại sách nói có trong thư viện: 44%, 31%, 18%, 6%.
    - Tài liệu hướng dẫn tra cứu, danh mục sách dưới nhiều dạng trình bày khác nhau: 38%, 13%, 12% 37%.
    n=255 

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.6.5. Lý do tại sao người khiếm thị không sử dụng thư viện địa phương

    58% trả lời trong thăm dò của Chartres rằng họ không sử dụng thư viện địa phương. Họ được yêu cầu cho biết những nguyên nhân chính (xem Bảng 5H).

     

    "Nguyên nhân chính" là do khó khăn khi đến thư viện (41%). Điều này phù hợp với việc đi lại khó khăn của người khiếm thị (xem (5.6.3).

     

    Hai nguyên nhân chính nữa là do có ít loại sách chữ to hay sách nói (19%) và họ thích đến thư viện chuyên về sách nói hơn (11%).

     

    Bảng 5H: Lý do tại sao người khiếm thị ít đến thư viện của địa phương

    table5g.jpg

     

    Các số liệu thống kê ở bảng 5H được mô tả lại dưới đây. Tiêu đề của các cột là: Các lý do chính vì sao không đến thư viện của địa phương, Tỉ lệ % 

     

    - Khó khăn trong việc di chuyển: 41%
    - Có ít loại sách chữ to hay sách nói: 19%
    - Thích đến các thư viện chuyên về sách nói hơn như RNIB, Calibre…: 11%
    - Không có phương tiện: 5%
    - Không thích đọc nữa: 4%
    - Thích sách nói hơn: 4%
    - Chất lượng phục vụ của thư viện không tốt: 1%
    - Ý kiến khác: 7%
    - Không biết: 8%
    n=255 

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.7. Giáo dục bổ túc

    Có khoảng 4,500 người khiếm thị theo học tại các trường giáo dục bổ túc ở Anh quốc (Simkiss và cộng sự, 1998).


    Back to Chapter index
    5.6.7.1. Học sinh khiếm thị thích học bằng gì nhất ?

    Có 30% chọn học bằng chữ Braille, tuy nhiên tỉ lệ rất khác nhau giữa các nhóm tuổi, chẳng hạn như chỉ có 14% người khiếm thị ở độ tuổi 16-59 là có thể đọc được chữ Braille- xem phần 5.6.5.3. ; 5% thích học bằng máy vi tính (Ibid). 

     

    Học sinh khiếm thị tại các trường giáo dục bổ túc thích học bằng chữ Braille hơn (49%) so với học sinh khiếm thị tại các trường đào tạo chính qui (21%). Ngược lại, học sinh khiếm thị tại các trường đào tạo chính qui thì lại thích học bằng máy vi tính hơn (43%) so với học sinh khiếm thị tại các trường giáo dục bổ túc.

     

    Bảng 5I: Các phương tiện đọc được học sinh khiếm thị ưa chuộng tại các trường giáo dục bổ túc

    table5h.jpg

     

    Các số liệu thống kê ở bảng 5H được mô tả lại dưới đây. Tiêu đề của các cột là: Phương tiện đọc, Giáo dục bổ túc, Giáo dục bổ túc cho những người có nhu cầu đặc biệt, Giáo dục bổ túc nói chung 

     

    - Chữ Braille: 21%, 49%, 30%.
    - Chữ in to: 43%, 28%, 38%.
    - Chữ in thường: 17%, 9%, 14%.
    - Băng đĩa: 15%, 9%, 13%.
    - Đĩa vi tính: 5%, 5%, 5%. 

     

    Nguồn: Simkiss và cộng sự, 1998, trang 17

     

    Ghi chú 4: Dành cho các trường Giáo dục bổ túc và Trung cấp dành riêng cho những người có nhu cầu đặc biệt.

     


    Back to Chapter index
    5.6.8. Giáo dục cao hơn

    Có khoảng 2,800 học sinh khiếm thị đang theo các chương trình giáo dục cao hơn, trong đó có khoảng 750 là sinh viên của Đại học mở (Ibid). 

     

    Sinh viên khiếm thị theo các chương trình giáo dục cao hơn thường lớn tuổi. Có 66% từ 26 tuổi trở lên khi bắt đầu chương trình học, so với 40% sinh viên ở độ tuổi này theo học các chương trình giáo dục cao hơn nói chung (Ibid.).


    Back to Chapter index
    5.7. Trẻ em khiếm thị

    Ước tính có khoảng 22,500 trẻ em bị khiếm thị ở Anh quốc, tuy nhiên số thực tế có thể khác do cách lấy mẫu. Ở các trẻ em này, có ít nhất 36% bị thêm bệnh khác ngoài bệnh mắt. Những trẻ em này có những nhu cầu phức tạp để bổ sung cho sự suy giảm thị lực. 2/3 còn lại ít có nhu cầu đặc biệt hơn thì có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản. Phần này mô tả những bệnh lý chính, việc đọc và học trong 2 nhóm trẻ nêu trên.


    Back to Chapter index
    5.7.1.1. Trẻ bị thêm bệnh khác

    Trong nhóm trẻ bị thêm bệnh khác ngoài bệnh mắt, ước tính có khoảng 29% bị bại não, 26% bị bệnh lý khác có ảnh hưởng đến hoạt động của cơ thể như viêm khớp hay có vấn đề ở tủy sống, và 26% bị bệnh khác như hen phế quản, động kinh, tiểu đường (Crofts và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.7.1.2. Trẻ khiếm thị còn có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản

    Ở các trẻ khiếm thị tuổi từ 5 đến 16 tuổi có khả năng theo học các chương trình giáo dục cơ bản thì có khoảng 30% bị thêm một hoặc nhiều bệnh lý khác. Trong nhóm này, có khoảng 37% bị bệnh phải dùng thuốc, 20% bị khó khăn trong việc vận động, 19% bị khó khăn khi tiếp thu bài vở, 12% bị giảm thính lực và 10% bị bệnh lý di truyền phức tạp (Crofts và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.7.2. Đọc

    Nhiều trẻ khiếm thị vần còn khả năng nhìn được. Có 51% có thể nhặt đồng xu mà không phải mò mẫm, và ¼ có thể nhận ra người quen đi ngang qua mặt ở ngoài đường (Walker và cộng sự, 1992). 

     

    Đa số trẻ khiếm thị trong nhóm còn có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản có thể đọc và viết chữ to nếu có đủ ánh sáng. Nhiều trẻ sử dụng thiết bị phóng to để phóng to chữ lên. 34% có thể đọc được chữ in bình thường, 27% đọc được chữ in to và 18% có thể đọc được cả hai (Franklin và cộng sự, 2001). Chỉ có 4% trẻ khiếm thị đọc được chữ Braille (Clunies-Ross và cộng sự, 1999).


    Back to Chapter index
    5.7.3. Trường học

    Hình 5e: Các loại trường ở Anh quốc có trẻ khiếm thị theo học

    figure5f.jpg

     

    Nguồn: Clunies-Ross và cộng sự, 1999

     

    Hình 5e cho thấy rằng đa số (60%) trẻ khiếm thị theo học tại các trường bình thường. Chỉ có 7% trẻ khiếm thị ở Anh quốc theo học tại các trường đặc biệt dành cho trẻ khiếm thị, so với 22% ở năm 1988. Có 31% theo học tại các loại trường đặc biệt khác. Điều này có nghĩa là nhiều trường học có trang bị thư viện sách dành cho người khiếm thị để học tập và giải trí.

     


    Back to Chapter index
    References. Tham khảo

    Bruce, I., McKennell, A., and Walker, E. (1991). Blind and partially sighted adults in Britain: the RNIB survey. London: HMSO.

     

    Bruce, I. and Baker, M. (2001). Access to written information – the views of 1000 people with sight problems. London: RNIB.

     

    Chartres, S. (1998). The leisure reading habits of visually impaired people using audio reading services - customer survey. Unpublished: RNIB.

     

    Clunies-Ross, L., Franklin, A., and Keil, S. (1999). Blind and partially sighted children in Britain: their incidence and special needs at a time of change. RNIB for the Nuffield Foundation.

     

    Crofts, K., Clery, L., Keil, S., Franklin, A. and Cole-Hamilton, I. (2001). The health and well being of blind and partially sighted children and young people aged 5 to 25. London: RNIB

     

    Davies J., Wisdom, S., and Creaser ,C. (2001). Out of sight but not out of mind – visually impaired people’s perspectives of library and information services. Loughborough University: Library and Information Statistics Unit.

     

    Ford, M., and Heshel, T. (1994). The In Touch 1994/5 handbook. London: published for BBC Radio 4 by Broadcasting Support Services.

     

    Franklin, A., Keil, S., Crofts, K., and Cole-Hamilton, I .(2001). The educational experiences of 5 to 16 year old blind and partially children and young people. London: RNIB

     

    Government Actuary’s Department website (http://www.gad.gov.uk/)

     

    Grundy, G., Ahlburg, D., Ali, M., Breeze, E. and Sloggett, A. (1999). Disability in Great Britain. London: DSS Research Report No. 94.

     

    Kinnell, M., Yu, Liangzhi and Creaser, Claire. (2000).
    Public library services for visually impaired people – report to the Library and Information Commission. Loughborough University: Library and Information Statistics Unit.

     

    Martin, J., Meltzer, H., and Elliot, D. (1988). OPCS surveys of disability in Great Britain, Report 1: The prevalence of disability among adults. London: HMSO.

     

    Moore, N. (2000). Review of research of the information needs of visually impaired people. Unpublished: RNIB.

     

    RNIB. (1997). All about registering as blind or partially sighted. London: RNIB.

     

    Simkiss, P., Garner, S., and Dryden, G. (1998). What next? The experience of transition. London: RNIB.

     

    Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Blind and partially sighted children in Britain: the RNIB survey. London: HMSO.


    Back to Chapter index
     Thư viện Khoa Học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh