| Written By Tiến sĩ Gillian Burrington | |||
| Contents : Thiết kế và điều chỉnh dịch vụ và thư viện | |||
| Skip to Navigation | |||
| 12.1. | Giới thiệu | ||
| 12.2. | Đường đến thư viện | ||
| 12.3. | Bước vào thư viện | ||
| 12.4. | Bên trong thư viện | ||
| 12.5. | Độ tương phản màu sắc | ||
| 12.6. | Di chuyển trên mặt phẳng ngang | ||
| 12.7. | Nội thất | ||
| 12.8. | Trưng bày | ||
| 12.9. | Hướng dẫn và bảng hiệu | ||
| 12.10. | Di chuyển theo trục thẳng đứng | ||
| 12.10.6. | Bậc thang | ||
| 12.11. | Công nghệ hỗ trợ | ||
| 12.12. | Trang thiết bị chuyên dụng | ||
| 12.13. | Tài liệu in ấn | ||
| 12.14. | Thư viện tiếp cận được | ||
| 12.15. | Dịch vụ truy cập được | ||
| 12.16. | Tập huấn nhân viên | ||
| Tham khảo | |||
| 12.1. | Giới thiệu | ||
Những thư viện mà có thể tiếp cận và nhạy cảm với nhu cầu của người khiếm thị cũng sẽ nơi dễ truy cập và dễ sử dụng hơn đối với mọi người khác. Hơn nữa, người có vấn đề thị lực nghiêm trọng thích đến thư viện truy cập được nơi mà họ cảm thấy có cơ hội được tự mình chọn lựa tài liệu hơn là phải lệ thuộc vào người khác. |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.1.1. |
Mặc dù chương này nhắc lại tổng quan tóm tắt những gì cần thiết mà Cẩm nang Thực hành tốt nhất đã chỉ ra khi một thư viện phục vụ người khiếm thị, điều quan trọng là phải chỉ ra được nhiều nội dung trong đó tương đối tương đương với vấn đề đáp ứng nhu cầu của người khiếm khuyết về khả năng vận động và nghe. Tương tự, nó cũng được thiết kế để đáp ứng nhu cầu người sử dụng thư viện, nhưng nhiều nội dung trong đó cũng tương đối thích hợp cho cả vấn đề thiết kế vốn tư liệu có thể truy cập được ở các viện lưu trữ, hay phòng triển lãm trưng bày nghệ thuật và bảo tàng. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.1.2. |
Mỗi một vấn đề trình bày dưới đây thích hợp cho việc tiếp cận đối với có khiếm khuyết vận động hay nghe, trừ một số chỗ có sự mâu thuẫn được ghi chú ở phần 12.7.1. Nhiều vấn đề trình bày ở chương này có thể thực hiện được mà không phải tốn kém thêm gì cả, và tất cả chúng cần được xét đến như một phần của kế hoạch điều chỉnh xây dựng trước thời điểm trình dự án và chú ý đến những gì mà tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam cho các công trình công cộng tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận quy định. Có những độ tương phản màu sắc thích hợp (không cần phải lòe loẹt mà cũng đừng quá xấu) là cách dễ dàng và ít tốn kém để làm tăng khả năng tiếp cận của người có vấn đề về thị lực. Những điểm dưới đây cũng nên sử dụng khi trình bày tóm lược cho kiến trúc sư hay nhà thiết kế biết chú ý, người cần được thuyết phục (nếu họ không sẵn sang) là việc tiếp cận được và vấn đề thẩm mỹ đều có vai trò như nhau trong một thiết kế tốt. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.1.3. |
Khi có kế hoạch tu bổ lớn thì nên cố gằng thực hiện một cuộc kiểm tra đánh gái khả năng tiếp cận thư viện qua một tổ chức tư vấn hay chuyên gia trong lĩnh vực phục vụ người khuyết tật, và người cũng sẽ làm việc với các nhà thiết kế và kiến trúc sư để đảm bảo đạt được những thực hành tốt nhất cho việc tiếp cận tòa nhà. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.1.4. |
Khi có kế hoạch tu bổ lớn thì nên cố gằng thực hiện một cuộc kiểm tra đánh gái khả năng tiếp cận thư viện qua một tổ chức tư vấn hay chuyên gia trong lĩnh vực phục vụ người khuyết tật, và người cũng sẽ làm việc với các nhà thiết kế và kiến trúc sư để đảm bảo đạt được những thực hành tốt nhất cho việc tiếp cận tòa nhà |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.2. | Đường đến thư viện | ||
Back to Chapter index | |||
| 12.2.1. |
Nơi xuống xe, đậu xe, hay trạm xe buýt v.v. chỉ nên cách thư viện khoảng 50 mét (lý tưởng nhất là không quá 20 mét) từ cổng chính vào. Nên có những bảng chỉ dẫn màu tương phản mạnh đặt ở cổng vào hay các bến đậu đỗ xe. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.2.2. |
Lối đi bao giờ cũng bằng phẳng, ở tình trạng tốt và cần được chiếu sáng. Các khỏang trống rộng phải được lối tráng lát để hướng dẫn như quy định xây dựng. Điều 52, Luật Xây dựng (có hiệu lực từ ngày 1/7/2004): 1. Thiết kế xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu chung sau đây: ... đ) An toàn, tiết kiệm, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn liên quan; đối với những công trình công cộng phải đảm bảo thiết kế theo tiêu chuẩn cho người tàn tật;
Thực trạng về vấn đề này tại Việt
Ðể người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng
Việt http://www.vtv.vn/vi-vn/VTV3/sacmau/2004/9/25775.vtv "Người khuyết tật ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc đi lại, đến trường, đến các công sở để làm việc, hoặc tới những nơi giải trí..., bởi thiết kế của các công trình xây dựng hầu như không dành cho họ. Vì vậy, họ không được giáo dục đầy đủ, không có cơ hội tìm việc làm - và trở thành gánh nặng của xã hội", ông John Lancaster, nguyên Giám đốc Văn phòng hỗ trợ người khuyết tật Việt Việc đi lại là rất khó khăn đối với người khuyết tật Việt Mấy năm gần đây thì Chính phủ Việt Ở các nước phát triển, từ vài thập kỷ trở lại đây, Chính phủ đã quy định tất cả các toà nhà phải có thiết kế sao cho người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng thì mới được xây dựng. Ở nước tôi, thậm chí người ta còn tổ chức những cơ quan chuyên theo dõi việc thực thi những quy định này. Chúng tôi kiểm tra tất cả các toà nhà trên khắp đất nước, xem chúng có thể khiến người khuyết tật tiếp cận dễ dàng hay không. Chính phủ nước tôi không bao giờ cho phép xây dựng một công trình mà người khuyết tật không thể tiếp cận được. Ngoài công việc kiểm tra chất lượng công trình như đường dây điện, nền móng... như các bạn đang làm, chúng tôi còn kiểm tra để chắc chắn rằng, người khuyết tật sẽ không gặp khó khăn gì khi tiếp cận công trình này. Chính phủ rất kiên quyết thực hiện các quy định này. Ngoài ra, đối với những toà nhà xây dựng từ trước khi có quy định này, chính quyền địa phương sẽ đến kiểm tra và đề nghị chủ toà nhà khắc phục, sao cho người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng. Chúng tôi đã có những tiến bộ vượt bậc, không chỉ bởi có luật pháp tốt, mà còn bởi Chính phủ kiên quyết thực hiện các điều luật đó. Kết quả là người khuyết tật có cơ hội được học hành, nhiều người khuyết tật có việc làm, họ có thể vui chơi cùng bạn bè... Đơn giản bởi tất cả mọi không gian họ đều tiếp cận được, và sử dụng được, kể từ tàu điện ngầm, tàu hoả, rồi taxi, xe buýt, máy bay... Tôi không nói chỉ có hai điều kiện trên. Tôi nghĩ, các bạn còn phải chú trọng tới vấn đề nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về sự cần thiết trong việc tạo dựng môi trường có thể tiếp cận đối với người khuyết tật. Bên cạnh đó, các bạn cũng cần có những kiến trúc sư được đào tạo căn bản để có thể thiết kế những toà nhà dành cho người bình thường và khuyết tật. Trên thực tế ở đất nước chúng tôi, chúng tôi không có thiết kế riêng cho những người khuyết tật, mà là những thiết kế chung cho các toà nhà, hệ thống giao thông, để làm sao, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận và sử dụng được một cách thuận tiện nhất, bất kể họ là người bình thường hay người khuyết tật. Ông đang nói về việc hỗ trợ thiết kế môi trường cho người khuyết tật ở Việt Nam, ông nghĩ gì về những tác động của thực tế hiện nay ở Việt Nam đối với cuộc sống, tương lai của những người khuyết tật ? Có hai hướng ảnh hưởng. Hiện nay, ở Việt Ông có thể nói một vài yêu cầu đối với các kiến trúc sư thiết kế đường riêng cho người khuyết tật? Tôi nghĩ rằng kiến trúc sư nên ngồi cùng những người khuyết tật khi thiết kế toà nhà để biết chắc toà nhà đó phù hợp với người khuyết tật. Việt |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.2.3. | Đường dốc | ||
Đường dốc sẽ có ích cho người khiếm thị và cho cả người khuyết tật vận động. BS 8300 cho biết thông tin chi tiết về đòi hỏi kỹ thuật của các đường dốc có chiều dài và kiểu cách khác nhau. Đặc thù chủ yếu như sau: |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.2.3.1. |
Đa số đường dốc cần có tay vịn hai bên, cao tối thiểu là 900 mm và tối đa là 1000 mm. Phải có lề an tòan 100mm trên gờ đường dốc |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.2.3.2. |
Hầu hết các dường dốc cần có tay vịn cả hai bên thấp nhất là 900mm và cao nhất là 1000mm. Cũng nên có bờ kè khỏang 100mm bên các gờ của ray, để mà các đầu gậy hay bánh xe không bị trượt ra khỏi. Một tay cầm phụ khoảng 600mm cũng nên có để đảm bảo an toàn cho các em bé. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.2.3.3. |
Đường dốc vừa đủ cạn để dễ bước xuống hay lên có đầu đỉnh và đáy chân rộng băng chiều ngang đường đốc và dài tối thiểu 1200mm không vướng việc mở cửa hay để vật cản. Đọan đường dốc không được dài quá 10 mét cho từng đạon và và cao quá 500mm. Các nơi dừng nghỉ phải dài 1500mm, độ dốc cho phép tối đa từ 1/12, cứ cách 2 mét thì có 1 chỗ dừng. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.2.3.4. |
Chiều rộng bề mặt tối thiểu của đường dốc là 1200mm. Bề mặt không được dễ bị trơn trượt, bám tốt và thóat nước tốt
Hình minh họa 12a: Ray Quyền tác giả Burrington Partnership 2000. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.3. | Bước vào thư viện | ||
Back to Chapter index | |||
| 12.3.1. |
Cửa vào nên dễ nhận ra và có khỏang mở ra vào khỏang 1500x1500mm ở mỗi bên, nên phân biệt rõ với môi trường xung quanh. Ở mỗi bên có cửa sơn một màu và màu sơn tương phản với khung và nền xung quanh. Cửa kính nên có khung sơn một màu và dãi khắc phía trên với môi trừơng xung quanh dễ nhận ra từ 900 đến 1500mm kể từ bề mặt sàn. Dãi dưới thấp khỏang 600mm để dành cho trẻ bị khiếm thị |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.3.2. |
Nếu cửa vào không tự động mở chúng nên dán nhãn “đẩy vào” hay “đẩy ra” có tương phản màu cao với xung quanh. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.3.3. |
Cửa tự động điều khiển có hai lọai: a. Cửa tự mở bằng cách nhận vào nút điều khiển. Nếu những cửa này được dùng thì bảng điều khiển nên có màu tương phản với xung quanh để dễ nhận biết b. Cửa cảm ứng theo nhiệt độ hay do sự di chuyển. Nên có âm thanh báo hiệu để biết chúng đang mở hay đóng |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.3.4. |
Cửa xoay- thậm chí với lọai điều khiển mạnh – cũng không hề thích hợp cho người khiếm thị cũng như đối với người đi xe lăn, vì thế nên đổi hay có cửa phụ kế bên dùng để thay thế |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.3.5. |
Nơi mà ngưỡng cửa bảo vệ chống lại thời tiết là điều cần có, nên thấp hơn có màu tương phản với đường đi
Hình minh họa 12b: Cửa ra vào Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.
|
||
Back to Chapter index | |||
| 12.4. | Bên trong thư viện | ||
Back to Chapter index | |||
| 12.4.1. |
Quầy tiếp tân nên đặt nơi giúp người kiếm thị dễ nhận ra, gần cửa ra vào hay được dán tên rõ |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.4.2. |
Ánh sáng thì cần cho tất cả mọi người nhưng có đến 4% người khiếm thị không có khái niệm về ánh sáng. Sự phản chiếu ánh sáng cho những màu chủ lực chung quanh càng mạnh, hiệu quả ánh sáng càng được phát huy. Những điểm chính về ánh sáng có thể nhận thấy: |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.4.2.1. |
Sự phân bố ánh sáng đồng đều sẽ rất hữu ích đối người già và khiếm thị. Bóng đèn dài cho ánh sáng sáng khuếch tán hay bóng đèn tròn (không nên chiểu thẳng vào mắt người sử dụng) nên bố trí để phủ sáng được đồng đều và làm cho mọi người có vấn đề về thị lực cảm thấy bằng lòng. Nên tránh làm cho một số thì quá sáng và nơi thì sáng mờ mờ, vì vậy những chỗ bóng đèn bị thiếu hay hư thì cần thay bóng ngay. [nên nhớ là bóng đèn dài có thể gây phiền việc sử dụng thiết bị nghe. RNID có tư vấn về chuyện này] |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.4.2.2. |
Bố trí ánh sáng thêm cho những khu vực đặc biệt thì nên trực tiếp rọi vào tài liệu (ví dụ như khu vực trưng bày) mà không đựơc chiếu vào mắt người khác. Ánh sáng bên trong các kệ trưng bày thì nên rọi xuống phía dưới và đèn bàn thì nên che đi. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.5. | Độ tương phản màu sắc | ||
Màu sắc và tương phản màu là các yếu tố chính khi thiết kế môi trường có ích đối với người khiếm thị. Đừng để sự tương phản trở nên lòe lọet quá. Phải dựa trên gam màu và độ phân giải của màu. Người khiếm thị sử dụng màu sắc như là phương tiện để định hướng. Vì thế tạo sự tương phản cũng là yếu tố an tòan quan trọng. Hướng dẫn thiết kế ICI về việc sử dụng màu sắc và độ tương phản (ICI, 1997) cho thông tin chi tiết về cách sử dụng màu, cung cấp một bảng màu và bảng phối màu dựa trên bảng màu của Dulux. Những gì mà mắt nhìn thấy màu là sự kết hợp tỷ lệ màu, giá trị phản chiếu ánh sáng, và sắc độ hay độ phẩn giải. Vì thế cũng có thể có sự tương phản màu rõ ràng do độ bóng màu khác nhau hay từ độ sâu của cùng một màu. |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.6.1. |
Thảm chùi chân ở cửa ra vào nên ngang bằng với bề mặt sàn để không gây trở ngại (hay gây cản trở cho người đi xe lăn, những người này cần có thêm yêu cầu khác nữa về việc bố trí và sử dụng thảm). Nên sử dụng các loại thảm vải giả nhung |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.6.2. |
Thảm phủ sàn nhà không được để trơn trượt và có độ bám. Đối với người khuyết tật về vận động, người khiếm thính và cả người khiếm thị là vật liệu thảm tốt nhất là loại sợi ít mịn, và dệt khít và dệt theo nhiều chiều hướng |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.6.3. |
Tấm thảm trải sàn phải được giữ ở tình trạng tốt. Nếu có những chỗ rách nhỏ và chỗ nối không đều có thể gây rủi ro cho người mắt kém. Trở về chỉ mục chương |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.6.4. |
Lối đi có chiếu sáng để định hướng phải có màu tương phản với thảm trãi sàn và với các cả vật liệu cấu thành |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.6.5. | Phải dẹp bỏ các trủi ro thường trực hay tạm thời trênn tất cả các lối đi như chậu hoa, thùng rác hay những chồng sách v.v.Cũng đừng để những vật cản như thế kế bên đường ra cổng, thang máy hay cầu thang. | ||
Back to Chapter index | |||
| 12.7. | Nội thất | ||
Màu sắc của đồ đạc nên tương phản với màu sàn và tường nhà. Nội thất nên chắc và vững và tay vịn nên cách bề mặt sàn nhà khỏang từ 75-100mm, khiến ngừoi sử dụng gậy cũng định vị được. Những tay vịn thế này không nên sử dụng ở các bàn vì thế sẽ cản trở cho người đi xe lăn. Phải dẹp đồ đạc tránh ra khỏi đường đi trong tòa nhà.
Hình minh họa 12c: Kệ sách và màu sắc (Hình : Hội đồng Quận Somerset) Quyền tác giả Burrington Partnership 2000. |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.7.1. |
Tốt nhất, theo các khuyến cáo mới đây, đặt giá sách trong tầm nhìn tối đa từ 850-1750mm FFL để thuận tiện là cho mọi người khuyết tật. Tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với nhu cầu người đi xe lăn thường chỉ sử dụng kệ cao từ 650-1150 mm. Vì thế điều quan trọng hơn là phải có hướng dẫn rõ ràng (xem 12.9.2), và nhân viên phải dành thời gian để trợ giúp khi cần thiết. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.7.2. |
Trang thiết bị gắn vào tường như các miếng kim lọai nằm bên ngòai của một số máy như máy photocopy thì quy định không được nhô ra ngoài quá 100mm và phải có vật cảnh báo rủi ro như một miếng chắn để kế bên lối đi hay đặt sát trong hành lang khiến người sử dụng gậy cũng có thể dò được mà tránh đi. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.8. | Trưng bày | ||
Các quầy trưng bày tương ứng với bề mặt tường, hoặc chúng nên là những kệ trưng bày dễ nhìn thấy có độ tương phản màu sắc với tường và nền. Nếu được lắp kính thì nên là kính không phản quang |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.9. | Hướng dẫn và bảng hiệu | ||
Nên kết hợp các hai kiểu viết vì chúng rất khó đọc viết chỉ bằng chữ in, cho phép người không nhìn rõ nhìn ra hình dạng các từ, thậm chí cả khi người đó khó nhận ra từng ký tự một. Kiểu chữ chân phương như Arial thì dễ đọc hơn những loại kiểu cọ như Times New Roman. Helvetica medium, Futura và Avant Garde cũng được khuyến khích dùng. Cũng nên tạo tương phản tốt so với màu nền. Cũng nên tạo tương phản tốt so với màu nền, kích thước và độ dày chữ vừa đủ, không dùng các vật liệu phản quang. Bảng chú thích và bảng hiệu tạo sự phản chiếu do đèn và ánh sáng là cho mọi người khó nhìn thấy. |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.9.1. |
Ở các tòa nhà lớn, nên có bản đồ nổi của tòa nhà gần cửa ra vào, Hãy tìm hiểu các các trng tâm hỗ trợ người khuyết tật hay hội người mù để biết dấu hiệu nào cần thiết và nên đặt ở vị trí nào để phát huy hết hiệu quả. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.9.2. |
Hứơng dẫn về cuối phòng nên có khoảng từ 1200 đến 1700 FFL. BS 8300 cho là nên có chiều cao “x” ít nhất là 30mm. Hướng dẫn đầu trên nên có chiều cao “x” ít nhất là 49mm. Hướng dẫn của kệ có 1200 mm trên FFL được khuyến khích nên dùng cho người khiếm thị cũng như người đi xe lăn, nên có màu tương phản với màu nền chung quanh và có điểm hướng dẫn
Hình minh họa 12d: Bảng chữ (Hình ảnh: Hội đồng Quận Somerset) Quyền tác giả Burrington Partnership 2000. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.1. |
Thang máy là phương tiện di chuyển theo trục thẳng đứng an tòan và tốt nhất. Thang máy phải dừng ở mặt phẳng ngang bằng với mức sàn nhà. Các nút điều khiển phải đặt hàng ngang ở độ cao khỏang 900-1100mm so với mức sàn nhà. Số ttầng lầu ghi bằng chữ số Ả rập bằng chữ Braille. Nên có tín hiệu âm thanh hay đọc số thứ tự tầng lầu khi đến. Hướng dẫn quy định di chuyển trong tòa nhà cho xe lăn cũng giúp ích cho người khiếm thị. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.2. |
Gương soi phía sau buồng thang máy phải có vạch khắc rõ và từng phần có khung bao quanh màu sắc tương phản để những người kém mắt nặng không nhầm bóng của họ trong gương với người khác đang rời khỏi thang máy và biết đứng lui trở lại khi khi cửa đóng lại. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.3. |
Cửa thang máy nên định giờ mở khoảng 20-25 giây |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.4. |
Cầu thang nghiêng ở góc 90 độ so với lối đi chính. Gầm cầu thang nên được bít kín để không gây nguy hiểm cho người khiếm thị Trở về chỉ mục chương |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.5. |
Chân cầu thang và đỉnh cầu thang phải có khoảng trống để di chuyển rộng khoảng 1500x1500 mm trên đỉnh và dưới chân cầu thang. Khoảng trống này phải được che bởi một đường viền hình gây chẻ đôi làm bằng vải giả nhung hay bằng các vật liệu chắc như quy định xây dựng phần M. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.6. | Bậc thang | ||
Bậc thang để ngỏ gây nguy hiểm nên phải được bao che lại. Cũng vì lý do này, phần nhô ra ngoài giữa hai bậc kế tiếp nhau phải là 25mm. Bậc thang phải rộng tối thiểu là 1000 mm và sâu tính từ ngoài vào trong là ít nhất là 280mm. Chiều cao lý tưởng của nấc thang khoảng từ 150-170 mm, cao nhất cho phép là 170 mm. Mép bậc thang phải có mép bo và có màu tương phản thì sẽ an toàn hơn cho mọi người; miếng bo này phải bằng phẳng với phần còn lại của bậc thang. |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.7. |
Nhất thiết phải có tay vịn, phải gắn hai bên cầu thang chiều cao là 900-1000mm. Bề dày tay vịn là 45-50 mm. tay vịn phải làm liên tục theo chiều đi lên cầu thang tay vịn sẽ chấm dứt sau khi ra ngoài nấc thang cuối ở dưới và nâc thang cuối ở trên 300mm, lý tưởng là nhô ra khỏang 500mm. Cầu thang rộng hơn 1800mm cần có tay vịn ở giữa nữa. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.8. |
Đường dốc bên trong giúp ích co người kém thị lực- Dường dốc lên cao hơn 600 mm phải có rào bảo vệ. Đường dốc dài phải có rào bảo vệ bên cạnh như thể đường dốc ngòai, các đường dốc giúp ích cho người ngồi xe lăn nên hai bên bảo vệ phải trong suốt với các vệt gạch cho dễ nhìn thấy.
|
||
Back to Chapter index | |||
| 12.10.9. | Thư viện lưu động cũng nên dễ tiếp cận. Nhiều người già khiếm thị thích dùng thang nâng hơn là bậc thang bước lên. Ánh sáng, trang thiết bị và màu sắc trong thư viện cũng theo chỉ dẫn như các nguyên tắc nêu trên | ||
Back to Chapter index | |||
| 12.11. | Công nghệ hỗ trợ | ||
Nhiều công nghệ hỗ trợ được bàn đến ở chương 13 |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.12. |
Vị trí của những thiết bị chuyên dụng cũng có thể hỗ trợ hay cản trở việc tiếp cận. Những thư viện nhỏ bất kỳ thiết bị chuyên dụng nào như máy phóng đại CCTV, hay máy quét sẽ dễ truy cập nhất (và sử dụng nhiều nhất) ở các khu vực có dịch vụ chính. Ở các thư viện lớn hơn có các bộ phận chuyên biệt có nhân sự đảm trách khâu phục vụ cho người khiếm thị là hiệu quả nhất. Vị trí riêng biệt cũng giúp tránh được chuyện thiết bị đọc làm ảnh hưởng đến người khiếm thính đang sử dụng thư viện |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.12.1. |
Nhân viên nên được tập huấn để sử dụng tất cả những công cụ chuyển dạng vàv các thiết bị hỗ trợ khác. Nếu họ không chắc về cách sử dụng thì họ không sẵn sàng trợ giúp cho độc giả khiếm thị được, và cũng không thúc đẩy được việc sử dụng các dịch vụ hay các trang thiết bị này. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.12.2. |
Hướng dẫn cách sử dụng các loại máy móc cần được ghi ra cho nhân viên vốn là những người ít khi sử dụng, và nên có bảng chuyển dạng hay phóng to ở hình thức và kích cỡ thích hợp cho người khiếm thị đọc được. Ví dụ nếu máy quét và chuyển sang dạng đọc máy thì nên cung cấp cùng với phương tiện nghe, chẳng hạn nếu thu trên vật mang tin là băng cassette thì cần phải có máy cassette để giúp họ biết cách sử dụng cá thiết bị này mà không lệ thuộc nhiều vào người thủ thư phục vụ. Các hứơng dẫn này nên viết bằng ngôn ngữ đơn giản và chỉ đưa vào những điểm cơ bản như nút tắt/ mở ở chỗ nào. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.13. | Tài liệu in ấn | ||
Tài liệu dạng in mà thư viện xuất bản nên theo cẩm nang “Hướng dẫn cách in ấn rõ” của RNIB (1997). Tài liệu này có ích cho mọi người chứ không chỉ cho riêng người khiếm thị |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.13.1. |
Các mẫu hay tờ rời nên dùng loại giấy loại trắng ngà hay kem hơn là dùng lọai trắng quá, và bề mặt không nên quá bóng, để tránh sự chói lòa phản quang lại. Văn bản in trên nền trơn không in trên nền có logo hay có hình ảnh minh họa, để tạo độ tương phản rõ nét. Canh lề bên phải thì dễ đọc hơn là canh lề cả hai bên, vì canh lề cả hai bên có khi tạo ra khỏang cách giữa các chữ và các ký tự. Kích cở chữ thường không nên nhỏ hơn 12 và nên dùng cở chữ 14 |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.13.2. |
Một số thư viện có mẫu đăng ký thẻ bạn đọc in chữ lớn cho mọi người, và đây là cách giúp đỡ kín đáo cho bất cứ ai bị khiếm thị. Các yêu cầu hay mẫu mượn liên thư viện, cũng như bất cứ tờ rời nào, cũng nên in chữ lớn, trưng bày bên cạnh nhưng loại in ấn thông thường. Điều này cho phép hơn 1/3 người khiếm thị chọn được lọai mà họ thích dùng giống như cách của người khác. Nên có tất cả tờ rơi, mẫu trên trang web của thư viện, như một số thư viện trường đại học đã làm, cũng là một cách tốt trong ứng dụng thực hành nghiệp vụ đặc biệt này. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.14. | Thư viện tiếp cận được | ||
Thư viện tiếp cận được phải luôn đi kèm với các dịch vụ truy cập được. Người khiếm thị nên được đưa vào trong hàng lọat các dịch vụ có trong thư viện từ kể chuyện đến triển lãm. |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.14.1. |
Sử dụng sách có hai hình thức in ấn dạng Moon hay Braille và dạng in ấn thông thường trong các giờ kể chuyện giúp cho trẻ khiếm thị chia sẻ niềm vui thú đọc sách với các em khác. Nó cũng cho các em bình thường khác thấy rằng có rất nhiều cách để đọc, và trẻ khiếm thị có một kỹ năng mà chúng không có. Người kể chuyện nên tránh dùng ngôn ngữ mà đối với trẻ khiếm thị không thể hình dung được. Họ phải tìm ra được những từ ngữ khác để diễn đạt, chẳng hạn thay vì “các em hãy nhìn xem” thì là “các em hãy sờ vào đây” |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.14.2. |
Trưng bày và triển lãm nên có cả người khiếm thị nếu như chúng được tổ chức đằng sau kính phản quang, và các nhãn mô tả có kiểu chữ Arial cở 14. Nếu danh mục kèm theo thì nên in chữ lớn hay kèm với một băng ghi âm sẽ giúp cho NKT hòa nhập với không khí chung của cuộc triển lãm. Những nhóm địa phương hay tổ chức thương mại thường thuê một số vị trí trưng bày trong thư viện, nên hỏi họ cuộc trưng bày của họ |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.14.3. |
Quảng bá các sự kiện chung này qau báo nói cũng như những nơi chọn làm khu trưng bày. Thông báo cho các hội người mù biết rõ trước, vì thế họ có thể truyền tin tức đó trong các cuộc họp hay trên bảng tin của họ. Thủ thư phục vụ ở các đơn vị địa phương cũng nên được thông báo. Và nên có chi tiết về các cuộc này có mời cả sự tham gia của NKT qua các dịch vụ truy cập được, bạn bè, gia đình của người khiếm thị sẽ loan báo các tin tức đó. (Xem thêm thông tin về quảng bá và thúc đẩy ở Chương 15) |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.15.1. |
Quan trọng là nhớ rằng bất cứ dịch vụ phân phối thay thế nào cũng không được có chuẩn thấp hơn những chuẩn chung. Dịch vụ chuyển phát tới nhà hay viếng thăm khu dân cư cũng nên tổ chức ở các hình thức có thể truy cập như truy cập thông tin về tài liệu của thư viện, cơ hội đặt mượn tài liệu, cũng như cơ hội tham quan thư viện. Máy tính xách tay có thể sử dụng để ta cứu mục lục. Hay điện thọai di động có thể đảm bảo trả lời nhanh chóng các câu hỏi.Nhân viên phân phối tài liệu nên được tập huấn để có thể đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị. |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.15.2. |
Nếu thư viện không thể thực hiện dịch vụ này thì nên có dịch vụ gửi bưu phẩm. Tốt nhất là cung cấp sách chữ lớn cho người khiếm thị nào có thể đọc dạng này, cũng như sách nói, vì dạng ấn phẩm này so với tài liệu in ấn thông thường là rất ít. Cũng nên nghĩ đến cung cấp dịch vụ hỗ trợ vệic đặt mượng thông qua danh mục các tài liệu có thể mượn được và danh mục sách mới, để bạn đọc có thể lướt qua trên kệ hay trên mục lục thư viện |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.15.3. |
Truy cập từ xa vào thư viện là lựa chọn phổ biến đối với nhiều người khiếm thị nếu họ có trang thiết bị công nghệ phù hợp, họ có thể tự tạo máy của riêng họ sử dụng màu sắc hay kích cở chữ phù hợp với nhu cầu của mình, và chọn đúng giọng đọc mà họ thích nghe. Truy cập từ xa thông qua trang web hay email thì phát triển rất tốt ở các thư viện trường đại học mà từ đó bạn đọc có thể tra tìm mục lục hay gửi các yêu cầu hay câu hỏi. Tốt nhất, tất cả các trang web truy cập có thể dùng phần mềm đọc màn hình để nghe được. (Xem thông tin thêm trong phần thiết kế trang web truy cập được ở chương 14) |
||
Back to Chapter index | |||
| 12.16. | Tập huấn nhân viên | ||
Tập huấn nhân viên là phần rất cần thiết trong môi trường truy cập được. Tất cả nhân viên, không tùy thuộc vào vị trí nơi họ làm, nên có sự hiểu biết cơ bản về việc mở rộng dịch vụ cho ngừơi khiếm thị, những cách trong chừng mực điều kiện khác nhau sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng đọc và phải xem xét lại môi trừơng chung của thư viện. Mục đích của việc tập huấn cơ bản là đảm bảo cho các quyết định về mọi lĩnh vực của dịch vụ thư viện từ mục lục, mẫu của trang web, tất cả quy trình đều xét tới nhu cầu của người khiếm thị. Những cuộc tập huấn như thế sẽ trang bị cho nhân viên ý thức nhận ra các vấn đề, ví dụ trong thiết kế các mẫu, và đảm bảo rằng họ biết chỗ để có lời tư vấn hướng dẫn. |
|||
Back to Chapter index | |||
| 12.16.1. |
Nhân viên làm việc ở dịch vụ đọc, cho dù có phục vụ NKT hay không, vần được tập huấn thêm với nhiều cách thích hợp để tạo sự giúp đỡ cho ngừơi có thị lực kém (thỉnh thỏang cũng đề cập đến phong cách hay yêu cầu phục vụ người khuyết tật). Những điểm chính có thể nhận thấy: a. Chú trọng vào việc đáp ứng nhu cầu tri thức; Tập huấn nhận thức nên thực hiện bởi tổ chức tâp huấn chuyên nghiệp, như RNIB. Ở một số địa phương, các hội người mù ở địa phương cũng nên được tập huấn |
||
Back to Chapter index | |||
| references. | Tham khảo | ||
|
Các tổ chức chuyên gia kiểm định tính dễ tiếp cận của thư viện ADAPT Trust. 8 Burrington Partnership. 33 Green Courts, Bowdon, Centre for Accessible Environments. Nutmeg House, Tài liệu tham khảo Barker, Peter. (1988). Building sight: handbook of building and design solutions to include the needs of visually impaired people. HMSO,RNIB. BS 8300. (2001). Design of buildings and their approaches to meet the needs of disabled people. British Standards Institute. Burrington, Gillian. (2002). Audit your access for 2004: a comprehensive CD-ROM toolkit for libraries. Burrington Partnership. Department of the Environment, Transport and the Regions. (1999). The Building Regulations 1991. Approved Document M: access and facilities for disabled people. Stationery Office. 1999 edition. (The government has indicated that the next edition of Part M will incorporate the standards set out in BS 8300). ICI. (1997). Design guide to the use of colour and contrast to improve the built environment for visually impaired people. ICI. RNIB. (1997). Clearprint guidelines. Colour selection in the www.rdg.ac.uk/~keswrims/rbw.html |
|||
Back to Chapter index | |||


