| Written By Tác giả Peter Bosher, Ruth Loebl và Marret Wallace và Sally Cain (RNIB) hiệu đính | |
| Contents : Công nghệ hỗ trợ và trang thiết bị | |
| Skip to Navigation | |
| 13.1. | Giới thiệu |
| 13.1.1. | Môi trường thư viện |
| 13.1.2. | Tiếng ồn |
| 13.1.3. | Dịch vụ cơ bản |
| 13.1.4. | Tập huấn |
| 13.1.5. | Hỗ trợ của địa phương |
| 13.1.6. | Hệ thống nào? |
| 13.2. | Người nhược thị cần gì? |
| 13.2.1. | Kính và khoảng cách |
| 13.2.2. | Ánh sáng |
| 13.2.3. | Độ chói và phản xạ |
| 13.2.4. | Màu sắc |
| 13.2.5. | Định dạng ký tự |
| 13.3. | Một số cách để phóng đại chữ |
| 13.3.1. | Không dùng công nghệ hay dùng công nghệ cấp thô sơ |
| 13.3.2. | Kính quang optical |
| 13.3.3. | Kính quang Fresnel |
| 13.3.4. | CCTV_ Máy trợ thị |
| 13.4. | Đọc chữ khi bị mù hoàn toàn |
| 13.4.1. | Máy đọc chuyên dụng |
| 13.4.2. | Đọc tài liệu in bằng công nghệ máy tính |
| 13.5. | Truy cập tài liệu qua máy tính |
| 13.5.1. | Không dùng công nghệ hay dùng công nghệ cấp thô sơ |
| 13.5.2. | Cải tiến bàn phím máy tính |
| 13.5.3. | Cải tiến chuột máy tính |
| 13.5.4. | Màn hình lớn |
| 13.5.5. | Cải tiến màn hình bằng tính năng điều chỉnh của Windows |
| 13.5.6. | Cải tiến màn hình bằng phần mềm thông thường |
| 13.5.7. | Cải tiến màn hình bằng phần mềm chuyên dụng |
| 13.6. | Dùng máy tính có thiết bị đầu ra là chữ Braille hay giọng đọc |
| 13.6.1. | Đánh máy |
| 13.6.2. | Tập huấn sử dụng máy tính căn bản |
| 13.6.3. | Hệ thống phát âm |
| 13.6.4. | Hiển thị chữ Braille điện tử |
| 13.7. | Chế bản |
| 13.7.1. | Chữ Braille |
| 13.7.2. | In ấn |
| 13.7.3. | Chữ nổi |
| 13.8. | Mạng Internet |
| 13.8.1. | Trình duyệt web nói |
| 13.8.2. | Sử dụng các trình duyệt thông thường |
| 13.8.3. | Các ứng dụng Internet khác |
| 13.9. | Các sản phẩm chuyên dụng khác |
| 13.9.1. | Máy ghi nhớ và ghi âm |
| 13.9.2. | Nhận dạng giọng nói |
| 13.10. | Các địa chỉ liên hệ thư viện |
| 13.11. | Các nhà cung ứng |
| References. | Tham khảo |
| 13.1. | Giới thiệu |
"Tất cả bạn đọc của thư viện là người khiếm thị phải có quyền truy cập toàn bộ mục lục, cơ sở dữ liệu, vốn thông tin tài liệu cả dạng in lẫn điện tử bằng các phương tiện, công cụ và thiết bị đọc (Machell, 1996). Những trang thiết bị và công cụ sử dụng qua máy tính dành cho người khuyết tật thường được gọi là công nghệ “hỗ trợ”, “thích ứng”, “truy cập” hay “thay thế”. Theo dòng chảy của công nghệ, mọi sự thay đổi về trang thiết bị đó diễn ra rất nhanh và giá cả cũng như đặc trưng kỹ thuật của chúng thường xuyên bị thay đổi. Bên cạnh đó, thực tế là hệ thống truy cập và giao diện máy tính không dễ dàng để học cách sử dụng thông thạo, rào cản đối với những người cần dùng đến các phương tiện hỗ trợ này vẫn còn là điều đáng nói.
Công nghệ hỗ trợ bao gồm kính phóng đại, máy chụp hình phóng to và máy tính thiết bị đọc tài liệu in. Với những cách này người khiếm thị có thể đọc những tài liệu mà bằng những cách khác họ không thể đọc được hoặc khi thị lực họ không còn đủ để cho phép họ có thể đọc tài liệu in chữ lớn một cách thoải mái nữa.
“Công nghệ có thể cung cấp phương tiện cho người mù hay khiếm thị vượt qua những rào cản như nhu cầu đọc chữ in, sử dụng máy tính, ghi chú và giao dịch trên giấy tờ hay qua phương thức điện tử. Máy phóng đại chữ hay máy đọc, phần mềm nhận dạng chữ, phần mềm phóng đại, đọc màn hình và các thiết bị chữ nổi điện tử đều đóng góp phần nào để giải quyết nhu cầu nào đó của từng cá nhân. Máy ghi chú và khả năng in chữ Braille trên giấy bổ sung thêm cho việc sử dụng máy tính thông thường thuận lợi cho người khiếm thị sử dụng” (Cain, 2001).
Điều này nghe có vẻ hay nhưng với công nghệ phát triển nhanh thì cán bộ thư viện làm thế nào để biết được trang thiết bị nào tốt nhất để mua phục vụ cho khách hàng của họ? Cũng rất hữu ích nếu để nhân viên kiểm tra xem hệ thống trường học, hội người mù hay tổ chức từ thiện có nhận xét gì về hệ thống máy móc họ đang sử dụng, ngoài ra còn biết được người khiếm thị đã quen sử dụng loại nào rồi. Cũng rất có lợi khi nói chuyện với các cán bộ thư viện nơi khác để biết họ có những loại thiết bị nào để đánh giá độ hữu ích của những máy móc đó, có vấn đề trục trặc nào không. Người sử dụng thư viện muốn có dịch vụ nào? Họ thường hay hỏi chuyện gì? Công nghệ thay đổi nhanh chóng, và thực tế có nhiều quan điểm và thị hiếu khác nhau giữa những người khiếm thị, nghĩa là không có giải pháp nào đơn giản và chung nhất nào cho các hoạt động của thư viện trong bất cứ lĩnh vực nào. Chương này thảo luận về những chọn lựa phương tiện nhưng việc quyết định chọn mua còn tùy thuộc vào hoàn cảnh điều kiện từng nơi. Thông tin thường xuyên cập nhật từ RNIB trên các bộ hướng dẫn trong phần nội dung về các hình thức công nghệ hỗ trợ/ thích ứng hiện có tại Vương quốc Anh. Những tờ hướng dẫn này bằng chữ in, băng tiếng, chữ Braille, đĩa hay email từ RNIB TiLE (RNIB Công nghệ dùng trong học tập và công sở) hoặc có thể tìm thấy trên website của RNIB |
|
Back to Chapter index | |
| 13.1.1. | Môi trường thư viện |
Cửa vào thư viện nên có bảng chào và bảng biển chỉ dẫn rõ ràng, lọai bỏ chướng ngại vật đối với người khiếm thị. Có bảng hướng dẫn rõ ràng chỉ chỗ nơi có thiết bị sử dụng cho NKT sử dụng. Hướng dẫn thêm nên đọc ở Chương 12. Việc đặt để trang thiết bị là quan trọng. Nên chọn chỗ gần khu vực của nhân viên phục vụ để tiện cho việc nhân viên thư viện liên hệ nếu người sử dụng cần sự giúp đỡ nhưng cũng cần giữ khoảng cách đủ để có không gian riêng biệt cho họ. Cũng rất quan trọng để có chỗ làm việc dành riêng bên cạnh máy tính để đặt thêm các trang thiết bị như máy in chữ Braille, máy thu băng,…để tiện sử dụng. Khoảng không gian để máy phục vụ cũng nên để trống để tiện cho việc giữ chó dẫn đường.
Độ chói sáng có thể làm cho màn hình máy tính trở nên khó đọc. Điều này xảy ra đối với bất kỳ người sử dụng máy tính nào nhưng đặc biệt cần lưu ý đối với người có thị lực bị hạn chế. Ánh sáng mặt trời trực tiếp có thể làm giảm khả năng nhìn màn hình – màn hình nên có kính che chắn tránh ánh nắng mặt trời và các nguồn sáng khác. Các nguồn sáng phụ khác như đèn ở các góc cũng nên có cho một số người yêu cầu trong khi đó, những người khác vẫn nhìn tốt bằng nguồn sáng mức độ thấp hơn. Ở các chỗ đặt máy tính cũng cần chú ý đến trang bị ghế ngồi có thể điều chỉnh được.
Nhiều người bị khiếm thị có thể xem được hình ảnh nếu chúng được phối màu tốt hơn. Chọn lựa màu phổ biến nhất thường theo cách pha màu sáng/tối, trắng trên đen, hay ngược lại, vàng trên đen và ngược lại. Không có hai người sử dụng nào muốn cùng một độ tượng phản màu, kích cỡ chữ hay kiểu chữ giống nhau. Nên rất có ích nếu cho phép lựa chọn màu trong bất kỳ máy tính nào. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.1.2. | Tiếng ồn |
Điều quan trọng là nhớ đặt trang thiết bị ở khu vực nào trong thư viện tránh xa những tiếng ồn ào từ phía bên ngoài. Để đảm bảo NKT không bị phân tán trong khi sử dụng trang thiết bị này. Cũng rất quan trọng nên cung cấp tai nghe kèm với máy tính có bộ phận phát âm để đảm bảo người nghe có góc riêng tư trong khi sử dụng dịch vụ và cũng không làm phân tán các bạn đọc khác sử dụng thư viện. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.1.3. | Dịch vụ cơ bản |
Do tài chính eo hẹp, thư viện không thể cung cấp đủ các công nghệ hỗ trợ cho tất các các điểm phục vụ nhưng có một số trang thiết bị cơ bản thì nên trang bị cho tất cả thư viện như máy photo phóng to. Máy này có thể giúp một số NKT phóng lớn một số văn bản hay tài liệu cá nhân của họ đến một kích cỡ nào đó mà họ thấy dễ đọc hơn. Tất cả các thư viện cũng nên cung cấp nhiều loại kính lúp cầm tay khác nhau về kích cỡ và độ nặng (xem phần 13.3) cho cả việc sử dụng tại thư viện và mang về nhà. Điều này cho phép người sử dụng thử trong thời gian ngắn, thấy hiệu quả thì mua để sử dụng ngay tại nhà, về dùng trong thời gian dài cho đến khi họ không cần phương tiện đó nữa. Dịch vụ này có thể phối hợp với Dịch vụ xã hội hay các phòng khám mắt nhược thị. Việc chọn các bệ đọc sách cũng nên chú ý đến.
Trong hầu hết các thư viện cỡ vừa và lớn, máy phóng hình CCTV cũng nên có. Các thiết bị khác cũng nên trang bị như máy tính màn hình lớn với phần đọc hay phần mềm đọc, phần mềm phóng to chữ hay các trình duyệt web nói chung.
Nghiên cứu gần đây được HumanITy (HumanITy, 2000) thực hiện do yêu cầu của Ủy ban Thông tin Thư viện để kiểm tra xem những phương tiện được đánh giá là tốt nhất trong việc tăng cường khả năng truy cập thư viện dựa vào dịch vụ cho NKT bằng công nghệ thông tin truyền thông, đặc biệt trong môi trường nối mạng. Báo cáo này cho biết những đặc điểm kỹ thuật tối thiểu cần có cho phần cứng máy tính; và bảng đánh giá kết quả hệ thống vận hành các phần mềm cho biết là Windows NT hiện nay cung cấp chức năng hỗ trợ truy cập tốt nhất cho NKT. Mặc dù viết bằng ngôn ngữ chuyên ngành, các đặc trưng kỹ thuật khuyến nghị cũng rất có giá trị cho nhân viên Tin học thư viện, và nó được kèm theo trong bảng Phụ lục A3 |
|
Back to Chapter index | |
| 13.1.4. | Tập huấn |
Chọn hệ thống nào là tốt nhất cho thư viện thì cũng phải tập huấn nhân viên cách sử dụng các trang thiết bị đó.Tất cả nhân viên nên được tập huấn và bất cứ lúc nào có thể thì mời cả NKT cùng tham gia những đợt tập huấn này. "Nhiều người khiếm thị khi vào thư viện sẽ cần đến sự hỗ trợ nhiều, đặc biệt khi họ là độc giả mới. Họ cần cảm thấy tự tin để mạnh dạn yêu cầu sự hỗ trợ và đến lượt nhân viên cũng cần cảm thấy tự tin để phục vụ cho người sử dụng. Nhân viên cần nhận thức những khó khăn mà NKT gặp phải. Sự hiểu lầm đôi khi xảy ra do thiếu kiến thức hiểu biết dễ dàng làm cản trở người sử dụng yêu cầu sự giúp đỡ thêm lần nữa” (Brophy và Craven, 1999).
Phương tiện và trang thiết bị thường không phải là dễ điều khiển và thiết kế hợp lý cho người khiếm thị trừ phi nhân viên thư viện có thể hỗ trợ người sử dụng khi họ đến thư viện, nên chuẩn bị câu trả lời và hướng dẫn trực tiếp cho từng cá nhân về việc sử dụng từng loại phương tiện nếu không có đợt tập huấn chung. Thông tin thêm về khả năng tập huấn có thể đọc ở phần 13.6.2 và tài liệu hướng dẫn của TiLE.
Tập huấn bao gồm: a) Nhận thức về khuyết tật về thị lực; b) Kỹ năng thực hành và cách giao tiếp thích hợp như làm thế nào hướng dẫn NKT; c) Nhu cầu thông tin và thư viện của NKT; d) Chức năng sử dụng từng loại thiết bị; e) Quy trình cơ bản để vận hành máy; Một số hệ thống truy cập máy tính không dễ gì để học cách sử dụng nhưng cần thiết đảm bảo cho tất cả nhân viên có thể thực hành các động tác cơ bản như tắt mở thiết bị, hướng dẫn cơ bản cho người dùng máy, chỉnh sửa cơ bản hay điều chỉnh một số chức năng của trang thiết bị khi người sử dụng có yêu cầu.
Nhiều nhà cung ứng cung cấp một số chương trình tập huấn như một phần của chương trình mua bán trọn gói và dịch vụ này cũng có thể có thêm một phần là tập huấn cho nhân viên. Cũng có những đợt tập huấn ở các trường đại học hay hội người mù ở địa phương. Chi phí tập huấn nên lồng ghép vào bất kỳ nguồn kinh phí nào dùng để mua trang thiết bị công nghệ hỗ trợ và chỉnh sửa.
Đối với người sử dụng mới, thủ thư nên khuyến khích tư vấn họ nhắm vào mục đích đáp ứng nhu cầu cụ thể của độc giả hơn là biểu diễn hết tât cả các tính năng kỹ thuật mà các máy móc có được.
Hướng dẫn sử dụng máy tính nên được trình bày chi tiết. Câu viết nên ngắn gọn xúc tích đơn giản. Các thông tin hướng dẫn quy trình nên nói rõ khi nào và thực hiện bước kế tiếp thế nào cho rõ ràng. Các văn bản hướng dẫn cũng nên viết bằng nhiều hình thức chữ chuyển dạng. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.1.5. | Hỗ trợ của địa phương |
Rất quan trọng để tìm ra các tổ chức từ thiện, trường học nào dành cho người mù và sinh viên mù để hợp tác và làm việc với họ. Nhân viên thư viện làm việc gần gũi với các trung tâm dịch vụ bảo trợ xã hội hay trung tâm mắt là điều cần thiết. Các tổ chức từ thiện có thể tổ chức tập huấn và thường là họ cũng không muốn biết ai làm việc gì. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.1.6. | Hệ thống nào? |
Cũng nên khuyến khích thư viện nên đi tìm hiểu kỹ càng thông tin về các nhà cung ứng lớn các trang thiết bị hỗ trợ. Có rất ít người đủ kiến thức để có thể giải quyết được đầy đủ mọi vấn đề và nhiều loại trang thiết bị khi mua đòi hỏi phải tương thích nhau. Một số câu hỏi cần thiết trước khi quyết định mua: - Tôi muốn mua cái đó để làm việc gì? - Nó vận động thế nào? - Chúng có cần thiết bị hỗ trợ không? - Có tập huấn không? - Bảo trì thế nào?
Ban Công nghệ Học tập và Việc làm của RNIB thường có những tờ thông tin cập nhật thường xuyên để giới thiệu những dịch vụ thông tin công nghệ qua điện thoại hay email. Thường có những thông tin cơ bản về các trang thiết bị mới và giá cả của chúng. Thông tin chi tiết về dịch vụ này đang ở cuối chương và những tờ tin cũng được đề cập đến ở các phần liên quan trong chương tiếp theo. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.2. | Người nhược thị cần gì? |
RNIB xuất bản bốn tờ tin 'See for Yourself', để cho những lời khuyên về cách bảo vệ và sử dụng mắt bạn một cách tốt nhất. Có thể đặt qua Dịch vụ Khách hàng của RNIB 0845 702 3153. Có một số cách rất đơn giản hỗ trợ cho việc đọc dễ dàng hơn cho người vẫn còn chút ít thị lực mà không phải tốn tiền nhiều hay phải sử dụng các loại máy móc quá phức tạp. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.2.1. | Kính và khoảng cách |
Các loại kính khác nhau được dùng trong nhiều mục đích sử dụng khác nhau như để đọc hay để chạy xe hay sử dụng ở nhiều khoảng cách khác nhau. Để đọc chữ, kính cận hay kính đọc thường luôn được sử dụng. Màn hình máy tính, tuy nhiên, thường là có khoảng cách trung gian xa hơn việc cầm sách đọc nhưng không đến nỗi quá xa đến nỗi phải dùng kính viễn thị. Những kính đặc biệt dùng cho thiết bị hiển thị đôi khi cũng được yêu cầu, trong các trường hợp nhìn xa để thấy rõ nhất. Chuyện này hầu như là có thể làm được một cách dễ dàng với các loại màn hình hay máy trạm mà có thể điều chỉnh độ cao hay độ xa. Những loại này có thể tìm mua ở các nhà cung ứng thiết bị văn phòng loại mà có thể gắn trên tường hay bàn và thường rất nặng. Một giá đỡ có thể cần có để đỡ được sức nặng của màn hình lớn. Một giá điều khiển có thể trị giá lên đến 150 bảng Anh. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.2.2. | Ánh sáng |
Mức độ sáng thường là yếu tố chính để giúp nhìn rõ và tùy thuộc vào sở thích từng cá nhân. Một số người đọc dễ dàng nhất đối với loại ánh sáng mạnh chiếu trực tiếp vào trang sách, người khác thì lại ưa dùng ánh sáng yếu hơn nhưng lan tỏa rộng hơn. Đèn phụ là cách tốt nhất để điều chỉnh được nhu cầu sử dụng và thường là đèn huỳnh quang tỏa ánh sáng đồng đều được ưa sử dụng hơn (Wright, 1999). Một cái đèn như vậy có thể có tại các nhà cung ứng thiết bị văn phòng thông thường với giá ít hơn 50 bảng. Một trong số các bộ hướng dẫn 'See for Yourself' cũng đề cập đến chuyện ánh sáng. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.2.3. | Độ chói và phản xạ |
Một yếu tố liên quan đến ánh sáng là sự chói: giấy trắng có thể làm người đọc bị phản quang nhiều hơn và làm cho khó đọc hơn. Để ngăn chặn hiện tượng này, một số người phủ một tấm nhựa màu trong suốt hoặc loại giấy acetate để giảm bớt độ sáng. Có thể tìm được các loại giấy này tại các cửa hàng bán văn phòng phẩm hay dưới dạng các túi đựng tài liệu. Màu nào là tốt nhất thì chỉ có thể dựa trên kinh nghiệm cá nhân mà thôi. Màn hình máy tính chống chói và phản quang thì có thể chuyển vị trí đặt máy để tránh sáng từ cửa sổ hay từ bóng đèn tròn hay dài phản chiếu lại người xem, hoặc dời những người mù hoàn toàn đến khu vực cửa sổ. Những màn hình lọc chất lượng cao cũng có thể giúp ích được nhưng không giảm độ tương phản màu hay tránh chói được nhiều. Màn hình lọc 21 inch có thể tốn đến 120 bảng. Loại rẻ hơn thì không nên dùng vì có thể có chất lượng không cao. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.2.4. | Màu sắc |
Nhiều người (có thể coi là bị mù màu) thường thấy được một màu số phối hợp tốt với nhau nên đọc được dễ hơn. Điều này có thể xảy ra vì độ tương phản cao nhất hay độ chói giảm xuống thấp nhất (được mô tả ở phần 13.2.3 ở trên) Khung màu chỉnh sẵn trên màn hình máy tính có thể được áp dụng, điều chỉnh, và lưu lại để có thể sử dụng lại cho những các nhân vật thường hay sử dụng máy tính trong thư viện. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.2.5. | Định dạng ký tự |
Loại chữ in (kiểu chữ) có thể ảnh hưởng đến tính dễ đọc của văn bản. Theo nghiên cứu của RNIB về loại chữ nào tốt nhất cho người khiếm thị (cả trên màn hình hay trên giấy), những chữ chân phương và ít kiểu cọ sẽ dễ đọc hơn như Arial, Universal hay Helvetica thì dễ đọc hơn là kiểu chữ có nét sổ nhiều như kiểu Times hay những kiểu mà khoảng cách chữ không đổi như Courier. Văn bản không canh lề thì dễ lướt theo hơn là loại canh lề đều hai bên, dùng cả chữ in và hoa phối hợp hơn là chỉ dùng mỗi loại chữ hoa vì chiều cao hay hình dạng chữ dễ nhận ra hơn. Các tờ tin của RNIB cho biết cách làm sao để dễ tiếp cận thông tin hơn qua các bộ ‘The See it Right Pack’ (RNIB, 2001). 'Clear print hints and tips' có thể tìm thấy trên website của RNIB (www.rnib.org.uk/seeitright/whyaccess.htm). Rất tốt để tham khảo các hướng dẫn này để biết cách in tài liệu cho người sử dụng, và để chọn chế độ mặc định thích hợp trên máy tính cho tất cả mọi người chứ không chỉ riêng cho người có vấn đề về thị lực |
|
Back to Chapter index | |
| 13.3. | Một số cách để phóng đại chữ |
Hầu hết những người nhược thị đọc được chữ phóng to ra, nhưng với hầu hết các trường hợp khiếm thị, chuyện này không phải luôn là như vậy! Tuy nhiên, cứ tạm nghĩ là nghĩ là chữ càng to hơn thì càng nhìn rõ hơn. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.3.1. | Không dùng công nghệ hay dùng công nghệ cấp thô sơ |
Làm giảm khoảng cách từ mắt đến chữ đọc có thể giúp cho chữ phóng to hơn, vì thế việc cầm sách gần hơn cũng là một cách hữu hiệu để phóng to chữ. Nếu một người cúi xuống để đọc trên bề mặt nằm ngang, có lẽ do cuốn sách nặng quá và khó có thể giữ sách trong một thời gian, hay là lúc cần dùng tay để ghi chú. Thao tác này làm mỏi lưng và cổ và nếu lâu dài sẽ gây thêm nhiều triệu chứng xấu khác nữa. Nâng sách bằng các giá bệ đỡ, hay dùng các kẹp giữ sách có thể là cách hiệu quả để đọc rõ hơn mà không bị các phản ứng phụ đáng tiếc xảy ra. Những thiết bị này có ở các nhà cung ứng thông thường với giá dưới 100 bảng Anh. Sách khoa học bằng chữ lớn thì thường hay có, nhưng nếu sách in chữ thông thường thì cũng có thể phóng to các đoạn cần đọc bằng máy photo, mà không sợ bị phạm luật bản quyền.
Có thể khó khăn trong việc dùng giấy khổ lớn, vì thế hãy xem xét các dạng thay thế được, hay photo khổ giấy A4 chiều dọc thành hai khổ A4 chiều ngang hơn là vừa với khổ cỡ của tờ A3. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.3.2. | Kính quang optical |
Có nhiều loại kính phóng đại mà thường đó là phương tiện đầu tiên mà những người có vấn đề về mắt sẽ nghĩ đến trước tiên. Có nhiều loại phù hợp với nhiều độ thị lực khác nhau, trong đó có một số rất tốt cho người nhược thị, thường là do trung tâm mắt hay khoa mắt bệnh viện chỉ định. Có khá nhiều loại rất phổ biến. Kính lúp cầm tay để sử dụng và dễ đem theo. Kính phóng đại đặt một chỗ cũng tương tự như vậy để mà người sử dụng thuận tiện cho việc ghi chép . Máy phóng đại chiếu sáng có thêm nguồn sáng (có pin) nhưng cần phải cầm để nó tựa trên bề mặt giấy. Thanh và vòm kính phóng đại còn tùy thuộc vào loại giấy, và nếu phóng to một khu vực hay theo dòng thì rất đơn giản. Một số cửa hàng bán đồ trang trí và lưu niệm cũng bán kính lúp có tròng kính thích hợp cho từng người sử dụng, và có thể có vòng ánh sáng huỳnh quang để chiếu sáng chỗ cần làm rõ. Một số người ngồi và dùng kính hiển vi loại ống kính đôi hay đơn. Đọc trên màn hình máy tính cũng nhằm mục đích để giữ tầm mắt xa ra. Tròng kính phóng đại loại này hay loại khác có thể tìm thấy ở các trung tâm mắt nhược thị như Partially Sighted Society, hoặc công ty như Horizon và Optima Low Vision Services.
Vấn đề chính của tất cả loại kính này là độ mạnh của tròng kính, đường kính càng nhỏ, thì giảm lượng vật thể có thể nhìn được mà không cần di chuyển kính. Dùng kính mạnh nhất thì có ít hơn một chữ thấy được. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.3.3. | Kính quang Fresnel |
Ống kính Fresnel thường dùng dạng tờ nhựa với các vòng để hội tụ ánh sáng. Và cho mức độ phóng đại thấp nhưng sẽ phủ được khu vực rộng. Chất lượng nhìn được khá kém, và việc phóng to tương tự thế thì có thể thực hiện bằng cách xê dịch ống kính cho gần hơn. Ống kính loại này có thể dùng cho tivi và màn hình máy tính, và có giá lên tới £100 (phụ thuộc vào kích thước màn hình). |
|
Back to Chapter index | |
| 13.3.4. | CCTV_ Máy trợ thị |
Máy trợ thị cũng thường gọi là CCTVs gồm máy chụp và màn hình, và được thiết kế để trình bày hình ảnh phóng to của chữ hay vật trên màn hình. Máy chụp có thể cầm tay hay nằm trên giấy (giống như con chuột máy tính), hay dạng có bệ đứng và màn hình có thể là màn hình tivi hay màn hình máy tính. Có rất nhiều kiểu khác nhau để chọn lựa, nhưng tất cả đều có tính năng chung như khả năng thay đổi kích cỡ chữ hay chuyển đổi màn hình để chữ trắng xuất hiện trên nền đen hơn là chữ đen trên nền trắng.
Tính năng quan trọng nhất để xem xét khi chọn mô hình cho môi trường thư viện như tính linh hoạt để thích ứng với hàng loạt nhu cầu khác nhau của người sử dụng: a) khả năng thay đổi độ cao của màn hình; b) khả năng thay đổi màu sắc phối hợp được sử dụng để hiển thị chữ (đôi khi gọi chế độ nửa màu); c) tự động chú ý, mà không cần người sử dụng phải chú ý nhìn vào màn hình nếu khoảng cách từ họ đến chữ xa hơn đáng kể (ví dụ tương tự như khi đang đọc 1 trang giấy mỏng chuyển qua đọc 1 cuốn sách dày); d) nhu cầu cần điều chỉnh màu đầy đủ cũng như chế độ một gam màu hay độ hiển thị sáng/ bóng. Có sự chênh lệch giá lớn giữa chương trình mua dùng ở nhà (ít hơn £300) và mua để dùng trong công sở hay trường học (hơn £1,000). Chất lượng hình ảnh, tính dễ sử dụng, và một số tính năng khác có thể làm tăng giá thành sản phẩm. RNIB TiLE cũng đã cho thông tin chi tiết về phần mềm phóng đại hình ảnh có trên thị trường của Vương quốc Anh. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.4. | Đọc chữ khi bị mù hoàn toàn |
Máy đọc đã có mặt trong thư viện từ lâu, một số công nghệ mà chúng tuân thủ là quét và dùng bộ nhận dạng chữ - hiện nay gần như hoàn toàn hòa vào dòng công nghệ chung, và hiện cho phép giảm giá thành chi phí xuống đáng kể. Người đọc đặt tài liệu lên bàn kính của máy quét, nó sẽ chụp hình đó như máy photocopy. Hình ảnh này được chuyển qua phần mềm nhận dạng chữ, và sau đó phát âm thanh lớn ra từ hệ thống đọc mà người sử dụng có thể điều chỉnh được. Máy quét hiện nay rất rẻ, và phần mềm nhận dạng chữ hiện nay đạt độ chính xác cao. Thậm chí còn có thể chỉnh sửa kiểu cỡ chữ, chuyển đổi dạng văn bản. Tuy nhiên một số hạn chế vẫn còn gặp phải như chữ viết tay thì vẫn không nhận ra, nền màu, giấy bị nhăn, bảng fax không rõ, bảng biểu và văn bản in ở một góc có thể cũng không nhận dạng được. Chữ rõ thì có thể nhận dạng chính xác đạt đến 99%, mặc dù lỗi có thể vẫn có và lỗi đó đôi khi làm người nghe cảm thấy bực bội.
TiLE đã có một bản thông tin chi tiết về tất cả các dạng máy đọc và phần mềm OCR hiện có trên thị trường. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.4.1. | Máy đọc chuyên dụng |
Có nhiều loại máy đọc chuyên dụng, mà hệ thống điều khiển được thiết kế càng đơn giản càng tốt. Nhấn một nút để bắt đầu và ngừng để thực hiện việc quét tài liệu và đọc, và các phím khác cho phép người đọc đọc từng từ hay thậm chí từng chữ. Một số đặc tính khác mà người sử dụng yêu cầu tệp tin quét xong lưu vào đĩa hoặc chép ra băng. Những máy này giá thành từ 1000 bảng đến 2700 bảng nếu so với các bộ phận cấu thành cũng tương đương như gồm máy tính, máy quét, phần mềm OCR và hệ thống đọc thì máy chuyên dụng này khá đắt nhưng rất tiện lợi vì việc sử dụng đơn giản hơn nhiều. Chúng không đòi hỏi phải biết nhiều về máy tính, nếu cách sử dụng giống như máy cassette thì tiện lợi hơn là máy tính. Hiệu của các loại này là Pronto (Modern World Data), Galileo (Modern World Data), Aladdin Ambassador (PulseData, Telesensory), Lesefix 2000 (Professional Vision Services) và Portset Reader (Techno-Vision and Concept Systems). |
|
Back to Chapter index | |
| 13.4.2. | Đọc tài liệu in bằng công nghệ máy tính |
Một máy tính thông thường có thể chuyển thành máy đọc có máy quét, phần mềm OCR và bộ phận phát âm. Một máy quét đầy đủ với gói phần mềm OCR có thể bỏ ra 50 bảng để mua, nhưng độ chính xác, tốc độ hay độ ồn có thể trả giá thành sẽ cao hơn nhiều. Theo quan điểm công nghệ, có khi dùng máy chuyên dụng thì đơn giản hơn vì nếu không người sử dụng phải cần có kiến thức về máy tính cơ bản như cách sử dụng phần mềm đọc màn hình để điều khiển đầu ra của âm thanh. Cũng có thể kết nối với màn hình chữ nổi điện tử vào máy tính, tạo thành máy đọc cho một người vừa câm vừa điếc. Cách sử dụng thiết bị đọc và chữ Braille điện tử trong máy tính được mô tả ở phần 13.6. Phần mềm OCR thường biết đến là TextBridge Classic và OmniPage Lite thường kèm với hợp đồng mua máy quét. Chúng được thiết kế cho người sáng và có cả tính năng mà không phù hợp với người không nhìn thấy được ví dụ phải cầm giữ trang giấy và chỉnh sửa các trang đồ họa. Cũng có loại giá thành cao hơn như phải có đầy đủ tính năng TextBridge (Action Computer Supplies, Concept Systems, RNIB) và OmniPage (Action Computer Supplies), và các gói OCR đầy đủ khác như Kurzweil 1000 (RNIB, Sight and Sound), Cicero (Concept Systems, Dolphin, Pulsedata), Open Book (RNIB, Blazie), Scan and Read Pro (Modern World Data) và Recognita (Professional Vision Services), chuyên biệt thiết kế dành cho người khiếm thị. Trong nhiều trường hợp, các gói chuyên dụng cũng có chung tính năng với máy đọc chuyên dụng và giá của phần mềm từ 100 đến 800 bảng. Những phần mềm này loại ra các tính năng không thích hợp với nhóm đối tựơng sử dụng và có thể xuất hiện dạng văn bản cho người sử dụng nào vẫn còn nhìn được chút ít.
Sự lựa chọn phần mềm giữa OCR chuyên dụng và thông thường thì thường có sự mâu thuẫn giữa giá cả và độ tiện dụng. So với ứng dụng chung, phần mềm chuyên dụng: a) đảm bảo làm việc như máy đọc dành cho người mù, ví dụ như bộ phận đọc sẽ được thử với phần mềm; b) sẽ loại đi những tính năng không phù hợp, ví dụ vấn đề xử lý đồ họa; c) không nhận ra chi tiết đồ họa trên trang giấy; d) loại bỏ tính năng thiết kế cho người nhược thị ví dụ việc chỉnh sửa độ tương phản màu sắc của dạng văn bản; e) tự động định dạng văn bản để trình bày thành một hình thức trình bày liên tục mà không có cột, v.v.; f) đắt tiền hơn nhiều so với phần mềm thông thường. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.5. | Truy cập tài liệu qua máy tính |
Máy tính hiện nay rất phổ biến ở các khu vực phục vụ của thư viện để bạn đọc có thể tự tra cứu mục lục điện tử, lướt web hay sử dụng thư điện tử. Ngày càng có nhiều thư viện muốn có mô hình dịch vụ dùng công nghệ truy cập phục vụ người khuyết tật những người vốn là đối tượng hay bị loại khỏi cuộc cách mạng điện tử. Có nhiều loại trang thiết bị có thể thích hợp cho đối tượng này với chức năng tương tự như một máy tính, một số thì rẻ và đơn giản, và một số khác thì cao cấp và cũng đắt tiền hơn nhiều. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.5.1. | Không dùng công nghệ hay dùng công nghệ cấp thô sơ |
Khá nhiều ý tưởng đơn giản để cải thiện màn hình được giới thiệu ở phần 13.2 và 13.3 như trên. Những điều này gồm: a) dùng kính thích hợp để đọc b) đặt màn hình gần hơn bằng cách dùng tay đỡ dễ điều khiển di chuyển màn hình và giúp giảm chói và phản chiếu sáng lại từ cửa sổ hay ánh sáng từ phía trên; c) dùng màn lọc màn hình chống chói chất lượng cao; d) chọn khung màu màn hình tối đa để tự cá nhân người sử dụng quyết định chọn các giá trị màu mà họ thấy dễ coi nhất cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ chọn riêng cho ngừơi khiếm thị; e) ứng dụng kính Fresnel (xem phần 13.3.3 ở trên ). |
|
Back to Chapter index | |
| 13.5.2. | Cải tiến bàn phím máy tính |
Một phương tiện rẻ và đơn giản hơn cho người còn nhìn thấy chút ít nhưng không quen dùng bàn phím thông thường là cải tiến các ký tự trên bàn phím. Cách dễ làm là dán một loại nhãn dính vào các ký tự rõ và lớn hơn hay phủ lên toàn bộ nguyên một bộ găng mà đã có các ký tự đã in trên đó. Nếu dùng nhãn dính thì toàn bộ bàn phím của máy tính khác cũng cần làm cho chỗ khác nếu có yêu cầu. Với bộ găng, có thể lấy ra dễ dàng để chuyển qua bộ máy tính khác khi có yêu cầu. Giá thành từ 10 đến 25 bảng Anh, nhãn dính có thể tìm thấy ở Dolphin Systems and Concept Systems, và KidGlove bán các bộ găng bàn phím. Cũng quan trọng là nên có bàn phím thông thường. Rất có ích tham khảo ở cơ quan kiểm định về bộ phận thiết bị đầu ra là những thiết bị có lợi cho người còn nhìn được chút ánh sáng. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.5.3. | Cải tiến chuột máy tính |
Điểm chuột hay con trỏ thông thường rất khó định vị trên màn hình, và có rất nhiều cách để cải thiện nó. Tùy thuộc vào đĩa cài đặt chuột mà có số lớn các tính năng khác nhau. Hộp thoại xuất hiện khi chức năng chuột được chọn từ hộp điều khiển (control panel) của Windows sẽ cho biết các chức năng có thể có cho một đĩa cài đặt chuột cụ thể. Bao gồm các điều sau: a) điểm trỏ của chuột lớn hơn; b) điểm trỏ chuột có màu ; c) hình dạng di động của con trỏ; d) dấu vết con trỏ chuột dễ nhận ra bằng cách cách xếp chồng nhiều lần lên nhau hình ảnh con trỏ và sáng lên mỗi khi chuột di chuyển; e) một bộ phận định vị để thông báo vị trí con chuột trên màn hình; f) một tính năng tự động di chuyển con trỏ chuột trên màn hình bằng một nút mặc định.
Có nhiều tiện ích của con chuột máy tính như phần mềm, cho đủ các loại tính năng. Nên nhớ nếu có phần mềm điều chỉnh được thì cần nhớ đến điều chỉnh chuột, kết hợp tiện ích giữa hai bên cho hài hòa tương thích để không bị trường hợp xung đột do không chúng tương thích nhau. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.5.4. | Màn hình lớn |
Rất dễ dàng để thay thế màn hình máy tính thông thường với loại lớn hơn. Màn hình thông thường như dùng công nghệ Cathode Ray Tube (CRT), tương tự như loại dùng trong TV. Đơn vị dùng để đo màn hình là inch, nhưng thực ra khu vực diện tích nhìn thấy thường ít hơn 1 inch. Thông thường chúng ta hay thấy màn hình 14 inch nhưng kích thuớc nhà sán xuất ghi là màn hình 15 inch. Hiện loại 17 inch rất phổ biến và thậm chí 21 inch cũng không phải là hàng hiếm như trước đây nữa. Màn hình phẳng RT rất có ích cho việc giảm chói và phản chiếu lại và một số có chất phủ chống chói. “Màn hình phẳng” có nhiều loại khác nhau, dùng loại LCD với công nghệ bộ bóng bán dẫn màn hình mỏng như thường thấy ở máy tính xách tay. Không cần phải chiếu sáng thêm và nó chiếm khỏang không gian rất nhỏ, màn hình TFT có nhiều thuận tiện là nó cho hình ảnh hoàn toàn đều đặn mà không bị triệu chứng bị nhấp nháy. So với màn hình CRT thì nó đắt tiền hơn nhiều nhưng so với công nghệ phát triển hiện nay thì giá thành LCD thực ra đã giảm đi rất nhiều so với lúc mới xuất hiện trên thị trường. Một màn hình CRT 19 inch và một LCD TFT khoảng 15 inch gần 300 bảng Anh nếu đặt hàng từ cửa hàng trực tiếp bán sản phẩm của nhà máy.
Nếu màn hình lớn hơn 24 inch thì giá cả rất đắt, và màn hình lớn như vậy thì cồng kềnh, nặng nề, và khó bố trí. Chúng ít khi thích hợp với người khiếm thị vì mặc dù có màn hình lớn, khoảng cách từ mắt đến góc của màn hình thì thường quá xa để có thể nhìn thuận tiện. Những người còn có thể nhìn được chút ít thì có thể ngồi cao lên để nhìn lên phía trên màn hình rõ hơn và như thế thì rõ ràng là không tiện lợi chút nào. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.5.5. | Cải tiến màn hình bằng tính năng điều chỉnh của Windows |
Có thể dùng chức năng của Windows để thay đổi sự xuất hiện của màn hình kể từ phiên bản 3.1, nhưng với những version mới đây thì việc điều chỉnh dễ dàng tìm ra và điều chỉnh thuận tiện hơn. Những phiên bản cũ thì những tính năng này bị giấu trong các tệp hệ thống hay trong bảng điều khiển (Control Panel), một bảng điều chỉnh khả năng truy cập nhanh (Accessibility Wizard) trên phiên bản Windows 98 cho nhiều chọn lựa để mọi người đều có thể dễ dàng sử dụng.
Các yếu tố màn hình chạy trên Windows có thể thay đổi gồm: a) kích cỡ trình bày tiêu đề và trình đơn; b) độ phân giải màn hình: đó là số độ của hình ảnh trên màn hình; độ phân giải thấp thì chấm lớn hơn và ít hơn trên màn hình rộng hơn; c) kích cỡ thanh cuộn và khuôn của cửa sổ; d) kích cỡ các biểu tượng chương trình và các nhãn đính kèm; e) khung màu của tất cả các cửa sổ thì người sử dụng chọn lựa hay thiết kế trước.
Mặc dù tính năng chọn lựa của Windows đều được dựng sẵn, vẫn còn nhiều khu vực nơi mà gam màu và kích cỡ chữ có thể tùy biến nhưng khi chọn thì không được đáp ứng. Nhiều hộp thoại tin nhắn bị lỗi nên khi điều chỉnh sẽ không thể làm phóng to kích cỡ chữ lên được. Nhiều ứng dụng tự thiết lập khung màu theo cách riêng mà không dùng màu mặc nhiên của Windows cho. Một số ứng dụng có thêm tính năng như khả năng trình bày các nút lớn trên trình đơn hay điều chỉnh văn bản trình bày ở kích cỡ lớn hơn đến 100% (tính năng này luôn có trên thanh công cụ trên Microsoft Office).
Một nghiên cứu báo cáo gần đây do Ủy ban Thư viện và Thông tin thực hiện kiểm tra khả năng cho phép người khiếm thị chỉnh sửa cài đặt trên máy tính và các phương tiện để họ chuyển sang cài đặt trên toàn hệ thống hay máy trạm. Báo cáo của HumanITy (HumanITy, 2000) chỉ ra việc sử dụng Windows NT sẽ hỗ trợ ứng dụng truy cập tốt nhất, mà mạng thư viện có thể hỗ trợ cho cả người sáng lẫn người khiếm thị chỉ cần chỉnh sửa chút ít trong cấu trúc hệ thống của mạng chính. (Xem phần Phụ lục A3). |
|
Back to Chapter index | |
| 13.5.6. | Cải tiến màn hình bằng phần mềm thông thường |
Nhiều phần mềm có các ứng dụng để làm phóng to màn hình lớn như có thể theo nhiều cách khác nhau. Một trong những cách chung nhất là dùng Microsoft Magnifier, đầu tiên xuất hiện trên phiên bản Windows 98, hiện có trên Windows 2000 và XP. Ứng dụng trong các phiên bản mới này này có thể có chức năng phóng to hình ảnh khu vực xung quanh con trỏ tức chỉ chú trọng vào phần quan trọng mà người đọc quan tâm ví dụ khi lướt chuột thì trình đơn được tô sáng lên. Trong khi chương trình Magnifier có một số tính năng có ích như khả năng theo dấu vết con trỏ hay chuyển đổi màu màn hình. Tính năng phóng đại khu vực nơi con trỏ định vị có thể ít khi được sử dụng trong khi đang đánh văn bản, mặc dù nó có thể có ích trong khi sử dụng Internet. Một số chương trình đồ họa được quảng cáo có tính năng phóng đại thì nên nhớ phải kiểm tra để xem nó có ích gì không cho NKT hay nó chỉ thiết kế nhằm làm cho người bình thường có thể thấy rõ các chi tiết của hình họa mà thôi. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.5.7. | Cải tiến màn hình bằng phần mềm chuyên dụng |
Sản phẩm phóng to màn hình trên thị trường hiện nay hiện rất mạnh và phức tạp dành riêng cho mục đích phục vụ người khiếm thị. Có các sản phẩm như Lunar (Concept Systems, Dolphin, Visionaid, Visualeyes), ZoomText Xtra (Concept Systems, RNIB, PulseData, Sight & Sound, Visionaid, Visualeyes), Magic (Sight & Sound, Professional Vision Services, Blazie), Magnice (Choice Technology) and Argus 3000/I (Visualeyes, Visionaid). Giá thành từ £80 đến £320, trừ Argus vì là sản phẩm phần cứng phóng đại nên giá lên đến £3.000. Giá cả phụ thuộc vào số giấy phép, hệ điều hành, và dùng cho 1 máy hay dùng toàn mạng. Một số cải tiến màn hình có thể được nối mạng, vì thế nó có thể truy cập từ bất cứ máy trạm nào. RNIB TiLE ấn hành một bản thông tin chi tiết về tất cả sản phẩm phần mềm phóng đại màn hình có mặt trên thị trường Anh quốc. Những sản phẩm này có tính năng cho phép phần mềm được điều chỉnh cho dù có phức tạp vì các ứng dụng cụ thể, cho dù kiến thức sử dụng của nhân viên thư viện và người sử dụng không cần thiết phải chuyên sâu. Nhà cung cấp phần mềm phóng đại phải bị đòi hỏi thực hiện cam kết là họ phải tập huấn cho thủ thư và cho độc giả.
Chú ý là hệ thống phóng đại màn hình thay đổi tùy theo gói phần mềm. Một số chỉ phóng đại văn bản mà không xử lý được đồ họa, hay không tương thích giữa phần mềm và phần cứng, hoặc không tương thích với một phần mềm hay phần cứng nào đó. Vì thế quan trọng cố gắng thử hệ thống trước hoặc buộc phải mô tả trước các tính năng yêu cầu cần có.
Nguyên tắc phần mềm phóng to màn hình là hình ảnh trên màn hình thông thường có thể tự động phóng lớn ra. Điều này có nghĩa là màn hình chỉ trình bày một phần tỷ lệ của nội dung gốc: ¼ hình ảnh lớn có thể nhìn được nếu phóng to gấp 2 lần như việc tăng kích cỡ lên 2 lần là ứng dụng cho cả hai chiều. Phóng to gấp 4 hay 5 lần thì rất khó để ứng dụng, vì chỉ có một phần nhỏ nội dung được trình bày. Ở mức độ phóng lên 5 lần có hai nút nhỏ trên hộp thọai trên màn hình có thể chạy ở độ phân giải 640x480.
Để giúp gỡ rối, một số thiết bị âm thanh được cài đặt để hỗ trợ phần mềm phóng đại được thêm vào gói sản phẩm điển hình như ZoomText Xtra level 2, Lunar Plus, và Magic with Speech, làm giá thành tăng thêm từ 110 bảng đến 160 bảng so với giá gói chỉ có ứng dụng phóng đại. Điều này không cho phép các sản phẩm này được một người mù hoàn tòan sử dụng vì không phải mọi thứ trên màn hình đều có thể đọc lên, mà nó chỉ có thể giúp mức độ phóng đại cao như có thể, hoặc trong trường hợp người sử dụng không thể nhìn màn hình suốt. Hiện chỉ có một phần mềm, Supernova (Dolphin, Concept Systems, Visionaid), tích hợp đầy đủ tính năng đọc với tính năng phóng to màn hình. Và đây là trường hợp duy nhất, cả hai chức năng chạy độc lập hoặc cùng chạy với nhau. Giá thành của Supernova từ 695 bảng đến 995 bảng cho phép đặt hàng dùng một máy tùy theo phiên bản nào mà khách có yêu cầu.
Khi mức độ phóng to tăng lên, đơn giản chỉ làm cho các chấm lớn hơn để lắp ráp bức tranh lại, hình dạng của các ký tự có thể bị kéo giãn, đặc biệt là các chữ W và X. Hầu hết các sản phẩm phóng đại màn hình có thể ứng dụng rất dễ dàng với mục đích làm chữ trông được rõ hơn. Đôi khi tính năng này bị đụng với tính năng kỹ thuật khác như độ phân giả, nét màu hay tăng tốc hình họa, thì cần đề nghị nhà cung ứng giúp đỡ.
Các tính năng hữu ích khác trong hầu hết các gói phóng đại luôn có yếu tố chính cho phép tính năng tắt hay mở, tăng hay giảm một cách dễ dàng. Nút này tắt khi màn hình đọc có tác dụng, khả năng chuyển màu không phụ thuộc vào Hộp điều khiển của Windows, và khả năng thay đổi cửa sổ phóng đại sẽ chỉ chiếm một phần nhỏ trên màn hình, phần còn lại là không phóng lớn ra. Con trỏ chuột hay điểm nháy cũng có thể cải tiến theo một số cách để chúng dễ nhìn thấy hơn. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.6. | Dùng máy tính có thiết bị đầu ra là chữ Braille hay giọng đọc |
Hệ thống thiết bị đầu ra là chữ Braille hay phát âm rất phức tạp khi cài đặt và vận hành. Thường cài đặt hay thất bại, hay trở nên không tương thích với cấu hình máy hay bị một số hiệu ứng phụ lỗi kỹ thuật hay hình ảnh ngoài mong đợi. Tuy nhiên chúng là công cụ tuyệt vời sẽ đầy tiềm lực đối với người khiếm thị vốn không có điều kiện tiếp xúc với thế giới thông tin mà hiện nay đang được lưu trữ nhiều dưới dạng hình thức điện tử . Để có sản phẩm tốt, nhân viên kỹ thuật của thư viện nên tham gia tìm hiểu, chọn lựa, và thực hiện cài đặt phần mềm và phần cứng. Chi phí dự kiến nên tính vượt ra ngoài giá trần của phần cứng và phần mềm vì có thể cần thêm chuyên gia tư vấn từ phía nhà cung ứng hay một nhà tư vấn độc lập. Cũng nên dự tính khoảng thời gian cần thiết để dành giải quyết các trục trặc kỹ thuật hay tập huấn nhân viên. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.6.1. | Đánh máy |
Có một số người có vấn đề về thị lực mà không thể dùng phần mềm phóng đại sẽ làm cho thủ thư phục vụ trong phòng máy tính của thư viện gặp rắc rối hơn. Họ có thể đánh máy không? Nếu không, thì ít nhất thủ thư có thể cấp một máy xài độc lập và chỉ họ có thêm nơi tập luyện. Học gõ bàn phím thì cần cho một số người không còn nhìn thấy tốt được, và nên khuyến khích cho người khiếm thị nếu có thể được. Để gõ bàn phím thì cần có bàn phím thông thường. Nên nhớ là những đợt tập huấn máy tính căn bản thông thường sẽ không thích hợp đối với người bị mất thị lực. Các khóa đánh máy ở các trường đại học trong địa phương, tổ chức tình nguyện, hay các lớp buổi tối có thể kéo dài để hỗ trợ cho việc học của họ. Hoặc các khóa dạy máy tính thu trên băng cũng nên giới thiệu để mua hay cho người học mượn về nhà. RNIB cũng có băng cassette dạy đánh máy và một số sản phẩm chuyên nghiệp khác có cả khóa học trên phần mềm phát âm. Như Iota Touch Type (Iota Software) và Centre Touch Typing Tutor (VICTAR). RNIB TiLE cung cấp thông tin về kỹ năng sử dụng bàn phím cũng có danh mục các sản phẩm và dịch vụ nói trên. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.6.2. | Tập huấn sử dụng máy tính căn bản |
Một số người chỉ có thể đánh máy nhưng không có kinh nghiệm sử dụng máy tính thì cần được tập huấn để biết cơ bản biết sử dụng máy tính. Khái niệm nằm dưới nhiều phần thực hành ứng dụng, kể cả Windows, là cái gì đó rất dễ nhìn thấy, biểu tượng, trình đơn, nút, thanh công cụ, hộp chỉnh sửa, nút phát thanh, và nhiều cái khác nữa. Nên chỉ dẫn họ tìm đến một chuyên gia dạy vi tính trước khi tự cố gắng hỗ trợ họ sử dụng máy tính trong thư viện. Tập huấn máy tính cơ bản là vấn đề rất tế nhị vì người cần tập huấn lại là người khiếm thị. Tập huấn CNTT tổng quan nhìn chung rất ít khi thích hợp vì người hướng dẫn thường căn cứ vào những chỉ dẫn của học viên dựa trên những gì họ theo dõi trên màn hình hay dùng chuột. Nhưng các chuyên gia dạy vi tính đặc biệt thì rất khó tìm và phí học rất cao. Dễ hơn là tìm các dịch vụ của các nhóm tình nguyện cho người mù có những người tập huấn đủ kinh nghiệm và kiến thức hỗ trợ cho NKT đầy đủ. Có một số tài liệu đặc biệt biên soạn cho người khiếm thị 'Windows 95 - giải nghĩa' (Morley, 1997) và ‘Windows 98 - giải nghĩa’ (Morley, 2001) và các tài liệu hướng dẫn trên CD hay băng cassette. RNIB TiLE cũng phát hành các thông tin liệt kê các tài liệu hướng dẫn, sản phẩm hay dịch vụ tâp huấn cho NKT ở Anh quốc. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.6.3. | Hệ thống phát âm |
Hệ thống phát âm từ máy tính yêu cầu hai yếu tố: b) một phần đọc màn hình đó là phần mềm chuyển nội dung trên màn hình vào hệ thống để phát ra tín hiệu dưới hình thức tiếng nói. Như thường được trình bày một cách xúc tích “phần mềm đọc là bộ não của màn hình, và hệ thống phát âm sẽ là giọng nói giao tiếp” (Waddell, 1998). Máy tính hiện đại luôn gần như luôn được cung cấp một phần cài đặt âm thanh thích hợp đã dựng sẵn, vì thế phần tổng hợp giọng nói đặc biệt hiện nay cũng rất ít khi cần đến. TiLE ấn hành bảng tin chi tiết về hệ thống phát âm hiện có ở Anh quốc như Hal (Concept Systems, Dolphin, Visionaid), JAWS (Sight and Sound, Professional Vision Services, RNIB), OutSpoken (Professional Vision Services), ProTalk (Professional Vision Services), Window Bridge (Techno Vision Services) và Window-Eyes (Force 10, Computer Room Services). Giá cho một đặt hàng đơn là từ 500 đến 900 bảng, mặc dù bắt đầu đã có một số sản phẩm nhắm vào thị trường nội địa chỉ với giá 80 bảng.
Hai sản phẩm phần đầu ra là chữ Braille và phát âm kể cả tính năng mô tả yếu tố đồ họa. JAWS for Windows cũng luôn hỗ trợ phần mềm đọc và Braille, cung cấp mã ngôn ngữ để cải tiến phát âm và công cụ để nhận dạng lỗi phần cứng và phần mềm (Dr JAWS). JAWS for Windows cũng cho phép người sử dụng không chỉ chọn ngôn ngữ ưa thích mà còn cho phép chọn giọng phát âm ví dụ gịong Anh hay Mỹ. Tưởng tượng là máy tính bỏ cả màn hình lẫn chuột và thay vào đó là giọng đọc máy kỳ quái: đó là cách mà bạn phải làm nếu bạn sử dụng máy tính mà không nhìn thấy được gì. Để giúp người sử dụng Braille hay phần phát âm để sử dụng máy tính trong thư viện, vì thế ít nhất bạn phải biết dùng bàn phím để điều khiển ứng dụng, vì con chuột lúc đó đã không còn tác dụng. Hầu hết các phần tập huấn cho người sáng không có thông tin cần thiết này! Chức năng trợ giúp của Windows có phần liệt kê các biểu tượng bàn phím chính cho các ứng dụng chung.
Các gói phần mềm phát âm có chung một vài tính năng. Trước hết là phải có thể dùng một phím dễ thấy để tắt được chương trình đọc. Có thể điều chỉnh được tốc độ, tần số, độ cao, âm lượng của giọng nói và lặp lại những gì vừa mới nói. Người sử dụng phải lướt qua văn bản từng từ một, có lẽ thậm chí từng ký tự nếu nó không hiểu từ đó, và cách phát âm ABC thường được phân biệt giữa hai ký tự giống nhau như p và b. Sẽ có một máy chủ có một số đặc điểm khác được tận dụng sử dụng bộ phát âm như công cụ hàng ngày để truy cập vào máy của họ. Một trong số những vấn đề chính mà nhân viên thư viện hay gặp là người sử dụng bực mình vì hệ thống phát âm của máy tính trong thư viện không giống cái mà họ biết sử dụng. Vì khi nó được cài đặt cách khác nên các phím tắt giống nhau nhưng chức năng của các phím đó không giống nhau.
Hiểu biết về phím tắt sẽ ứng dụng tốt và có thêm một số phím đề điều khiển hệ thống phát âm là một trong số kỹ năng cần thiết nhất cho người sử dụng hệ thống phát âm. Người đó sẽ không thể tự xem các hướng dẫn sử dụng phím tắt trong cẩm nang để tự nhắc mình phím nào có tác dụng gì. Vì thế thủ thư cần nghĩ đến chuyện hỗ trợ mức độ khác nhau để giúp cả đọc giả mù mới biết sử dụng máy tính hay người đã có kinh nghiệm dùng máy tính, người mới đến thư viện hay và người sử dụng thư viện thường xuyên. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.6.4. | Hiển thị chữ Braille điện tử |
Chữ Braille là mã nổi gồm 6 chấm, các ký tự Braille đại diện cho 1 số, 1 chữ, 1 nhóm chữ, 1 từ hay dấu. Braille cấp 1 dùng một hay nhiều ký tự Braille cho từng ký tự và số, và cấp 2 dùng rút gọn để đọc nhanh hơn và ít rối hơn. Một số mã đặc biệt cho các loại ngôn ngữ khác nhau, nốt nhạc, toán học tới một phạm vi lớn hơn nữa như thơ. Chữ Braille máy tính (đôi khi gọi là cấp 0) dùng số để quy ước thêm để các ô chữ Braille điện tử phù hợp với một ký tự trên màn hình. Bộ chữ Braille điện tử (đôi khi gọi là bảng chữ Braille mềm hay phục hồi) chứa một hộp gồm các số ô của chữ Braille, mỗi ô có 8 lổ kim nhỏ trên lưới 2x4 tương ứng với ký tự Braille thêm 2 chấm dư. Mỗi nốt kim được kết hợp kiểm soát để có thể phù hợp với cấu hình chữ Braille. Hai chấm dư để thêm thông tin như viết in hay cho chữ đậm nét hay nét nghiêng. RNIB TiLE cho ấn bản chi tiết về tất cả bảng chữ Braille có ở Anh Quốc, gồm Alva (Professional Vison Services, RNIB), Braillex (Papenmeier), HandiTech (Sight and Sound), PowerBraille (Blazie), và Tieman (Concept Systems). Nơi nào phần mềm tuyên bố hỗ trợ bảng chữ Braille được kết nối với máy tính chạy đúng phần mềm chương trình đọc. Thực tế là 2 phần mềm này dùng cùng một lượt với nhau, vì cả hai đều có thể được sử dụng cùng lúc chứ không phải từng cái một. Điều này cũng đã là rất có ích cho người mù sử dụng máy tính vì đồng thời trong khi đó một người sáng thì có thể truy cập cùng lúc ít nhất 20 màn hình khác nhau, nếu không bị quá đầy nội dung. Vấn đề tương tự lại xảy ra nếu người sử dụng phần mềm đọc thì thủ thư cần trang bị kiến thức kỹ thuật để có thể hỗ trợ người sử dụng.
In chữ Braille rất đắt tiền từ 2.000 đến 11.000 bảng (thường là từ 4.000 đến 8.000 bảng), và số người sử dụng chữ Braille rất ít so với cộng đồng người mù và khiếm thị. Mặc dù thế, sự quan trọng của chữ Braille cũng không thể đánh giá thấp, vì nó là một chọn lựa trong các phương tiện đọc quan trọng cho người khiếm thị và là phương tiện giao tiếp cần thiết cho người câm điếc. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.7.1. | Chữ Braille |
Thông tin về các hình thức khác nhau của chữ Braille tham khảo mục 13.6.4 Sản xuất bản chữ Braille (hay gọi là in chữ Braille) là cách cài đặt sẵn. Khả năng cho một người dùng một bản sao chép từ một bài trích của một nghiên cứu hay một văn bản ngắn họ cần chuyển đổi gấp thì rõ ràng đây quả là một dịch vụ đúng chỗ và không còn nghi ngờ gì nữa về tính hữu ích của nó cho khách hàng. Để làm được điều này cần có phần mềm chuyển đổi chữ Braille, chuyển văn bản thường từ dạng văn bản hay trên web thành mã Braille và một máy in Braille sử dụng loại giấy Manilla đặc biệt để có bảng chữ Braille.
Đối với công việc đơn giản, yêu cầu dịch văn bản thành chữ Braille thì Braillemaker (Pia) là một chương trình hiệu quả dễ học, dễ sử dụng và có thể thành thục nhanh chóng. Nếu có dịch vụ chuyển dạng chuyên dụng nào được cài đặt, thì còn có thể chỉnh sửa hình thức hay chuyển các loại văn bản phức tạp hơn. Trong trường hợp đó, Duxbury Braille Translator (Papenmeier, Professional Vision Services, Sight and Sound, Techno Vision, RNIB) là một trong những cách chọn lựa tốt. Duxbury cũng cho phần mềm hỗ trợ cả ngôn ngữ xứ
Mã chữ Braille có thể khá phức tạp, đặc biệt là khi văn bản được chuyển là bất cứ thứ gì chứ không chỉ là một đoạn văn bản hay các con số. Mặc dù phần mềm chuyển chữ Braille hiện nay khá phức tạp, nó thường có thể lỗi khi trình bày và khi sản xuất có những ký tự sai mà không đọc nháp lại trước. Trong khi nhiều khách hàng thư viện sẽ chấp nhận sản phẩm chữ Braille không hoàn hảo, dịch vụ chuyên dụng nên có phần đọc nháp để chỉnh sửa và nên thuê một nhân viên rành về chữ Braille để có thể chuyển đổi các loại văn bản phức tạp như bản nhạc, thơ hay toán.
Có nhiều loại máy in chữ Braille và sự chọn lựa máy nào tùy thuộc vào các yếu tố như tiếng ồn, tốc độ và số lượng ấn phẩm chữ Braille in ra. Bất cứ khi nào kết hợp phần mềm và phần cứng được chọn rồi, cần thiết nên được một chuyên gia cài đặt , đó là người có thể kiểm tra đầu ra sản phẩm chữ Braille để khi in xong có thể kiểm tra để xem có xảy ra trục trặc gì không.
Chi phí cho một phần mềm từ £100 đến £400, và máy in có thể có giá khoảng £1,500. RNIB TiLE có cho thông tin về cả hai loại sản phẩm này. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.7.2. | In ấn |
Hình dạng và kích cỡ chữ in có giá trị khác nhau đối với đối tượng sử dụng là người khiếm thị vì nó có thể làm họ có thể đọc được hay không. Kích cỡ chữ lớn tương đối sẽ giúp người nhược thị đọc rõ hơn khá nhiều. Chữ in được đo bằng kích cỡ điểm ví dụ sách cẩm nang này in bằng kiểu Arial cỡ chữ 14. Cỡ 14 là cỡ trung bình đối với người mù và khiếm thị được khuyến cáo sử dụng. Không khác gì nếu dùng cỡ chữ lớn hơn 20 mặc dù kích cỡ lớn hơn có thể dùng cho tiêu đề. (Xem phần 13.2.5). |
|
Back to Chapter index | |
| 13.7.3. | Chữ nổi |
Một bức tranh tốt thì có giá trị hơn cả 1000 lời diễn đạt. Sách thường có đồ họa, bản đồ, biểu đồ, bản nhạc,.. hay minh họa cho một loại nào khác nữa, và những vật này thì rất khó tiếp cận cho người khiếm thị. Sản xuất dạng hình nổi là một cách để khắc phục được chuyện đó. Một cách để tạo hình nổi là copy hình đó trên giấy phồng đặc biệt. Giấy này nhạy với nhiệt và phồng lên nơi mà hình ảnh được đánh dấu khi được làm nóng lên sẽ tạo ra bề mặt hình nổi lên. Một máy làm nóng giấy là công cụ cần thiết để làm nóng giấy. Nếu hình đen được chuyển vào giấy (có thể dùng máy photocopy nhiệt độ thấp hay máy khác), và khu vực bôi đen sẽ được phồng lên khi cho giấy chạy qua máy làm nóng. Những chỗ khác thì vẫn bằng phẳng. Nếu sử dụng, ví dụ giấy Zychem, biểu đồ có thể tạo ra bằng cách in trực tiếp vào giấy trước khi đưa nó vào máy, chứ không phải photocopy vào nó.
Bốn loại hiện có trên thị trường để sản xuất hình nổi Pictures in a Flash (Modern World Data), Tactile Image Enhancer (Techno-vision, Một cách thay thế cho giấy phồng là phim nhựa nổi, dùng bút bi hoặc công cụ làm nổi đặc biệt. Phim này sẽ nổi lên theo nét vẽ của bút và tạo những đường nổi mà không cần cần lật phim lên. Cũng được khuyến cáo nên dùng một tấm lót đặc biệt. Công cụ làm nổi thường được thiết kế cho những đường dày liên tục khác nhau, chấm hay gạch ngang, đường cong hay vòng tròn. Công cụ và phim loại này có tại RNIB.
Dùng phần mềm đặc biệt, đồ họa cũng có thể làm nổi trên loại giấy nổi đặc biệt dùng máy in chữ Braille. Hình ảnh này sẽ được vẽ theo đường gạch ngang hay chấm hơn là đường thẳng. Picture Braille ( Tactile Graphics Designer (Techno-vision) là chương trình thích hợp để tạo đồ họa nổi hay bản đồ âm thanh nổi. Bản đồ âm thanh nổi giúp người dùng nghe được tiếng nói diễn đạt các phần cụ thể của biểu đồ khi chạm tay tới. Ví dụ, trên một bản đồ, tên đường có thể được đọc lên cho nghe được.
Nhiều trung tâm khác nhau cung cấp dịch vụ tạo biểu đồ nổi như Trung tâm Đồ họa nổi quốc gia, Trường Đại học Nữ hoàng Alexandra, và Trung tâm Biểu đồ và Bản đồ RNIB. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.8. | Mạng Internet |
Đối với người mù hay người còn sáng chút ít sử dụng Internet thì nó gần như không có giá trị cho họ. Vì lần đầu tiên họ tiếp cận với một khối lượng thông tin khổng lồ ngày càng lớn mạnh các dịch vụ và thông tin thông qua web từ mọi chuyện tìm kiếm cơ bản đến nâng cao như giao dịch ngân hàng, tìm việc làm, mua sắm hay giải trí cũng như tìm sách, báo tạp chí trực tuyến những thông tin thì họ khó lòng có thể đọc được từ tài liệu ở dạng chữ nổi hay băng từ. Nhiều người đến thư viện truy cập Internet sẽ xa lạ với web, và sẽ cần sự trợ giúp để tìm được những địa chỉ hữu ích. Thêm vào đó, như trình bày ở phần trên, cần có sự hướng dẫn tìm địa chỉ thích hợp và hữu ích và làm sao có được kết quả tìm kiếm hiệu quả. Thêm vào đó, một số người cần làm quen với công nghệ, trong khi những người đó sẽ cần tập huấn ban đầu để có thể dùng bàn phím, phần mềm đọc màn hình và máy phóng đại |
|
Back to Chapter index | |
| 13.8.1. | Trình duyệt web nói |
Đây là những chương trình diễn giải trang web bằng cách chuyển đổi nó trực tiếp sang phát âm, mà không cần có phần mềm đọc màn hình như loại đã mô tả trong 13.6.3. Trong thực tế, điều này chỉ có nghĩa là dùng lệnh bàn phím, có thể dễ dàng điều khiển các trang web tương đối phức tạp. Phần mềm đọc màn hình sẽ báo cho bạn biết tên các nối kết, nhận ra nhãn hình ảnh, đoạn, tiêu đề mỗi phần, bảng biểu và biểu mẫu. Đây là phần quan trọng vì một số cấu trúc nhìn thấy được làm cho phần mềm đọc nhầm lẫn với cấu trúc trình bày phức tạp của trang web. Có hai loại trình duyệt web nói thường sử dụng: pwWebSpeak và IBM Home Page Reader (cả hai đều có ở Soundlinks). pwWebSpeak thì đơn giản hơn và cho các ý tưởng trình bày trang, cấu trúc trang nơi nó đang làm việc rõ nhất, tuy nhiên hiện nay nó không được tiếp tục phát triển nữa, và không hỗ trợ được cho các trang mua bán thương mại mang tính phức tạp cao (ví dụ như ngân hàng hay dịch vụ mua sắm) trong khi đó Home Page Reader cho phép linh động hơn và giải quyết được tính phức tạp hơn trong cấu trúc của một số trang web. Với pwWebSpeak, độc giả có thể học cách sử dụng cơ bản trong vòng ít hơn nửa tiếng đồng hồ, trong khi đối với Home Page Reader, cần phải có thực tập, tự nghiên cứu thì mới làm tốt được. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.8.2. | Sử dụng các trình duyệt thông thường |
Như đã giải thích ở phần trên, ứng dụng máy tính thông thường có thể sử dụng được cả phần mềm đọc, mà sản phẩm là tiếng nói hay chữ Braille, hoặc là màn hình được phóng to ra. Vì thế nó có thể dùng một trong hai trình duyệt Internet Explorer hay Netscape Communicator. Tuy nhiên, để có thể hiểu được các trang đơn gỉan nhất thì cũng cần có đủ kiến thức về phần mềm đọc hiện đang sử dụng, và cách tiếp cận này cần phải tập huấn kỹ thêm cho nhân viên và người sử dụng thư viện. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.8.3. | Các ứng dụng Internet khác |
Nếu phần mềm đọc hay phóng đại được sử dụng, và bất cứ phần mềm Internet khác, thư điện tử, tán gẫu hay đọc tin tức có thể sử dụng, nhưng việc tập huấn cần được tổ chức nhiều hơn. Vì lý do này mà có thể sẽ hiệu quả hơn để dùng các dịch vụ trên web như HoTMaiL (http://www.hotmail.com/) để email, hay Dejanews (http://www.dejanews.com/) để đọc tin, dùng phương pháp duyệt đã có sẵn.
Thông tin về truy cập Internet dành cho người mù và khiếm thị và các sản phẩm về vấn đề này có thể tìm trên tờ tin của RNIB TiLE. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.9.1. | Máy ghi nhớ và ghi âm |
Có một số máy như một máy ghi âm bỏ túi với bộ phận tổ chức theo dạng số hóa khá phức tạp, gọi là “máy ghi chú”, đặc biệt thiết kế như máy vi tính và có cả phần đầu xuất âm thanh hay chữ Braille cực kỳ hữu ích bất cứ nơi nào lúc nào cần thông tin. Chi tiết về các loại này thì vượt khỏi phạm vi nội dung chương này nhưng cũng cần biết vì tính hữu ích của chúng, và để chỉ cho người sử dụng biết về sự hiện diện của các loại máy trợ giúp này, và cũng để vì có nhu cầu chuyển tệp tin vào các thiết bị này. Thông tin thêm có thể tìm trên tờ tin TiLE. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.9.2. | Nhận dạng giọng nói |
Nhận dạng giọng nói trong công nghệ “nghe giọng nói” chỉ đến hệ thống cho phép bạn đọc lệnh hay đọc chính tả cho máy tính. Thường là người ta hay nghĩ là đây là phần mềm vì NKT và người mù. Khó khăn chủ yếu là không nhận ra được thông tin cần chuyển vào máy tính, và biết cái gì đang diễn ra trên màn hình, nên nói cho cùng, thì giải pháp bàn phím là chọn lựa đơn giản hơn.
Tuy nhiên người có tật cử động thì phần mềm này rất đáng khuyến cáo sử dụng, Dragon's Naturally Speaking (T and T Consultancy) lien kết với phần mềm đọc JAWS gọi là Jawbone (T and T Consultancy). Những khó khăn và chi phí của giải pháp này không nên bị đánh giá thấp và có thể tìm tư vấn trên các tờ tin của RNIB hoặc của Abilitynet. |
|
Back to Chapter index | |
| 13.10. | Các địa chỉ liên hệ thư viện |
Gateshead Libraries
Glasgow City Libraries
Islington Libraries
Papworth Library, Cambridgeshire County Libraries
Tameside Libraries
University of Sunderland
University of Wales, Bangor
University of the West of |
|
Back to Chapter index | |
| 13.11. | Các nhà cung ứng |
Abilitynet,
Action Computer Supplies, Freepost, Wembley,
Blazie Engineering Ltd., Windermere House,
Choice Technology and Training, 7 The Rookery,
Computer Room Services, 77
Concept Systems,
Dolphin Computer Access, Technology House,
Force Ten Co. Ltd.,
Horizon,
Iota Software Ltd., Burleigh Suite,
KidGlove, Berkeley House,
Modern World Data, Arran House, Fro Heulog Terrace,
National Centre for Tactile Diagrams, University of Hertfordshire, College Lane, Hatfield, Herts AL10 9AB
Optima Low Vision Services, Dartside,
Papenmeier UK, Aldocks,
Partially Sighted Society,
Pia Ltd.,
Professional Vision Services, Wellbury House,
PulseData UK, 3 Blotts Barn Business Centre, Brooks Road, Raunds, Wellingborough, Northamptonshire NN9 6NS
RNIB, Customer Services,
RNIB Technology in Learning and Employment (TiLE)
Soundlinks Ltd.,
Techno-Vision Systems,
Telesensory, 1 Watling Gate,
T&T Consultancy, Unit 9, Imex Business Park, Ormonde Street, Fenton, Stoke-on-Trent ST4 3NP
VICTAR (Visual Impairment Centre for Teaching and Research),
Vis-Ability (FE),
Visionaid Technologies, Bridge Lodge, Spalding Common, Lincolnshire PE11 3AU Tel: 01775 711977 Fax: 01775 769043
Visualeyes, 3 Long Hey Top, Blackshaw Head,
Zychem Ltd., |
|
Back to Chapter index | |
| References. | Tham khảo |
Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999). The integrated accessible library: a model of service development for the 21st century. Final report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation report 168. CERLIM,
Cain, S. ed. (2001). Accessing technology: using technology to support the learning and employment opportunities for visually impaired users.
HumanITy. (2000). Enhancing access to library based ICT
Machell, Jean. (1996). Library and Information services for visually impaired people: national guidelines. Library Association.
Morley, Sarah. (1997). Windows 95 explained: a guide for blind and visually impaired users.
Morley, Sarah. (2001). Windows 98 explained: an overview for blind and visually impaired users.
Ravenscroft, J. and Carey, K. (2000). Windows '95 modification manual for visually impaired computer users.
RNIB. ‘See for Yourself’ leaflets. Four leaflets to date.
RNIB. (2001). See it right pack.
Waddell, L. ed. (1998). Access technology: a guide to educational technology resources for visually impaired users.
Wright, Michael, Hill, Sarah and Cook, Geoffrey. (1999). Office task lighting: a user study of six task lights by five workers with low vision. British Journal of Visual Impairment (BJVI), 1999. Vol. 17-3 pp117-120. |
|
Back to Chapter index | |