Contents : Đường đến thư viện
Skip to Navigation
12.2. Đường đến thư viện
12.2.3. Đường dốc

12.2. Đường đến thư viện

Back to Chapter index
12.2.1.

Nơi xuống xe, đậu xe, hay trạm xe buýt v.v. chỉ nên cách thư viện khoảng 50 mét (lý tưởng nhất là không quá 20 mét) từ cổng chính vào. Nên có những bảng chỉ dẫn màu tương phản mạnh đặt ở cổng vào hay các bến đậu đỗ xe.

12.2.2.

Lối đi bao giờ cũng bằng phẳng, ở tình trạng tốt và cần được chiếu sáng. Các khỏang trống rộng phải được lối tráng lát để hướng dẫn như quy định xây dựng.

 

 

 Điều 52, Luật Xây dựng (có hiệu lực từ ngày 1/7/2004):

 

1. Thiết kế xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu chung sau đây:

...

đ) An toàn, tiết kiệm, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn liên quan; đối với những công trình công cộng phải đảm bảo thiết kế theo tiêu chuẩn cho người tàn tật;

 

Thực trạng về vấn đề này tại Việt Nam

 

Ðể người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng


Phần lớn các công trình đang xây dựng và sử dụng hầu hết thiếu phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội.

 

Hiện nay nước ta có khoảng 6,5-7 triệu người khuyết tật. Họ đang gặp trở ngại trong việc sử dụng các công trình xây dựng và giao thông. Bởi lẽ các công trình đang xây dựng và sử dụng hầu hết thiếu các phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật. Ðây là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội.

 

Ðiều 26, Pháp lệnh về người khuyết tật đã quy định: "Việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, các công trình công cộng và thiết kế, chế tạo các dụng cụ sinh hoạt, các phương tiện giao thông liên lạc phải tính đến nhu cầu sử dụng thuận tiện của người khuyết tật, trước hết là người khuyết tật các dạng thị giác, đồng thời phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành". Ngày 10-7-1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 55/1999/NÐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về người khuyết tật. Trong đó, có quy định các bộ, ngành phải có kế hoạch triển khai pháp lệnh trên.

 

Thực hiện Pháp lệnh về người khuyết tật và Nghị định của Chính phủ, năm 2002, Bộ Xây dựng đã chính thức ban hành Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng. Ðây là hệ thống các văn bản pháp quy và hướng dẫn về kỹ thuật bảo đảm việc thiết kế xây dựng mới và cải tạo các công trình công cộng, nhà ở chung cư, đường và hè phố tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, đồng thời cũng sử dụng cho các cơ quan có chức năng khi xem xét, thẩm định cấp phép các dự án đầu tư xây dựng.

 

Ngày 1-7-2004, Luật Xây dựng cũng đã chính thức có hiệu lực thi hành, trong đó tại Ðiều 52 ghi rõ: "Ðối với các công trình công cộng, phải bảo đảm thiết kế theo tiêu chuẩn cho người khuyết tật".

 

Ðể bảo đảm mọi hoạt động xây dựng tuân thủ theo quy chuẩn xây dựng đã được ban hành và thực hiện theo quy định của Luật Xây dựng, các cơ quan chức năng phải thực hiện chặt chẽ khâu kiểm tra, giám sát và thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình công cộng và các công trình giao thông, tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng dễ dàng.

 

Kiều Linh
(Hà Nội)

http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=54&article=24376

Việt Nam thiếu không gian cho người khuyết tật

 http://www.vtv.vn/vi-vn/VTV3/sacmau/2004/9/25775.vtv
3:22, 08/09/2004
Thành Lưu - Lương Huệ thực hiện

"Người khuyết tật ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc đi lại, đến trường, đến các công sở để làm việc, hoặc tới những nơi giải trí..., bởi thiết kế của các công trình xây dựng hầu như không dành cho họ. Vì vậy, họ không được giáo dục đầy đủ, không có cơ hội tìm việc làm - và trở thành gánh nặng của xã hội", ông John Lancaster, nguyên Giám đốc Văn phòng hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, nói với VTV như vậy.

 

Việc đi lại là rất khó khăn đối với người khuyết tật Việt Nam, và với tôi cũng thế. Rất nhiều toà nhà của Chính phủ mà tôi không thể vào được, nếu không có sự hỗ trợ của những người khoẻ mạnh. Tôi đã làm việc với một số dự án và ngay cả với Bộ Xây dựng, nhưng những toà nhà của các cơ quan này, tôi không thể tự mình vào được. Nếu các toà nhà này có một chiếc thang máy phù hợp, có lẽ tôi có thể đi lại dễ dàng hơn. Ngay cả những đường dốc làm tạm dành cho người khuyết tật ở một số nơi, thiết kế cũng không được phù hợp lắm - thường quá dốc và chúng tôi không thể tự lên được. Còn nhiều nơi công cộng khác như ngân hàng, siêu thị... thì chỉ có bậc thang, mà bậc thang thì những người khuyết tật như tôi không thể sử dụng được - dường như những nơi này không dành cho người khuyết tật vậy

Mấy năm gần đây thì Chính phủ Việt Nam cũng đã bắt đầu chú ý hơn tới không gian dành cho người khuyết tật, và đã có một số công trình xây dựng được thiết kế để người khuyết tật có thể tiếp cận được. Nhưng điều đáng tiếc là những nỗ lực như vậy đã không tiếp tục được thực hiện, và hầu hết các địa phương đều lờ đi những chi tiết này. Việt Nam đang có một nền kinh tế tăng trưởng mạnh, và ngày càng có nhiều các toà nhà cao tầng được xây dựng, nhưng không ai qua tâm xem người khuyết tật cần gì để có thể tiếp cận những toà nhà mới đó. Chính những điều đó cũng khiến đất nước này chịu thiệt hại, bởi trong tương lai, những người khuyết tật sẽ không thể đến trường, không thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, thương mại, không thể đến các trung tâm giải trí... và sẽ trở thành gánh nặng thực sự cho xã hội. Đây là một vấn đề rất lớn đối với Việt Nam. Tôi thực sự mong muốn Chính phủ sẽ quan tâm hơn tới những vấn đề này.

Ở các nước phát triển, từ vài thập kỷ trở lại đây, Chính phủ đã quy định tất cả các toà nhà phải có thiết kế sao cho người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng thì mới được xây dựng. Ở nước tôi, thậm chí người ta còn tổ chức những cơ quan chuyên theo dõi việc thực thi những quy định này. Chúng tôi kiểm tra tất cả các toà nhà trên khắp đất nước, xem chúng có thể khiến người khuyết tật tiếp cận dễ dàng hay không. Chính phủ nước tôi không bao giờ cho phép xây dựng một công trình mà người khuyết tật không thể tiếp cận được. Ngoài công việc kiểm tra chất lượng công trình như đường dây điện, nền móng... như các bạn đang làm, chúng tôi còn kiểm tra để chắc chắn rằng, người khuyết tật sẽ không gặp khó khăn gì khi tiếp cận công trình này. Chính phủ rất kiên quyết thực hiện các quy định này. Ngoài ra, đối với những toà nhà xây dựng từ trước khi có quy định này, chính quyền địa phương sẽ đến kiểm tra và đề nghị chủ toà nhà khắc phục, sao cho người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng. Chúng tôi đã có những tiến bộ vượt bậc, không chỉ bởi có luật pháp tốt, mà còn bởi Chính phủ kiên quyết thực hiện các điều luật đó. Kết quả là người khuyết tật có cơ hội được học hành, nhiều người khuyết tật có việc làm, họ có thể vui chơi cùng bạn bè... Đơn giản bởi tất cả mọi không gian họ đều tiếp cận được, và sử dụng được, kể từ tàu điện ngầm, tàu hoả, rồi taxi, xe buýt, máy bay...

 

Tôi không nói chỉ có hai điều kiện trên. Tôi nghĩ, các bạn còn phải chú trọng tới vấn đề nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về sự cần thiết trong việc tạo dựng môi trường có thể tiếp cận đối với người khuyết tật. Bên cạnh đó, các bạn cũng cần có những kiến trúc sư được đào tạo căn bản để có thể thiết kế những toà nhà dành cho người bình thường và khuyết tật. Trên thực tế ở đất nước chúng tôi, chúng tôi không có thiết kế riêng cho những người khuyết tật, mà là những thiết kế chung cho các toà nhà, hệ thống giao thông, để làm sao, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận và sử dụng được một cách thuận tiện nhất, bất kể họ là người bình thường hay người khuyết tật.

Ông đang nói về việc hỗ trợ thiết kế môi trường cho người khuyết tật ở Việt Nam, ông nghĩ gì về những tác động của thực tế hiện nay ở Việt Nam đối với cuộc sống, tương lai của những người khuyết tật ?

 

Có hai hướng ảnh hưởng. Hiện nay, ở Việt Nam, có rất, rất ít trẻ em khuyết tật có thể đến trường. Tôi đã cùng với UNICEF thực hiện một nghiên cứu về vấn đề này, và một kết quả đáng ngạc nhiên, và cũng đáng buồn là có tới trên 80% trẻ khuyết tật ở Việt Nam không thể tới trường. Đơn giản bởi trẻ khuyết tật không làm sao để đến trường được, bởi trường học không được thiết kế phù hợp với chúng. Thực ra, không tốn quá nhiều tiền bạc để làm một đường dốc vừa phải bên cạnh các cầu thang, thiết kế bàn ghế thấp hơn, toilet thuận tiện hơn cho người khuyết tật... Và đặc biệt là khi người ta xây dựng một ngôi trường mới, thì việc thiết kế phải đảm bảo tất cả trẻ em, kể cả trẻ khuyết tật, có thể tiếp cận và sử dụng là điều không phải bàn cãi. Nếu cứ xây dựng như hiện nay, trẻ khuyết tật không thể được học hành. Và nếu chúng không thể được học hành, tương lai của chúng sẽ ra sao, liệu chúng có thể ra ngoài, làm việc như tôi và bạn không? Không đến được các toà nhà, các trung tâm thương mại, không sử dụng được các phương tiện giao thông... họ không thể làm việc. Từ đó, sẽ dẫn tới hướng ảnh hưởng thứ hai, đó là chất lượng cuộc sống, là khả năng tài chính của người khuyết tật sẽ rất kém.

Ông có thể nói một vài yêu cầu đối với các kiến trúc sư thiết kế đường riêng cho người khuyết tật?

 

Tôi nghĩ rằng kiến trúc sư nên ngồi cùng những người khuyết tật khi thiết kế toà nhà để biết chắc toà nhà đó phù hợp với người khuyết tật. Việt Nam có một đội ngũ kiến trúc sư tài năng. Họ cần phải tiếp xúc thật nhiều với người khuyết tật, để biết phải thiết kế như thế nào để những người khuyết tật có thể tiếp cận và sử dụng các công trình của họ. Tôi không nghĩ rằng bất cứ kiến trúc sư nào cũng có thể thiết kế các toà nhà mà người khuyết tật sử dụng được, nếu không tiếp xúc với họ, nói chuyện với họ. Chỉ những người khuyết tật mới biết họ cần dốc lên với độ nghiêng thế nào, cần cửa rộng ra sao để có thể đi lại bằng xe lăn.... Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cần phải ban hành và kiên quyết thực hiện các quy định, các tiêu chuẩn trong xây dựng để các toà nhà, các công trình giao thông... đều hữu dụng với tất cả mọi người, trong đó có người khuyết tật.

 

12.2.3. Đường dốc

Đường dốc sẽ có ích cho người khiếm thị và cho cả người khuyết tật vận động. BS 8300 cho biết thông tin chi tiết về đòi hỏi kỹ thuật của các đường dốc có chiều dài và kiểu cách khác nhau. Đặc thù chủ yếu như sau:


Back to Chapter index
12.2.3.1.

Đa số đường dốc cần có tay vịn hai bên, cao tối thiểu là 900 mm và tối đa là 1000 mm. Phải có lề an tòan 100mm trên gờ đường dốc


Back to Chapter index
12.2.3.2.

Hầu hết các dường dốc cần có tay vịn cả hai bên thấp nhất là 900mm và cao nhất là 1000mm. Cũng nên có bờ kè khỏang 100mm bên các gờ của ray, để mà các đầu gậy hay bánh xe không bị trượt ra khỏi. Một tay cầm phụ khoảng 600mm cũng nên có để đảm bảo an toàn cho các em bé. Tay vịn nên có màu sắc tương phản với xung quanh, và phải chìa ra ngoài ít nhất là 300mm cả hai điểm đầu và cuối đường dốc. Tay vịn cũng nên tạo ra cảm giác thoải mái và dễ nắm .


Back to Chapter index
12.2.3.3.

Đường dốc vừa đủ cạn để dễ bước xuống hay lên  có đầu đỉnh và đáy chân rộng băng chiều ngang đường đốc và dài tối thiểu 1200mm không vướng việc mở cửa hay để vật cản. Đọan đường dốc không được dài quá 10 mét cho từng đạon và và cao quá 500mm. Các nơi dừng nghỉ phải dài 1500mm, độ dốc cho phép tối đa từ 1/12, cứ cách 2 mét thì có 1 chỗ dừng.


Back to Chapter index
12.2.3.4.

Chiều rộng bề mặt tối thiểu của đường dốc là 1200mm. Bề mặt không được dễ bị trơn trượt, bám tốt và thóat nước tốt

h12a.gif 

Hình minh họa 12a: Ray

 

Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.


Back to Chapter index
<< Chương 12.1 Chương 12.3 >>

Navigation
Contents
Phụ lục 1.1 Phụ lục 1.2 Phụ lục 1.3 Phụ lục 1.4
Phụ lục 1.5 Phụ lục 1.6 Phụ lục 1.7 Phụ lục 1.8
Phụ lục 2.1 Phụ lục 2.2 Phụ lục 2.3 Phụ lục 2.4
Chương 2.5 Phụ lục 2.6 Phụ lục 2.7 Phụ lục 2.8
Phụ lục 2.9 Phụ lục 2.10 Phụ lục 2.11 Phụ lục References
Phụ lục 3.1 Chương 3.2 Chương 3.3 Phụ lục 3.4
Phụ lục 3.5 Phụ lục 3.6 Chương 3.7 Phụ lục 3.8
Chương 3.9 Phụ lục 3.10 Phụ lục 3.11 Phụ lục 3.12
Chương 3.13 Phụ lục 3.14 Phụ lục 3.15 Phụ lục 3.16
Chương 3.17 Phụ lục 3.18 Chương 3.19 Phụ lục 3.20
Chương 3.21 Phụ lục 3.22 Phụ lục 3.23 Phụ lục References
Chương 4.1 Phụ lục 4.2 Chương 4.3 Chương 4.4
Phụ lục 4.5 Phụ lục 4.6 Phụ lục References Phụ lục 5.1
Chương 5.2 Chương 5.3 Phụ lục 5.4 Phụ lục 5.5
Chương 5.6 Chương 5.7 Phụ lục References Chương 6.1
Chương 6.2 Chương 6.3 Chương 6.4 Chương 6.5
Chương 6.6 Chương 6.7 Chương 6.8 Chương 6.9
Chương 6.10 Chương 6.11 Chương 6.12 Phụ lục References
Phụ lục 7.1 Chương 7.2 Chương 7.3 Phụ lục 7.4
Phụ lục 7.5 Phụ lục 7.6 Phụ lục 7.7 Phụ lục 7.8
Chương 7.9 Phụ lục 7.10 Phụ lục 7.11 Phụ lục 7.12
Phụ lục 7.13 Phụ lục 7.14 Phụ lục 7.15 Phụ lục 7.16
Phụ lục 7.17 Phụ lục 7.18 Phụ lục 7.19 Phụ lục 7.20
Phụ lục 7.21 Phụ lục 7.22 Phụ lục 7.23 Phụ lục 7.24
Phụ lục 7.25 Chương 8.1 Chương 8.2 Chương 8.3
Chương 8.4 Phụ lục 8.5 Chương 8.6 Chương 8.7
Phụ lục 8.8 Chương 8.9 Chương 8.10 Chương 8.11
Chương 8.12 Phụ lục 8.13 Chương 10.1 Chương 10.2
Chương 10.3 Chương 10.4 Chương 10.5 Phụ lục References
Phụ lục 11.1 Chương 11.2 Chương 11.3 Phụ lục 11.4
Chương 11.5 Chương 12.1 Chương 12.2 Chương 12.3
Chương 12.4 Phụ lục 12.5 Chương 12.6 Chương 12.7
Phụ lục 12.8 Chương 12.9 Chương 12.10 Phụ lục 12.11
Chương 12.12 Chương 12.13 Chương 12.14 Chương 12.15
Chương 12.16 Phụ lục references Chương 13.1 Chương 13.2
Chương 13.3 Chương 13.4 Chương 13.5 Chương 13.6
Chương 13.7 Chương 13.8 Chương 13.9 Phụ lục 13.10
Phụ lục 13.11 Phụ lục References Phụ lục 14.1 Chương 14.2
Chương 14.3 Chương 14.4 Phụ lục 14.5 Phụ lục 15.1
Phụ lục 15.2 Phụ lục 15.3 Phụ lục 15.4 Chương 15.5
Chương 15.6 Chương 15.7 Phụ lục 15.8 Phụ lục 16.1
Phụ lục 16.2 Chương 16.3 Phụ lục 16.4 Phụ lục References
Phụ lục 17 Chương 17.1 Chương 17.2 Phụ lục 17.3
Phụ lục 17.4 Phụ lục 17.5 Chương 17.6 Phụ lục References
 Thư viện Khoa Học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh