Contents : Nội dung
Skip to Navigation
1. Phần giới thiệu
2. Mục đích của dự án
  2.1. Giới thiệu
  2.2. Tại sao cần có cẩm nang
  2.3. Đạo luật chống phân biệt đối xử (D.D.A.)
  2.4. Nhu cầu cải thiện
  2.6. Số liệu thống kê phân bố dân số
  2.7. Nhiều thông tin thực hành
  2.8. Dịch vụ hợp tác
  2.9. Thực hành tốt
  References. Tài liệu tham khảo
3. Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 1995, và áp dụng vào hoạt động thư viện
  3.1. Cơ sở
  3.4. Nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ
  3.6. Trường hợp ngoại lệ
  3.8. Dịch vụ và trang thiết bị phụ trợ
  3.14. Truy cập vật lý
  3.15. Phục vụ bình đẳng
  3.16. Khái niệm bình đẳng trong phục vụ
  3.18. Tiêu chuẩn bình đẳng của dịch vụ
  3.20. Phân phối dịch vụ thay thế
  3.22. Diễn giải các trường hợp ngoại lệ
  3.23. Hướng dẫn thêm
  References. Tài liệu tham khảo
4. Các loại khiếm thị: nguyên nhân và ảnh hưởng trên khả năng và nhu cầu đọc
  4.2. Các nguyên nhân gây khiếm thị
  4.5. Mù hoàn toàn
  4.6. Người trẻ tuổi
  References. Thông tin chi tiết
5. Khảo sát nhân khẩu học về tình hình khiếm thị ở Anh quốc
  5.1. Mở đầu
  5.4. Tuổi khởi phát khiếm thị
  5.5. Giới tính
  References. Tham khảo
6. Chính sách và Quản lý dịch vụ
  References. Tài liệu tham khảo
7. Dịch vụ thư viện cho thiếu nhi
  7.1. Giới thiệu
  7.4. Hoạt động thúc đẩy và phát triển việc đọc sách
  7.5. Câu lạc bộ hướng dẫn làm bài tập
  7.6. Quảng bá dịch vụ
  7.7. Thiết kế và trưng bày thư viện
  7.8. Tập huấn nhân viên
  7.10. Bổ sung tài liệu
  7.11. Chọn tài liệu cho trẻ khiếm thị
  7.12. Xây dựng hình ảnh tích cực
  7.13. Sách nổi
  7.14. Sách khổ lớn
  7.15. Băng truyện
  7.16. Băng hình có thuyết minh hình ảnh
  7.17. Sách chữ lớn
  7.18. Tài liệu chữ Braille
  7.19. Tài liệu hình thức đôi
  7.20. Tài liệu chữ Moon
  7.21. Hình thức điện tử
  7.22. Thông tin cho phụ huynh
  7.23. Nhà cung ứng và các địa chỉ cần thiết
  7.24. Tài liệu tham khảo
  7.25. Sách thiếu nhi
8. Tài liệu chuyển dạng
  8.5. Thuyết minh hình ảnh cho phim
  8.8. Tài liệu thiếu nhi
  8.13. Tài liệu tham khảo
10. Từ NUCAF đến REVEAL: Mục lục liên hợp quốc gia cho tài liệu chuyển dạng
  References. Tham khảo
11. Mượn tài liệu chuyển dạng giữa các thư viện
  11.1. Giới thiệu
  11.4. Tổ chức quốc gia
12. Thiết kế và điều chỉnh dịch vụ và thư viện
  12.5. Độ tương phản màu sắc
  12.8. Trưng bày
  12.11. Công nghệ hỗ trợ
  references. Tham khảo
13. Công nghệ hỗ trợ và trang thiết bị
  13.10. Các địa chỉ liên hệ thư viện
  13.11. Các nhà cung ứng
  References. Tham khảo
14. Website thư viện truy cập được: Thiết kế cho mọi người
  14.1. Thế nào là “thiết kế cho mọi người” ?
  14.5. Nghiên cứu khả năng di động
15. Quảng bá dịch vụ thư viện
  15.1. Truy cập công bằng
  15.2. Quảng cáo là gì ?
  15.3. Vận dụng ý tưởng
  15.4. Mật độ dân cư người khiếm thị
  15.8. Kết luận
16. Tiêu chuẩn và hướng dẫn
  16.1. Giới thiệu
  16.2. Tiêu chuẩn quốc gia
  16.4. Hướng dẫn của quốc tế
  References. Tài liệu tham khảo
17. Nguồn tư vấn và thông tin
  17.3. Tập huấn về phục vụ công bằng và nhận thức về người khuyết tật
  17.4. Công nghệ hỗ trợ
  17.5. Thông tin truy cập được
  References. Tài liệu tham khảo

1.1.

Trong chương trình đánh giá việc chi tiêu toàn diện, Bộ Văn hóa Thông tin và Thể thao đã nhận thấy rõ nhu cầu phát triển dịch vụ thư viện cho người khiếm thị và đã trích 200,000 bảng trong kinh phí để đảm bảo người mù và khiếm thị hưởng được nhiều lợi ích thông qua các dịch vụ đọc và hoạt động của thư viện.

 

Nguồn quỹ này do Ủy ban Thông tin và Thư viện (LIC) và ban hợp tác giữa LIC và Share the Vision (là một cơ quan hoạt động nhằm cải thiện dịch vụ thư viện cho người khiếm thị) điều phối để phát triển và quản lý chương trình dự án hướng đến mục tiêu trên.


Back to Chapter index
1.2.

Cách tiếp cận để kết hợp các dịch vụ thư viện cho người khiếm thị với hoạt động chung bất cứ nơi nào có thể là việc làm đồng hành với cam kết của chính phủ trong việc tạo điều kiện cho người tàn tật hoà nhập vào xã hội và sử dụng được các dịch vụ.


Back to Chapter index
1.3.

Vì thế chương trình hoạt động bao gồm nhiều đề án bắt đầu bằng việc sắp xếp những khối công việc thiết yếu để đạt những mục tiêu này, cụ thể:

 

-  Có thêm những tài liệu chuyển dạng thay thế thích hợp phục vụ nhu cầu đọc đa dạng của người khiếm thị.

-  Tăng cường phạm vi hoạt động của mạng mục lục quốc gia cho tài liệu chuyển dạng.

-  Hình thành hệ thống mượn liên thư viện cho tài liệu chuyển dạng.

-  Đảm bảo các thư viện thực hiện các dịch vụ không rào cản ở cấp địa phương.

-  Đảm bảo Mạng thông tin mới và các chủ trương chính sách công nghệ thông tin của chính phủ phải quan tâm đầy đủ các cơ hội để cải thiện dịch vụ cho người khiếm thị


Back to Chapter index
1.4.

Xác định và phát triển những thực hành nghiệp vụ tốt nhất là yếu tố quan trọng trong việc cải thiện các dịch vụ của địa phương. Vì thế tôi rất hài lòng về dự án biên soạn và phân phối Cẩm nang thực hành này nhằm để hướng dẫn nghiệp vụ và hỗ trợ các nhà quản lý và nhân viên ở thư viện công cộng cơ sở và thư viện trường đại học. Sử dụng được dịch vụ hay không còn phụ thuộc vào hiện trạng của từng địa phương và quan trọng hơn cả là cách nhân viên thư viện phục vụ khách hàng của họ. Cẩm nang này được thiết kế để tư vấn nghiệp vụ thiết thực cho tất cả nhân viên có nhiệm vụ gặp gỡ và phục vụ người khiếm thị.


Back to Chapter index
1.5.

Cẩm nang được đúc kết từ kinh nghiệm của các chuyên gia trong lĩnh vực người khiếm thị và của các cán bộ thư viện, quản lý thư viện trong cả khối thư viện công cộng và trường đại học. Các hướng dẫn thực hành này được xem xét và thực hiện tùy theo tình hình thực tế của địa phương và chỉ dẫn thêm nhiều nguồn lực và hỗ trợ khác. Tài liệu cũng thể hiện nhu cầu phối hợp tốt hơn việc cung cấp dịch vụ của các tổ chức và chỉ ra tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các cơ quan tổ chức tại địa phương và trên toàn quốc.


Back to Chapter index
1.6.

Tôi hy vọng các bạn sẽ nhận thấy giá trị của tài liệu này trong việc xem xét và đánh giá lại dịch vụ của thư viện mình cho thành phần người sử dụng này. Với việc áp dụng rộng rãi Đạo luật chống phân biệt đối xử thì điều quan trọng là tất cả các dịch vụ thư viện phải thể hiện được chính sách và kế hoạch hoạt động một cách đầy đủ để đảm bảo việc sử dụng các dịch vụ cho mọi thành phần độc giả là điều hết sức quan trọng.


Back to Chapter index
1.7.

Dĩ nhiên kết quả quan trọng nhất phải là sự cải thiện dịch vụ thật sự và chính phủ cần lập ra những tiêu chuẩn và cách thức thích hợp để đánh giá theo tiêu chí. Ủy ban Thông tin và Thư viện LIC đã giao trách nhiệm cho phòng Thống kê Thông tin và Thư viện tại trường đại học Loughborough thực hiện cuộc khảo sát hiện trạng hoạt động trong giới chuyên gia về thư viện công cộng và từ đó sẽ định ra các tiêu chí theo dõi sự phát triển. Ở khu vực trường đại học, nhiều nghiên cứu tương tự do Mạng lưới Thông tin phục vụ người tàn tật ở bậc đại học (D.I.S.inH.E) – chương trình do Ủy ban các hệ thống thông tin phối hợp cấp kinh phí.


Back to Chapter index
1.8.

Tôi rất hài lòng giới thiệu cẩm nang này cho tất cả cán bộ thư viện ở mọi khu vực sử dụng làm công cụ thực hành. Trung tâm nguồn lực của Hội đồng Bảo tàng Lưu trữ và Thư viện vui lòng tiếp nhận những ý kiến phản hồi, nhận xét để hiệu đính phiên bản lần sau tốt hơn. Các bạn có thể gửi ý kiến đóng góp thông qua trang web Diễn đàn thảo luận.

 

Alan Howarth, M.P.

 

Bộ trưởng Bộ Nghệ thuật


Back to Chapter index
2.1. Giới thiệu

Mục đích của cẩm nang này là hướng dẫn các nhà quản lý cũng như nhân viên thư viện biết cách thực hiện dịch vụ thư viện thông tin cho người mù và khiếm thị. Nhằm vào việc hướng dẫn đánh giá nhu cầu, xây dựng chính sách và thực hành tốt trong thư viện và làm nguồn thông tin chính để tư vấn và định hướng các hình thức, hỗ trợ và dịch vụ có ở Vương quốc Anh.


Back to Chapter index
2.2. Tại sao cần có cẩm nang

Từ lâu nhiệm vụ của thư viện công cộng đã được xác định là phục vụ cho tất cả mọi người ai cần đến nó, theo các khoản mục mà Đạo luật Thư viện công cộng và bảo tàng năm 1964 và phần 163(2) của Đạo luật chính quyền địa phương (Xcốt-len) năm 1973. Ở khu vực trường đại học, cũng đang dần phát triển nhận thức về tất cả nhu cầu của sinh viên và nhân viên, bao gồm cả đối tượng người khuyết tật. Sự nhận biết này dựa vào nhận thức là như tất cả mọi công dân đóng thuế, người khiếm thị phải có quyền như nhau bình đẳng sử dụng thư viện công cộng được hoạt động bằng ngân sách nhà nước. Trong những năm gần đây, các thư viện càng nhận thức rõ hơn về trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách hàng như là một vấn đề trong việc thực hành quản lý tốt.


Back to Chapter index
2.3. Đạo luật chống phân biệt đối xử (D.D.A.)

Quyền lợi của người khiếm thị và khuyết tật khác hiện nay đã được làm rõ trên luật pháp, thông qua DDA 1995, đặc biệt là phần Dịch vụ và sản phẩm đã có hiệu lực từ năm 1999, và Đạo luật khuyết tật và nhu cầu giáo dục đặc biệt  2001. Dưới những điều khoản luật pháp này, mọi nhà cung cấp dịch vụ có trách nhiệm không được từ chối dịch vụ, không phục vụ kém chất lượng và không hạ thấp chất lượng hơn đối với dịch vụ cho người khuyết tật. Họ phải có những bước đi hợp lý để thay đổi chính sách, thực hành, quy trình những cái mà gây khó khăn cản trở hay làm cho người khuyết tật không thể sử dụng dịch vụ của họ được.


Back to Chapter index
2.4. Nhu cầu cải thiện

Trong khi nhiều dịch vụ thư viện từng bước cải thiện phục vụ người khiếm thị, vẫn còn nhiều điều thiếu sót đáng kể trong việc đạt được sự bình đẳng truy cập. Một vài trong số những thiếu sót đó bắt đầu từ nhu cầu tài liệu ở nhiều dạng khác nhau để thay thế tài liệu in thông thường, và nhiều thư viện công cộng gần như tự giới hạn mình trong khuôn khổ vốn tài liệu chữ lớn và băng tài liệu thông thường của các nhà kinh doanh băng sách. Đối với các tài liệu khác, các cơ quan từ thiện quốc gia trở thành những nhà cung ứng dịch vụ, và điều này đã đẫn đến các dịch vụ cho người khiếm thị rải rác và tách biệt nhau. Người mù thường không thể, cũng giống các độc giả khác, sử dụng thư viện địa phương như là nơi để có hoặc có thể muốn các tài liệu chỗ đó đáp ứng hết được mọi nhu cầu của họ. Khu vực đại học cũng thế, khảo sát dự án REVIEL (Brophy và Craven, 1999) xác định có nhiều thay đổi trong cấp độ dịch vụ và nhu cầu để cải thiện xa hơn.


Back to Chapter index
2.5. Khu vực tình nguyện

Dịch vụ ở khu vực tình nguyện thường có những dịch vụ đăng ký vì phải trả phí cho việc chuyển dạng tài liệu. Điều này có nghĩa là nhiều độc giả phải trả cho dịch vụ của họ, trừ phi các lãnh đạo địa phương và thư viện đại học có dành một phần kinh phí cho các khoản này. Hậu quả là, nhiều lãnh đạo thư viện công cộng bị đánh giá là không theo các điều khỏan mà DDA yêu cầu là phục vụ cho mọi người một cách công bằng.


Back to Chapter index
2.5.1.

Có nhu cầu lớn đối với dịch vụ thư viện nên phải có cuộc đánh giá dịch vụ để đảm bảo người khiếm thị nhận được dịch vụ cũng ngang bằng với độc giả sáng mắt. Cẩm nang này nhằm giúp thông tin và hướng dẫn các thư viện thực hiện việc đánh giá.


Back to Chapter index
2.6. Số liệu thống kê phân bố dân số

Người khiếm thị không phải là một nhóm đồng nhất về nhu cầu, vì vậy mà thư viện phải có trách nhiệm đánh giá nhu cầu theo xu hướng phát triển của mật độ phân bố dân cư. Số liệu quốc gia có thể là một điểm dựa và ngòai ra cần có số liệu của địa phương, vì vậy mà trong cẩm nang này có phần trình bày về số liệu phân bố dân cư.


Back to Chapter index
2.7. Nhiều thông tin thực hành

Các chương khác cho thông tin tổng quát có thể được sử dụng để tập huấn nâng cao nhận thức và tập huấn nhân viên, về nguyên nhân gây ra bệnh khiếm thị và ảnh hưởng của các chứng tật đến việc đọc của cá nhân, nhiều thông tin thực hành về hình thức tài liệu, nhà cung ứng, công nghệ hỗ trợ thích hợp.


Back to Chapter index
2.8. Dịch vụ hợp tác

Nguyên tắc chủ đạo trong cẩm nang này là thông tin nhu cầu hợp tác hợp lý để phục vụ đối tượng khách hàng này thông qua các dịch vụ thư viện hòa nhập. Kết quả là, các chương nói về quản lý mục lục hay hệ thống mượn liên thư viện dựa vào tiền đề này ở chừng mực có thể thực hiện được.


Back to Chapter index
2.9. Thực hành tốt

Cẩm nang không có ý định trở thành tập thiết kế từng bước hành động cho công tác này, mà cần nhận ra nhu cầu địa phương và cơ cấu sẽ tạo ra nhiều phần khác nhau trong công tác phục vụ. Cẩm nang chỉ ra những thành tố chính như việc cung ứng dịch vụ và theo đúng Hướng dẫn hoạt động của quốc gia do Tổ chức Share the Vision và Hội thư viện biên soạn. Bảng tóm tắt các đề nghị này được trình bày Phụ lục A2


Back to Chapter index
2.10.

Cẩm nang chỉ ra cụ thể các dịch vụ cho người khiếm thị và tìm ra cách xác định chính sách, thực hành quy trình để hình thành nên các thực hành tốt. Tuy nhiên, hy vọng là các nguyên tắc và phương pháp luận cũng có thể hỗ trợ nhau để xem xét cùng với nhu cầu của các nhóm khác.


Back to Chapter index
2.11.

Nhiều đề nghị trong cẩm nang này sẽ được tiếp tục được đề đạt thêm với những mô hình dịch vụ tốt. Tuy nhiên, chắc chắn là nó cần phải được cập nhật định kỳ. Phiên bản hiệu đính lần đầu sẽ được thực hiện vào tháng 3 năm 2002. Các mô hình thực hành của các thư viện công cộng và đại học sẽ được hoan nghênh đưa vào trong các lần hiệu đính sau; để tiện cho việc đóng góp, phiên bản dạng web của cẩm nang có bản tin để mời các thư viện trao đổi thông tin về việc phát triển những đề xướng mới.


Back to Chapter index
References. Tài liệu tham khảo

Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999). Thư viện tích hợp truy cập được; mô hình phát triển dịch vụ trong thế kỷ 21.  Báo cáo tổng kết về dự án REVIEL (Nguồn lực thư viện điện tử cho người khiếm thị). Báo cáo nghiên cứu và cải thiện dịch vụ thư viện Anh quốc số 168. Manchester: Trung tậm nghiên cứu Quản lý thông tin và thư viện, Đại học Thủ đô Manchester.

 

Anh quốc. Đạo luật. (1995). Đạo luật chống phân biệt đối xử 1995. Chương 50. London: HMSO.

 

Anh quốc. Đạo luật. (1973). Đạo luật chính quyền địa phương (Xcốt-len) 1973. Chương 65. London: HMSO.

 

Anh quốc. Đạo luật. (1964). Đạo luật Bảo tàng và thư viện công cộng 1964. Chương 75. London: HMSO.

 

Anh quốc. Đạo luật. (2001). Đạo luật khuyết tật và nhu cầu giáo dục đặc biệt 2001. Chương 10. London: Stationery Office.

 

Machell, Jean. (1996). Dịch vụ thông tin và thư viện cho người khiếm thị: hướng dẫn của quốc gia. Tổ chức Share the Vision / Hội thư viện. London: LA Publishing.


Back to Chapter index
3.1. Cơ sở

Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 1995 (DDA) thông cáo sẽ bị coi là vi phạm luật pháp nếu có bất cứ hành vi nào phân biệt đối xử với người khuyết tật tại nơi làm việc hay khi sử dụng các dịch vụ, trụ sở trang thiết bị, cho dù đó là đồ xài miễn phí hay phải mất tiền. Đạo luật người khuyết tật và nhu cầu Giáo dục đặc biệt (SEND) 2001 bãi bỏ các hình thức giáo dục loại trừ trước đó và áp dụng liên quan chặt chẽ đến các điều khoản về trụ sở trang thiết bị và dịch vụ được nêu trong DDA. Thêm vào đó, nó đặt  ra nhiệm vụ cho các tổ chức giáo dục phải đáp ứng nhu cầu của sinh viên khuyết tật, có nghĩa là thậm chí nếu có một tổ chức nào không có sinh viên khuyết tật, họ phải có kế họach chuẩn bị dịch vụ để có thể sẵn sàng phục vụ khi có yêu cầu.


Back to Chapter index
3.2. Nội dung chính

D.D.A có bốn phần chính:


Back to Chapter index
3.2.1.

Phần I và II cho biết một số khái niệm định nghĩa về người khuyết tật và mục đích của đạo luật này, ứng dụng vào tuyển dụng cũng như nhiệm vụ của các tổ chức kinh doanh hay nghề nghiệp. Phần tuyển dụng đã có hiệu lực từ năm 1996.


Back to Chapter index
3.2.2.

Phần lll đề cập đến việc cung cấp trang thiết bị, trụ sở và dịch vụ. Bước thứ hai ứng dụng Phần III có hiệu lực từ năm 1999. Bước cuối cùng cho phép nhà cung ứng có thời gian để gỡ bỏ các rào cản vật lý để có thể sử dụng được, ví dụ lắp đặt thang máy hoặc các phần phải xây dựng lại trước khi hiệu lực của đạo luật bắt đầu tính là  Ngày 1 tháng 10 năm 2004.


Back to Chapter index
3.2.3.

Phần lV kết hợp với Đạo luật người khuyết tật và nhu cầu Giáo dục đặc biệt (SEND) 2001 bãi bỏ các trường hợp loại trừ giáo dục từ DDA. Các nhà cung ứng giáo dục được phép chuẩn bị cho đến Ngày 1 tây tháng 9 năm 2002 để đảm bảo chính sách, thủ tục, và thực hành không có phân biệt đối xử đối với sinh viên khuyết tật ở bất kỳ lứa tuổi nào; vào tháng 9 năm 2003 họ phải cung cấp các dịch vụ và trang thiết bị phụ trợ; họ phải đảm bảo khả năng truy cập vật lý vào năm 2005.


Back to Chapter index
3.3. Định nghĩa

Kiến thức y học được dùng để xác định về khuyết tật, nhưng cần có những nhận định thêm về các ảnh hưởng kinh tế và xã hội đối với cơ hội trong cuộc sống của cá nhân. Một người khuyết tật được định nghĩa là “một người mà có khuyết tật về thể chất, tinh thần, giác quan mà có những tác động xấu dai dẳng đến khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày…”


Back to Chapter index
3.3.1.

Điều kiện để xác nhận về khuyết tật gồm có khả năng vận động, sử dụng tay chân bình thường, khả năng nhấc chân, nói, nghe, thị lực, và khả năng tập trung, hiểu và học.


Back to Chapter index
3.3.2.

Khuyết tật kéo dài hoặc sẽ có thể kéo dài, ít hơn 12 tháng thì bình thường là nằm ngoài định nghĩa của DDA trừ phi là bị tái đi tái lại, một số người bị khuyết tật kéo dài hơn một năm thì vẫn ở trong diện của DDA, cả khi họ sẽ được phục hồi hoàn tòan.


Back to Chapter index
3.3.3.

Thông tin thêm liên quan đến ý nghĩa về người khuyết tật đề cập trong đạo luật có trong phần Hướng dẫn của Vụ An ninh xã hội... (1996)


Back to Chapter index
3.4. Nhiệm vụ của người cung ứng dịch vụ

Từ năm 1996 mỗi nhà cung ứng dịch vụ phải có nhiệm vụ: không được từ chối phục vụ, không được cung cấp dịch vụ cho người khiếm thị kém hơn so với bình thường. Đến 1 tây tháng 10 năm 1999 (đối với các tổ chức giáo dục thì hạn cuối là 1 tây tháng 9 năm 2002)họ phải từng bước điều chỉnh để thay đổi thực hành, chính sách và thủ tục quy trình gây khó khăn hay làm người khuyết tật không sử dụng được. Phải từng bước trang bị các công cụ phương tiện phụ trợ để giúp người khuyết tật dễ dàng hơn khi sử dụng các dịch vụ, và nơi nào có trở ngại thì phải từng bước tìm cách tháo bỏ và thay thế.


Back to Chapter index
3.5.

DDA có kèm theo tài liệu hướng dẫn quy định thực hiện trong đó có kể các ví dụ được sử dụng để làm các hiện tượng cụ thể trong pháp luật do các nghị định của các bang đề ra, và được coi là các văn bản pháp luật hướng dẫn cụ thể việc thi hành. Quy định thực hành liên quan đến Phần lll Phê duyệt của chính phủ công tác thực hiện năm 2004 được thông qua vào mùa xuân năm 2002. Ủy ban bảo vệ quyền lợi người khuyết tật (DRC) đệ trình lên chính phủ 2 bản dự thảo về các quy định thực hành được đề cập trong phần lV của DDA, một cho các trường và một cho việc giáo dục đại học và tiếp tục.


Back to Chapter index
3.6. Trường hợp ngoại lệ

Ban đầu có một số dịch vụ ngoại lệ (tuyển dụng thì chưa bao giờ bị loại trừ) nhưng dần dần sẽ bị giảm bớt đi. Đáng kể là các thư viện cung cấp các trang thiết bị phụ trợ, các nhà thiết kế và nhà sản xuất hiện nay được miễn khỏi DDA như luật pháp Châu Âu ngăn cản bất cứ các hạn chế về thương mại tự do, kể cả việc hạn chế sản xuất ở một số nước. Cách duy nhất để khắc phục là phải thông qua quyết định của Châu Âu. Không có sự duyệt qua, sự thiếu chuẩn của các trang thiết bị hỗ trợ sẽ tiếp tục bị coi là gây khó khăn cho người khiếm thị và các người khuyết tật khác.


Back to Chapter index
3.7. Điều chỉnh hợp lý

Thuật ngữ hợp lý được dùng rộng rãi trong Đạo luật SEND và DDA. ‘Quy định thực hành. Quyền truy cập” trang thiết bị, hàng hóa, dịch vụ và cơ sở lý luận (DfEE, 1999) cho một số ví dụ về các trường hợp điều chỉnh nên được các nhà cung ứng hay người sử dụng lao động phải xem xét đến, như trong ‘Đánh giá ảnh hưởng thường lệ’ (DfEE, 1999) cũng như nhận định các điều chỉnh mà coi là hợp lý, cân nhắc với chi phí thực hiện các điều chỉnh này.


Back to Chapter index
3.7.1.

Việc điều chỉnh hợp lý cũng liên quan đến chính sách, thủ tục và quy trình đề cập đến cách thức dịch vụ được cung cấp. Những điều này cần được thay đổi để đảm bảo người khuyết tật không bị phân biệt đối xử, các sự thay thế không phải căn bản là thay đổi bản chất của hàng hóa, trang thiết bị và dịch vụ hoặc là giảm bớt chất lượng hay mức độ dịch vụ kém hơn so với các khách hàng khác.


Back to Chapter index
3.8. Dịch vụ và trang thiết bị phụ trợ

Nhà cung ứng cũng phải cung cấp thiết bị hoặc giúp đỡ để có thể hay làm dễ dàng hơn cho người khuyết tật sử dụng các dịch vụ.


Back to Chapter index
3.9. Tính năng vật lý

Bất cứ các trở ngại, các bước cản nào gây khó khăn hay làm cho người khuyết tật không thể sử dụng dịch vụ cần phải được tháo bỏ hay tìm cách thay thế cho đến hạn cuối là vào năm 2004 (2005 đối với các tổ chức giáo dục).


Back to Chapter index
3.9.1.

Trong thời gian đó, nêu các rào cản vẫn tồn tại, DDA yêu cầu nhà cung ứng phân phối dịch vụ theo cách thức thay thế. Khi đến hạn hiệu lực thi hành nhà cung ứng phải đảm bảo là việc thiết kế và xây dựng cho một tòa nhà mới; cách tiếp cận hay đi ra, các trang trí nội thất, các lắp đặt mới hay chỉnh sửa, thiết bị hay tài liệu, và các yếu tố vật lý khác phải được xem xét theo nội dung của các đề nghị của  BS 8300 (2001) vì trong đó đã đề cập đến những tiêu chuẩn này sẽ được đưa vào phiên bản kế tiếp của Phần M về Tiêu chuẩn xây dựng(DETR).


Back to Chapter index
3.10.

Đạo luật cho phép nhà cung ứng dịch vụ linh động khi quyết định cách nào là thích hợp nhất để đảm bảo là người khuyết tật có thể sử dụng các dịch vụ. Vì thế, ví dụ, nếu một khách hàng khiếm thính sẽ không thể khăng khăng là đòi một thiết bị hỗ trợ mà các bộ cảm biến không thể đảm nhận nổi khi phải dùng chung với các thiết bị khác.


Back to Chapter index
3.11.

Bản thân Đạo luật không cụ thể các yếu tố có thể xảy ra về việc nhận định là vấn đề có hợp lý hay không trong việc xác định dịch vụ có là hợp lý đối với các nhà cung ứng dịch vụ để thực hiện sự điều chỉnh, mặc dù quy định chỉ ra việc cân nhắc nên được xét đến các bước đưa ra để vượt qua các khó khăn trở ngại cho khách hàng khuyết tật và bản chất của của hậu quả của việc người khuyết tật không sử dụng được các dịch vụ, cũng như cách thực hành cho các nhà cung ứng thực hiện dần. Nó cũng làm rõ tầm quan trọng của việc xem xét nên thực hiện các bước thế nào để không phá vỡ các dịch vụ phục vụ cho đối tượng khác, người bình thường, và thời gian, nổ lực và chi phí thực hiện các điều chỉnh này. Nhà quản lý cũng bị sức ép để phải chuẩn bị hỏi ý kiến người khuyết tật, tập huấn nhân viên sử dụng các thiết bị đặc biệt và hiểu rõ nhu cầu và quyền lợi của người khuyết tật.


Back to Chapter index
3.12.

Toàn bộ các điều khoản của DDA và SEND đều muốn nhấn mạnh là khách hàng và sinh viên khuyết tật phải được ưu tiên đối đãi như các khách hàng khác. Những ngoại lệ chính đối với trường hợp này là về y tế hay an tòan có thể không thể đảm bảo hết được, còn lại tất cả đều phải tính đến, như xây dựng tòa nhà, lập kế hoạch hay phê chuẩn quy hoạch có khi bị từ chối, hoặc nếu những chi phí thêm không hợp lý nếu muốn cung cấp dịch vụ đặc biệt cho người khuyết tật, và nếu trong trường hợp những chuyện này ảnh hưởng nghiêm trọng đến làm giảm hay đình chỉ toàn bộ các dịch vụ khác.


Back to Chapter index
3.13. D.D.A và dịch vụ thư viện cho người khiếm thị

Vì khiếm thị thường là loại khuyết tật dài hạn, nên bất cứ ai không thể đọc được chữ in thậm chí khi đeo kính điều chỉnh, đều là người khiếm thị theo định nghĩa về thuật ngữ người khuyết tật mà Đạo luật đề cập đến. Bất cứ một ai đã bị khiếm thị trước đó, đã qua phẫu thuật điều trị thì vẫn còn ở diện hưởng các chế độ mà luật pháp đã ban hành.


Back to Chapter index
3.13.1.

Điều này có nghĩa là đọc giả khiếm thị theo đạo luật DDA phải được cung cấp tài liệu ở dạng thay thế, được kỳ vọng mong muốn tiếp tục có những tài liệu dạng này, thậm chí khi thị lực đã được hồi phục. Họ cũng được sử dụng dịch vụ như các người khiếm thị của các thư viện khác, thậm chí đối với nhân viên thư viện dường như họ có thị lực bình thường đi chăng nữa.


Back to Chapter index
3.14. Truy cập vật lý

Bất cứ thư viện nào chưa có đủ các điều kiện truy cập vật lý cho người khiếm thị và khuyết tật bây giờ phải chuẩn bị điều chỉnh thay thế. Một thư viện có cửa quay, gây phiền phức cho người kém thị lực hay cả người đi xe lăn, sẽ bị coi là phạm luật nếu không chịu điều chỉnh.


Back to Chapter index
3.15. Phục vụ bình đẳng

Trách nhiệm không được từ chối phục vụ, không được phục vụ kém chất lượng hay cung cấp các dịch vụ bị coi là tệ, phải được được phản ảnh vào hoạt động của thư viện dành cho người khiếm thị. Thông tin về dịch vụ và vốn tài liệu phải được cung cấp ở dạng thích hợp. Người khiếm thị phải được sử dụng mục lục như người bình thường. Mục lục dạng chữ lớn và trình bày phản màu làm rõ lên, hay ở dạng phát âm, bình thường sẽ là đầy đủ để thể hiện được các ràng buộc của D.D.A, nhưng một trạm có đầu xuất bản là chữ nổi thì ưa chuộng hơn, để đáp ứng nhu cầu của người vừa mù vừa điếc.


Back to Chapter index
3.16. Khái niệm bình đẳng trong phục vụ

Bất cứ dịch vụ nào tính phí thì cũng tính phí đối với người khiếm thị theo ngữ cảnh như các dịch vụ đó tính tiền các độc giả khác. Một số chuyên gia cho là điều này có nghĩa là giá thành tính in một tờ khổ A3 để photo phóng lớn vốn dĩ là thích hợp cho người khiếm thị, thì cũng không nên tính khác giá với thông tin in trên giấy khổ A4.


Back to Chapter index
3.17. Thực hành, chính sách và thủ tục

Nếu có bất cứ khó khăn hay không thể đối với người khiếm thị trong các vấn đề trên thì chúng phải được thay đổi. Đề nghị một giấy phép lái xe làm bằng chứng nhận dạng và không cho phép dùng bất cứ vật chứng nào khác là điều đòi hỏi vô lý. Đòi hỏi người mù ký vào mẫu đăng ký cũng sẽ bị coi là không hợp lý. Ngược lại, thư viện trường đại học thường từ chối chấp nhận gia hạn thẻ hay yêu cầu làm thẻ qua email thì nên có chính sách cho người mù làm cho những chuyện đó có cách thay thế để mọi chuyện họ đều có thể truy cập được.


Back to Chapter index
3.17.1.

Thư viện cũng cần có thể đáp ứng mọi sthan phiền theo cách thích hợp, và cũng nên thiết kế việc đăng ký hay các mẫu khác hay tờ rơi để người khiếm thị có thể sử dụng chúng được. Theo “Hướng dẫn cách in rõ” của RNIB sẽ làm cho mọi loại ấn phẩm này. Sử dụng loại máy ghi âm để thu lại các ấn bản của thư viện cho những người thậm chí tài liệu chữ lớn cũng không truy cập được cũng là một cách thực hành tốt.  


Back to Chapter index
3.17.2.

Luật lệ địa phương cũng phải được kiểm tra lại để bảo đảm các cơ quan không từ chối chó dẫn đường bước vào, hay có tổ chức nào bị khiếm khuyết nào làm người khiếm thị không sử dụng được thư viện.


Back to Chapter index
3.18. Tiêu chuẩn bình đẳng của dịch vụ

Vốn tài liệu là yếu tố quan trọng trong dịch vụ của thư viện, nhưng tài liệu ở dạng thay thế thì có rất ít. Vì thế cần thiết để cho nhân viên biết là các thư viện chuyên cung cấp tài liệu cho người khiếm thị, và biết về REVEAL- mục lục liên hợp quốc gia về tài liệu thay thế. Bất cứ sự chuyển dạng tài liệu in ấn nào cho người khiếm thị đều nên dựa vào các thỏa thuận hay giấy phép được dùng riêng trong thư viện công cộng hay các tổ chức trường học (xem 6.8).


Back to Chapter index
3.19. Thiết bị phụ trợ

Vì bản chất của người khiếm thị khác nhau rất nhiều nên các thư viện phải có nhiều loại thiết bị phụ trợ khác nhau. Nếu do phạm vi và kinh phí, thì cũng phải nghĩ đến việc tuân theo luật một cách hợp lý, họ phải cung cấp các trang thiết bị từ phương tiện hỗ trợ nhược thị cũng như các phương tiện phức tạp hơn như máy CCTV hay máy photocopy phóng lớn tài liệu gốc, máy quét chuyển thành giọng đọc hay chữ Braille, máy trạm truy cập có giọng phát âm hay máy in chữ Braille.


Back to Chapter index
3.19.1.

Phương tiện hỗ trợ thường giúp người khiếm thị truy cập tài liệu trong thư viện, nhưng chúng cũng thường được sử dụng để sao chép thông thường (tuân theo luật bản quyền). Nếu có thể, ví dụ, dùng máy quét có giọng phát âm và sau đó thu vào băng phát âm.


Back to Chapter index
3.20. Phân phối dịch vụ thay thế

Nếu không thể tháo bỏ các rào cản vật lý mà chúng làm ngăn cản người khiếm thị đến thư viện sử dụng các dịch vụ (ví dụ, các điều chỉnh về xây dựng bị từ chối) thư viện phải thay thế dịch vụ tại chỗ bằng dịch vụ phân phối nhưng không được kém chất lượng hơn. Nếu thư viện công cộng chuyển phát dịch vụ đến nhà người khiếm thị, người đọc phải có thể truy cập mục lục và các thông tin khác về dịch vụ thư viện như thể là họ đang ngồi tại thư viện.


Back to Chapter index
3.21. Chi phí và điều chỉnh thích hợp

Vì có nhiều ứng dụng công nghệ hỗ trợ và phương tiện phụ trợ có thể có, có thể dễ nhận ra rằng thậm chí một thư viện nhỏ nhất cũng có thể có những phương tiện như máy quét hay phát âm, mặc dù máy in chữ Braille so với với chi phí của các phương tiện và dịch vụ khác nhìn chung có thể là có giá thành cao không hợp lý. Vì thế rất tế nhị để dịch vụ thư viện kiểm tra lại chi phí của tất cả những điều chỉnh cần thiết như tỷ lệ phần trăm cân đối ngân sách từ bây giờ đến năm 2004. Chừng nào chi phí không còn là nguyên nhân chính để gây ra các khoản cắt giảm chi tiêu về chất lượng hoạt động của thư viện dành cho độc giả, thì việc mà các thư viện không trang bị các phương tiện hỗ trợ thỏa mãn nhu cầu sử dụng của khách hàng thì có thể sẽ bị coi là vi phạm các yêu cầu theo DDA quy định.


Back to Chapter index
3.21.1.

Có một số linh động giải quyết cho các thư viện tự quyết định là khả năng mua được các loại trang thiết bị nào. Ví dụ trong khi D.D.A yêu cầu thông tin phải được cung cấp ở dạng truy cập được thích hợp cho người khiếm thị, từ các quy định thực hành này cho là các nhà cung ứng dịch vụ có thể quyết định cách nào là thích hợp nhất để làm được điều này. Vì thế, ví dụ người sử dụng thích dùng chữ Braille hơn là băng cassette sẽ không thể khăng khăng là thông tin phải có dạng chữ Braille nếu như họ thực sự không gặp vấn đề gì về khả năng nghe. Ít nhất thì nên khôn ngoan chuẩn bị các trang thiết bị hỗ trợ nghe được liệt kê theo các đánh giá ảnh hưởng thường xuyên (DfEE, 1999).


Back to Chapter index
3.22. Diễn giải các trường hợp ngoại lệ

Từ khi có đạo luật SENDS, các thư viện duy nhất là nơi được loại ra khỏi, họ chỉ chịu chi phối riêng bởi DDA. Tuy nhiên, nếu họ trưng bày hay triển lãm mở ra công cộng, cho dù họ có thu hay miễn phí, thì cũng phải tuân theo Phần III và cung cấp thông tin ở dạng thay thế được, cũng như đảm bảo đến năm 2004 là các người khuyết tật không bị từ chối sử dụng. Việc loại trừ các nhà thiết kế hay sản xuất các sản phẩm thiết bị có nghĩa là thư viện phải cẩn thận chỉ ra bất cứ trang thiết bị hay nội thất nào họ mua phải đáp ứng các tiêu chuẩn cần có (xem Chương 1213) để đảm bảo người khiếm thị có thể sử dụng dịch vụ của họ.


Back to Chapter index
3.23. Hướng dẫn thêm

Chính phủ hiện nay thiết lập Ủy ban Bảo vệ người tàn tật, để có bảng hướng dẫn về cách triển khai Đạo luật. Ủy ban này đã phát hành Bộ quy định thực hành mới (2002). (Xem mục 6.2.6).

 

 

Chú ý: Thông tin trong chương này không thể được coi là toàn bộ các điều khoản của DDA, và sự diễn giải đạo luật thì có thể thay đổi, ít nhất cho đến khi có một cơ quan phụ trách. Nếu bất cứ thư viện nào bị khiếu kiện thì tốt nhất là nên tìm luật sư tư vấn.


Back to Chapter index
References. Tài liệu tham khảo

BS 8300. (2001). Thiết kế tòa nhà thư viện đáp ứng nhu cầu sử dụng của người khuyết tật. Viện tiêu chuẩn chuẩn Anh quốc. (Chính phủ đã chỉ ra những tiêu chuẩn này được đưa vào phiên bản lần sắp tới của Quy định xây dựng, Phần M.)

 

Bộ Giáo dục và Việc làm. (1999). Danh bạ Disability Directory for LEA awards officers. In lần 2. SKILL. Có trên www.dfee.gov.uk/disdir

 

Bộ Giáo dục và Việc làm. (1996). Đạo luật chống phân bệit đối xử  1995: quy tắc thực hành để giảm những phân biệt hành xử đối với người tàn tật. London: HMSO.

 

Bộ Giáo dục và Việc làm. (1999). Đạo luật chống phân bệit đối xử 1995. Các dịch vụ, trang thiết bị và sản phẩm truy cập được. Đánh gải các ảnh hưởng của những quy định. London: Stationery Office.

 

Bộ Giáo dục và Việc làm. (1999). Đạo luật chống phân biệt đối xử  1995. Code of practice. Quyền truy cập: sản phẩm, trang thiết bị, dịch vụ và các nguyên lý. London: Stationery Office.

 

Bộ Môi trường, Giao thông và Khu vực. (1999). The Quy định xây dựng 1991. Phê chuẩn tài liệu phần M: sử dụng và trụ sở của người khuyết tật.
London: Stationery Office.

 

Bộ An ninh xã hội . (1996). Hướng dẫn xử lý các vấn đề xác định các vấn đề về người khuyết tật. London: HMSO.

 

Ủy ban bảo vệ người khuyết tật . (2002). Quy t8ác thực hành liên quan đến thực hiện Phần lll của DDA 2004. London: Stationery Office.
Có thể tìm thấy trên trang web: www.drc-gb.org/drc/informationandlegislation/page331a.asp

 

Anh quốc. Đạo luật. (1995). Đạo luật chống Phân biệt đối xử. London: HMSO.

 

Anh quốc. Đạo luật. (2001). Đạo luật người khuyết tật và nhu cầu giáo dục đặc biệt 2001. London: Stationery Office.

 

RNIB. (1997). Hướng dẫn in chữ rõ. London: RNIB.


Back to Chapter index
4.1. Mở đầu

Thuật ngữ khiếm thị được sử dụng để mô tả tình trạng bệnh lý thị lực không thể điều chỉnh bằng kính thuốc hay phẫu thuật. Nó bao gồm những người chỉ có thị lực một phần và những người bị mù hoàn toàn. Một số người khiếm thị khó nhìn thấy những vật ngay trước mặt nhưng có thể nhìn thấy những vật trên sàn nhà hoặc ở hai bên, một số người khác lại có thể thấy rõ ràng những vật ngay trước mắt nhưng không thể nhìn thấy gì ở hai bên. Một số trường hợp bệnh lý có thể gây thị lực loang lổ từng vùng, một số bệnh lý khác ảnh hưởng đến sự nhận biết màu sắc hoặc khả năng đánh giá khoảng cách. Cũng có một số người mà đối với họ ánh nắng chói chang có thể gây khó nhìn, và một số người khác có thể không nhìn thấy gì cả với ánh sáng yếu.


Back to Chapter index
4.1.1.

Mất thị lực, thậm chí khi do cùng một nguyên nhân, có thể có các tốc độ thoái hóa khác nhau. Hai người cùng tuổi và cùng loại bệnh với cùng mức độ giống nhau, có thể có tốc độ thoái hóa khác nhau; một người có thể bị mù vào lúc 40 tuổi, trong khi người kia có thể không bị mất phần thị lực còn lại cho đến khi 60 hoặc 65 tuổi. Do đó, không thể tiên đoán rằng khi nào mỗi người trong số họ sẽ phải bắt đầu cần đọc sách báo chữ to, hoặc khi nào sách báo chữ to không còn thích hợp nữa. Do đó, điều quan trọng là phải định kỳ phỏng vấn người bị khiếm thị xem biện pháp áp dụng cho họ có còn thoả đáng hay không.


Back to Chapter index
4.2. Các nguyên nhân gây khiếm thị

Có một số nguyên nhân gây khiếm thị, và mỗi nguyên nhân này có ảnh hưởng khác nhau trên khả năng và nhu cầu đọc sách. Nguyên nhân chủ yếu là do tình trạng di truyền, tai nạn, các bệnh lý liên quan đến bậnh tật và tuổi tác như đục thủy tinh thể và thoái hoá hoàng điểm. Ở Anh quốc hiện nay thoái hoá do tuổi già là nguyên nhân gây khiếm thị thường gặp nhất.


Back to Chapter index
4.3. Cấu trúc của mắt

Kết quả của các tình trạng và bệnh lý ở mắt tùy thuộc rất lớn vào phần nào của mắt bị ảnh hưởng. Các phần chính của mắt được trình bày trong sơ đồ dưới đây.

illus4a.jpg

Hình minh họa 4a: Cấu trúc của mắt
Bản quyền Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.3.1.

Phần trước của mắt (giác mạc, đồng tử và mống mắt) chịu trách nhiệm cho việc truyền ánh sáng vào phần sau của mắt. Tổn thương bất kỳ bộ phận nào của phần này đều có thể dẫn đến các mức độ khiếm thị khác nhau. Thủy tinh thể tập trung các tia sáng vào võng mạc.


Back to Chapter index
4.3.2.

Phần sau của mắt (võng mạc, hoàng điểm và thần kinh thị giác) xử lý hình ảnh sánh sáng và truyền đến não. Hoàng điểm đặc biệt quan trọng cho việc đọc, do đây là vùng cho phép chúng ta thấy được chi tiết tinh vi. Tổn thương bất kỳ bộ phận nào của phần này cũng dẫn đến các mức độ mất thị lực khác nhau. Thủy dịch là chất trong suốt dạng thạch chứa đầy trong phần giữa của mắt. Áp lực trong thủy dịch quá cao cũng có thể ảnh hưởng đến thị lực.


Back to Chapter index
4.4.1. Thoái hoá hoàng điểm

Thường được quy cho là bệnh mù do tuổi già – đây là nguyên nhân thường gặp nhất của việc mất khả năng đọc sách báo tại Anh Quốc. Vùng thị lực trung tâm được sử dụng để nhìn chi tiết trong khi việc tập trung vào thị trường ngoại vi thì kém rõ ràng hơn. Kính đeo mắt không thể bù trừ cho thoái hoá hoàng điểm, mặc dù kính lúp có thể giúp một số người trong giai đoạn sớm của thoái hóa, và sách báo chữ to sẽ kéo dài khả năng đọc.

 

Như trình bày trong hình dưới đây, những người bị thoái hoá hoàng điểm có thể nhìn thấy những vật trên sàn nhà, nhưng không thể thấy những vật ngay trước mắt họ. Do đó, việc đảm bảo môi trường không có nguy hiểm cho họ như được nêu trong Chương 12 rất quan trọng.

 

illus4b.jpg

 

Hình. 4b: Thoái hóa hoàng điểm
Bản quyền bởi Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.4.2. Đục thủy tinh thể

Đục thủy tinh thể là một nguyên nhân thường gặp khác của khiếm thị ở tuổi già, và là kết quả của việc thủy tinh thể của một hoặc cả hai mắt trở nên đục hay mờ đi. Người bị đục thủy tinh thể nặng có thể thấy ánh sáng và nhận ra được các tương phản mạnh về màu sắc, nhưng không thể đọc sách báo. Khi tình trạng tăng đến mức độ nặng, điều trị laser và đặt thủy tinh thể nhân tạo có thể giúp ích cho đa số bệnh nhân, là những người sau đó thường là có thể đọc sách báo chữ to.  Minh họa sau đây cho thấy cách thức mà thủy tinh thể ảnh hưởng đến khả năng nhìn thấy rõ ràng.

 

illus4c.jpg

Hình. 4c: Đục thủy tinh thể
Bản quyền Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.4.3. Ống thị giác

Ống thị giác là một thuật ngữ tổng quát mô tả một số tình trạng bệnh lý võng mạc trong đó thị lực ngoại vi bị mất đi. Chính vùng thị trường ngoại vi cho phép người ta thấy được dưới sánh sáng yếu, do đó nhiều người bị ống thị giác hay tự gọi mình là “quáng gà”. Hai nguyên nhân thường gặp nhất của tunnel vision là viêm võng mạc sắc tố, là nguyên nhân thường gặp của các vấn đề trầm trọng về thị lực ở người trẻ tuổi, và Glaucoma (bệnh tăng nhãn áp), có khuynh hướng bắt đầu xuất hiện vào khoảng 40 tuổi và bệnh này có thể được kiểm soát. Do vùng trung tâm thị trường không bị ảnh hưởng. Người bị bệnh ống thị giác thường có thể tiếp tục đọc ấn phẩm tiêu chuẩn cho đến khi vào tuổi trung niên – lâu hơn nếu tình trạng của họ có thể kiểm soát được – sau đó dần dần họ sẽ phải đọc sách báo chữ to và rối phải cần đến các biện pháp thay thế khác. Hình minh họa dưới đây cho thấy tầm quan trọng của thiết kế tốt, do người bị tunnel vision hầu như  dễ té chồng lên các vật như ghế hay đá vào ghế đẩu là những vật nằm ngoài thị trường của họ, đặc biệt là trong ánh sáng yếu.

 

illus4d.jpg

Hình. 4d: Ống thị giác
Bản quyền Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.4.4. Bệnh lý võng mạc do tiểu đường

Bệnh lý võng mạc do tiểu đường là một nguyên nhân chủ yếu khác của các vấn đề về mắt ở người trong độ tuổi đi làm. Nó dẫn đến thị trường loang lổ và hệ quả thường là gây khó định hướng. Điều này là do các phần mà người nhìn bị mất đi và não lắp ráp thu thập lại những phần dường như là một bức tranh tổng thể – chẳng hạn như một bức tường trơn thay vì một bức tường có cửa. Một số người bị thị lực loang lổ bị mất thị trường khá bằng nhau qua toàn bộ thị trường, và do đó có thể cần màu tương phản rõ ràng và sách báo chữ to, trong khi những người khác đầu tiên chỉ mất đi thị trường ngoại vi, do đó có thể đọc chữ tiêu chuẩn trong một khoảng thời gian lâu hơn.

 

illus4e.jpg

Hình. 4e: Bệnh lý võng mạc do tiểu đường
Bản quyền Burrington Partnership 2000


Back to Chapter index
4.5. Mù hoàn toàn

Mù hoàn toàn có thể là hệ quả của tất cả các loại khiếm thị được ghi nhận trên, cũng như từ các nguyên nhân khác, như tai nạn, võng mạc bị tách ra ở cả hai mắt, và các bệnh khác. Những người bị mất thị lực một cách đột ngột, đặc biệt nếu họ đã thường sử dụng các loại sách và ấn phẩm tiêu chuẩn, sẽ muốn được tiếp tục đọc, cho mục đích công việc, nghiên cứu hoặc giải trí. Một số người sẽ học ngôn ngữ Braille hay Moon; một số khác sẽ dựa vào sách nói. Đó là một thử thách lớn cho tất cả các loại thư viện trong việc thoả mãn đầy đủ nhu cầu của người khiếm thị đối với những người cần đọc nhiều hơn ngoài mục tiêu giải trí thông qua các biện pháp này.


Back to Chapter index
4.6. Người trẻ tuổi

Một số nhỏ người trẻ tuổi bị các vấn đề về mắt sẽ là những độc giả thường xuyên của ngôn ngữ Braille. Nhu cầu về thư viện và thông tin của họ sẽ nhiều và thay đổi như những người khác trong cùng độ tuổi, và họ có quyền được thư viện công cộng địa phương phục vụ cũng như mọi người khác. Nhiều viện giáo dục đã có kinh nghiệm rộng rãi trong việc mang đến nhu cầu học hành này cho những người trẻ tuổi bị các vấn đề về thị lực nặng, nhưng nhu cầu tiêu khiển thường là dành cho những người tự nguyện giúp đỡ họ.


Back to Chapter index
References. Thông tin chi tiết

Hoạt động cho Người Mù (www.demon.co.uk/afbp) cũng cung cấp thông tin về các tình trạng khác nhau và có kết nối trực tiếp với nhiều tổ chức quốc gia và quốc tế trong lĩnh vực nhãn khoa và khiếm thị.

 

Viện Quốc Gia Hoàng Gia Cho Người Mù (www.rnib.org.uk) tờ rơi thông tin về tất cả các tình trạng bệnh lý thông thường của mắt.


Back to Chapter index
5.1. Mở đầu

Chương này tổng kết những bằng chứng thu thập được qua khảo sát những đặc điểm xã hội - nhân khẩu và những thói quen đọc của người khiếm thị ở Anh quốc. Chương này mô tả những khảo sát và các công trình nghiên cứu được thực hiện trong hơn 10 năm vừa qua, trong đó đa số là các nghiên cứu của RNIB. Để biết thêm chi tiết của các đề án này, xin xem thêm phần tham khảo. [Ghi chú: Các số liệu thu thập trong các nghiên cứu chỉ có giá trị căn cứ nhằm ước lượng tình hình thực tế].

 

Chương này phản bác một số nhận thức không đúng về rối loạn thị lực. Chẳng hạn chương này dẫn chứng rằng người khiếm thị đọc rất nhiều chủng loại, kể cả (mặc dầu có thể là rất khó khăn) các tài liệu in ấn. Và người khiếm thị có thể còn đọc nhiều hơn khi họ chưa có các vấn đề về mắt. Chương này còn đưa ra những vấn đề khác biệt đáng kể trong cuộc sống của người khiếm thị so với người bình thường. Chẳng hạn, người khiếm thị thường có thu nhập thấp hơn mức thu nhập trung bình, thường gặp những khó khăn trong tiếp cận thông tin, tạp chí, sách vở và có thể không được thu nhận khi xin việc hay đi học. Những ghi nhận này có thể giúp ích trong việc lên kế hoạch hỗ trợ cho người khiếm thị trưởng thành cũng như trẻ em.


Back to Chapter index
5.2. Định nghĩa về mù, giảm thị lực và rối loạn thị lực

Có nhiều từ ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ người bị giảm hoặc mất khả năng nhìn. Phần này sẽ định nghĩa sơ lược về một số từ ngữ có liên quan.


Back to Chapter index
5.2.1. Mù và giảm thị lực một phần

Đa số thông tin trong chương này nói về những người bị khiếm thị, có nghĩa là những người bị mù hoàn toàn hay bị giảm thị lực một phần.

 

Người khiếm thị có thể bị mù hay giảm thị lực một phần. Những tiêu chuẩn đánh giá dựa vào chất lượng của thị lực, do bác sĩ chuyên khoa mắt khám và kết luận. Các chi tiết cụ thể và kỹ thuật đánh giá được nêu trong tài liệu của RNIB – Cẩm nang kiểm tra thị lực người khiếm thị (1977).

 

Bị khiếm thị không hẳn là bị mất hoàn toàn khả năng nhìn. Chẳng hạn, một số người giảm thị lực một phần vẫn có khả năng đọc sách có kích thước chữ bình thường mà không cần sử dụng bất kỳ dụng cụ phóng to nào.

 

Cần lập hồ sơ y khoa và danh sách người khiếm thị để có chế độ trợ cấp và giúp đỡ. Chính quyền địa phương cần có những chế độ trợ cấp hay dịch vụ dành cho người khiếm thị, tuy nhiên theo khảo sát thì dường như không có sự khác biệt về chế độ ưu đãi giữa người khiếm thị và người bình thường (Ford & Heshel, 1994).


Back to Chapter index
5.2.2. Rối loạn thị lực và những vấn đề về khả năng nhìn

Những thuật ngữ này được dùng để chỉ những người bị giới hạn khả năng nhìn mà không thể điều chỉnh được bằng mắt kính, bao gồm những người đã được xác nhận là bị mù hoàn toàn hay giảm thị lực một phần, cũng như những người chưa được kết luận nhưng gặp khó khăn khi đọc báo có kích thước chữ bình thường hay không nhận ra người quen thân đi ngược đường mặc dù có mang mắt kính (Martin et al, 1988). Những thuật ngữ này cũng có thể dùng để chỉ những người không đủ thị lực để lái xe, khả năng nhìn hai bên bị hạn chế, chậm thích ứng với những thay đổi về độ sáng.


Back to Chapter index
5.3. Số lượng và tuổi tác của cộng đồng người khiếm thị ở Anh quốc

RNIB ước lượng có trên 2 triệu người bị khiếm thị ở Anh quốc. [Ghi chú: Đó là ước lượng gần đây nhất của RNIB. RNIB cũng ước lượng rằng có khoảng 1.1 triệu người (chiếm 2% dân số) được kết luận rằng bị mù và giảm thị lực một phần hay có đủ yếu tố để xếp vào nhóm này. [Ghi chú: Ước lượng này dựa trên số liệu thăm dò của RNIB (Bruce và cộng sự, 1991). Ước lượng này cho rằng tỉ lệ người khiếm thị trong dân số vẫn không thay đổi. Tổng số được tính từ các kết quả của một thăm dò được công bố năm 1988 (Martin và cộng sự, 1988) để dự đoán cho năm 2001].

 

Chỉ có một phần ba trong số 1.1 triệu người khiếm thị là được lập danh sách (Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992). Đa số người khiếm thị (khoảng 801,000 người) có tuổi trên 75 tuổi.

 

Bảng 5A cho thấy ước tính có khoảng 18% người khiếm thị từ 75 tuổi trở lên, so với 2.5% người khiếm thị từ 65 đến 74 tuổi, 0.4% từ 15 đến 64 tuổi và 0.2% từ 14 tuổi trở xuống.

 

Bảng 5A: Ước tính prevalence1 của người khiếm thị ở Anh quốc (2001)

 

Nhóm tuổi

 

0-14

15-64

65-74

75+

Tất cả các tuổi

Tỉ lệ phần trăm
trong cộng đồng người
khiếm thị ở Anh quốc

0.2

0.4

2.5

18

2

Ước tính số
người khiếm thị
ở Anh quốc (x1000)

22.5

156

123

801

1,103

Nguồn: Bruce và cộng sự (1991) và Walker và cộng sự (1992) và thống kê của Chính phủ

 

Ghi chú:Các số liệu này cho thấy tỉ lệ % của tuổi tác ở người khiếm thị vẫn tương tự như các số liệu ghi nhận được trong khảo sát của RNIB trong các năm 1986-1987 (Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992).


Back to Chapter index
5.3.1. Số lượng người khiếm thị theo từng vùng địa lý – được công bố bởi chính quyền địa phương

Được tổng kết trong Phục lục A1. Thông tin này được lấy từ trong web của RNIB www.rnib.org.uk/wesupply/fctsheet/statistics.htm

 

[Ghi chú: Có một khác biệt nhỏ giữa tổng số người khiếm thị trong Bảng 5A và con số trong trang web của RNIB. Đó là do Bảng 5A dựa trên số liệu năm 2001 còn trang web thì sử dụng số liệu năm 1996. Trang web của RNIB sẽ sớm được cập nhật].

 

Bộ Y tế của Anh quốc cũng có trang web trong đó có các số liệu thống kê về tổng số người khiếm thị tại Anh quốc: www.doh.gov.uk/public/blindandpartiallysighted.


Back to Chapter index
5.3.2. Dự đoán số lượng người khiếm thị

Việc dự đoán số lượng người khiếm thị dựa trên dự đoán của Bộ Y tế Anh quốc. Theo dự đoán này thì trong 50 năm tới, số lượng trẻ em khiếm thị từ 14 tuổi trở xuống sẽ giảm, số lượng người khiếm thị từ 15 đến 64 tuổi sẽ không đổi và số lượng người khiếm thị trên 65 tuổi (nhất là những người trên 75 tuổi) sẽ tăng.

 

Thừa nhận tỉ lệ khiếm thị không đổi, bảng 5B cho thấy những dự đoán của chính phủ rằng số lượng trẻ khiếm thị dưới 14 tuổi giảm từ 22,500 năm 2001 xuống còn 20,000 vào năm 2051. Trong cùng giai đoạn đó, số lượng khiếm thị độ tuổi 15 đến 64 vẫn giữ trong khoảng 160,000 người.

 

Bảng 5B cũng cho thấy rằng số lượng người khiếm thị độ tuổi 65-74 dự đoán sẽ tăng từ 122,925 năm 2001 lên đến 137,100 vào năm 2011; 166,225 vào năm 2021 và 196,350 vào năm 2031. Sau đó, số lượng sẽ hơi giảm còn 189,000 vào năm 2041 và 175,475 vào năm 2051.

 

Số lượng người khiếm thị trên 75 tuổi sẽ tăng đáng kể và sẽ tăng đến gấp đôi sau 50 năm. Các số liệu cho thấy từ 801,360 năm 2001 sẽ tăng lên đến 854,820 vào năm 2011; 1,008,360 vào năm 2021; 1,257,300 vào năm 2031; 1,535,940 vào năm 2041 và 1,605,420 vào năm 2051. Hình 5a cho thấy đường biểu diễn rất rõ nét.

 

Table 5B: Dự đoán số lượng người khiếm thị 2001-2051

 

Năm

Nhóm
tuổi

2001

2011

2021

2031

2041

2051

0-14

22,480

20,622

20,820

20,924

20,148

20,044

15-64

156,320

165,644

165,768

161,068

158,620

157,572

65-74

122,925

137,100

166,225

196,350

189,000

175,475

75+

801,360

854,820

1,008,360

1,257,300

1,535,940

1,605,420

 

Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Y tế và RNIB

 

Hình 5a:

 

figure5a.jpg

 

Dự đoán số lượng người khiếm thị 2001-2005


Back to Chapter index
5.4. Tuổi khởi phát khiếm thị

Khảo sát của RNIB trên những người khiếm thị về tuổi khởi phát bệnh, 31% người trả lời nói rằng khởi phát khi còn ở độ tuổi lao động (17-59 tuổi), nhưng đa số (56%) cho rằng bệnh khởi phát từ khi 60 tuổi trở về sau. Chỉ có 8% bắt đầu bị bệnh khi còn dưới 16 tuổi. (Ibid.)


Back to Chapter index
5.5. Giới tính

Hình 5b: Phân bố giới tính theo tuổi

 

figure5b.jpg

 

Các số liệu thống kê cho hình 5b được liệt kê bên dưới. Tuổi được xếp đầu tiên, sau đó là tỉ lệ phần trăm(%).

 

Nam:

- 3 đến 7 tuổi. 56%.
- 8 đến 11 tuổi. 60%.
- 12 đến 15 tuổi. 70%.
- 16 đến 59 tuổi. 43%.
- 64 đến 74 tuổi. 32%.
- từ 75 trở lên. 25%.

 

Nữ:

- 3 đến 7 tuổi. 44%.
- 8 đến 11 tuổi. 40%.
- 12 đến 15 tuổi. 30%.
- 16 đến tuổi. 57%.
- 64 đến 74 tuổi. 68%.
- từ 75 tuổi trở lên. 75%.

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991 và Walker và cộng sự, 1992

 

Trẻ nam khiếm thị hơn nhiều hơn trẻ nữ khiếm thị. Thật vậy, 70% trẻ bị khiếm thị 12-15 tuổi là nam. Trong độ tuổi lao động, tỉ lệ nữ bị khiếm thị hơi cao hơn sao với nam. Còn sau 60 tuổi thì tỉ lệ nữ bị khiếm thị cao hơn đáng kể so với nam giới.


Back to Chapter index
5.6.1. Các yếu tố kinh tế - xã hội

Ước tính chỉ có khoảng 25% người khiếm thị độ tuổi lao động là có việc làm (được trả lương). 46% những người khiếm thị không có thu nhập nói rằng họ muốn được làm việc (Ibid).

 

Khảo sát của RNIB (Ibid) cho thấy có 31% người khiếm thị độ tuổi lao động có thu nhập thấp hơn 1/3 thu nhập trung bình. 

 

40% người lớn khiếm thị sống trong viện dưỡng lão địa phương. Độ tuổi 60-74 có tỉ lệ sống ở viện dưỡng lão địa phương cao (58%) và thấp hơn ở độ tuổi 16-59 (40%) và trên 75 tuổi (43%) (Ibid). Ở người khiếm thị hoàn toàn thì tỉ lệ sống ở viện dưỡng lão địa phương gấp 1.75 lần so với những người sống ở nhà (Grundy và cộng sự, 1999).

 

45% người lớn khiếm thị sống ở nhà (Bruce và cộng sự, 1991) so với 11% trong dân số nói chung (Số liệu của Cơ quan thống kê quốc gia).

 

Người khiếm thị cao tuổi thích sống ở nhà của mình. 50% người khiếm thị trên 75 tuổi sống tự lo, so với 44% người khiếm thị độ tuổi 60-74 tuổi và 19% ở độ tuổi 16-59 tuổi.


Back to Chapter index
5.6.2. Bị nhiều bệnh

22% người khiếm thị tuổi từ 60 trở lên có sử dụng máy trợ thính. 35% người lớn khiếm thị bị rối loạn khả năng nghe (Bruce và cộng sự, 1991).

 

45% người khiếm thị cho biết họ thường hay đau ốm và bệnh tật (ngoài những vấn đề về mắt) nên thường gặp khó khăn khi làm những công việc hàng ngày trong nhà hay khi ra đường. Tỉ lệ này tương tự nhau ở người lớn khiếm thị ở tất cả các độ tuổi. (Ibid.).


Back to Chapter index
5.6.3. Di chuyển

32% người lớn khiếm thị nói rằng họ bị giới hạn rất nhiều trong việc đi lại khi ra đường và 26% nói rằng họ bị giới hạn hoàn toàn khả năng đi lại ngoài đường (Ibid.). Chỉ có 48% tự tin khi đi bộ một mình trong khu vực mà họ sinh sống (Ibid.).

 

Chỉ một tỉ lệ nhỏ người lớn khiếm thị dùng phương tiện hỗ trợ đi lại. 22% người khiếm thị từ 16 tuổi trở lên dùng gậy trắng và 1% có chó dẫn đường (Ibid.).


Back to Chapter index
5.6.4. Nguồn tiếp cận thông tin

Hình 5c: Những nguồn chính cung cấp thông tin cho người lớn khiếm thị

 

figure5c.jpg

 

Các số liệu thống kê của hình 5c được liệt kê bên dưới. Đầu tiên là nguồn thông tin và sau đó tỉ lệ người lớn khiếm thị thường xuyên sử dụng nguồn thông tin này 

 

- Sách viết bằng chữ Braille: 1%
- Báo nói: 7%
- Băng đĩa hay sách nói: 13%
- Tạp chí, báo: 41%
- Điện thoại trao đổi thông tin: 54%
- Radio: 63%
- Tivi: 64%
- Nói chuyện, giao tiếp: 85% 

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

 

85% người lớn khiếm thị tiếp cận thông tin qua nói chuyện trực tiếp. Ngoài ra nguồn tiếp cận thông tin quan trọng khác là các phương tiện truyền thông. Tivi chiếm 64%, radio chiếm 63% và báo, tạp chí chiếm 41% là các nguồn tiếp cận thông tin quan trọng. Ngoài ra, băng đĩa hay sách nói chiếm 13%, báo nói chiếm 7% và sách viết bằng chữ Braille chiếm 1% cũng là những nguồn quan trọng.

 

Ngoài ra, hiện nay máy vi tính cũng được sử dụng rộng rãi và trở thành một phương tiện cung cấp thông tin quan trọng cho người khiếm thị.

 

The data shown in Figure 5c was collected when computer use was not widespread in the home or at work. But, as section 5.6.5.3 suggests, computers are likely to become ever more widely used and therefore to become a more important source of information for blind and partially sighted people.

 


Back to Chapter index
5.6.5.1. Đọc nhiều hơn sau khi bị giảm thị lực

Một khảo sát từ các khách hàng của 2 cửa hàng sách nghe dành cho người khiếm thị (Chartres, 1998), trên 2/3 người trả lời (68%) rằng họ đọc nhiều hơn sau khi bị khiếm thị. 

 

Trong nhóm những người cho biết rằng họ đọc nhiều hơn sau khi bị khiếm thị, 67% cho rằng lý do chính là do có nhiều thời gian rãnh. 14% cho rằng đọc là một điều thích thú mới sau khi bị khiếm thị. 

 

Nói chung, 82% trả lời cho rằng đọc là một phần rất quan trọng trong thời gian rỗi của họ. 63% dành thời gian đọc trên 2 giờ mỗi ngày.


Back to Chapter index
5.6.5.2. Các thể loại đọc

Dữ liệu trong bảng 5C cho rằng việc giảm thị lực làm giảm đọc báo, tạp chí nhưng lại tăng đọc sách.

 

Về báo và tạp chí, chỉ có báo địa phương và chương trình tivi/ radio là còn được trên 10% người đọc sau khi bị khiếm thị. Giảm nhiều nhất là số người đọc nhật báo, giảm từ 70% xuống còn 9%. Số người đọc chuyện trinh thám tăng 11% và các loại sách không phải thể loại trinh thám tăng 8%.

 

Bảng 5C: Các thể loại đọc trước và sau khi bị khiếm thị

 

table5b.jpg

 

Các số liệu thống kê ở bảng 5C được liệt kê dưới đây. Mỗi hàng được mô tả lại như sau:

 

Thể loại đọc, tỉ lệ % đọc trước khi bị khiếm thị, tỉ lệ % đọc sau khi bị khiếm thị, % thay đổi:

 

- Nhật báo: 70%, 9%, -61%.
- Báo ngày Chủ nhật: 49%, 6%, -43%.
- Báo địa phương: 46%, 33%, -13%.
- Tạp chí tổng hợp: 34%, 9%, -25%.
- Tạp chí chuyên đề: 22%, 8%, -14%.
- Chương trình tivi/radio: 37%, 22%, -15%.
- Sách trinh thám: 74%, 85%, +11%.
- Sách không phải loại trinh thám: 56%, 64%, +8%. 

 

Nguồn: Chartres, 1998

 

Ghi chú 2: Từ một thăm dò trên 1,067 khách đến 2 cửa hàng sách dành cho người khiếm thị. Tóm lại, sau khi giảm thị lực, số người đọc tăng lên nhưng giảm thể loại đọc.


Back to Chapter index
5.6.5.3. Hình thức đọc

Hình 5d: Hình thức đọc thường được người lớn khiếm thị chọn

 

figure5d.jpg

 

Dưới đây là các số liệu thống kê của hình 5d được mô tả lại: 

 

- Chữ Braille: 1%
- Băng đĩa: 13%
- Có người đọc cho nghe: 21%
- Sách báo chữ to: 24%
- Sách báo chữ bình thường: 48% 

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

 

Ghi chú 3: Người trả lời được quyền chọn từ 1 hình thức trở lên, cho nên tổng số cộng lại không đủ 100% 

 

Cần lưu ý rằng những người đọc sách báo chữ bình thường có thể sử dụng kính lúp hay những dụng cụ phóng to khác. Chẳng hạn, 60% người trên 60 tuổi có sử dụng kính lúp cầm tay (Bruce và cộng sự, 1991). 

 

Gần phân nửa (48%) đọc sách báo chữ bình thường, 24% thường đọc sách báo chữ to và 13% thường nghe băng đĩa. Chỉ có 1% thường đọc chữ Braille. 21% thường có người đọc cho nghe.

 

  • Sách báo : 58% người khiếm thị có thể đọc với số lượng nhỏ các tài liệu với loại phông chữ 16 và in đậm. Trong đó có 36% được xác nhận và có thẻ “khiếm thị” và 75% hội đủ các yếu tố để được xem là khiếm thị (Ibid). Khoảng 25% người khiếm thị đọc các loại sách chữ bình thường và chữ to. Như được mô tả trong bảng 5D, có khoảng 1/3 (31%) trong số đó có tuổi 16-59 tuổi và ¼ (24%) trong số đó có tuổi dưới 60 tuổi đọc sách chữ bình thường (31% so với 23%). Sách có chữ to có tỉ lệ đọc tương tự giữa 2 nhóm tuổi (21% và 23%).

    Bảng 5D: Tỉ lệ % người lớn khiếm thị đọc sách in

table5c.jpg

 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991.

Bảng 5E cho thấy rằng người khiếm thị trẻ tuổi hơn ít đọc sách chữ to hơn người khiếm thị lớn tuổi và có 25% người khiếm thị trẻ tuổi không đọc gì cả. Khoảng phân nửa (46%) người khiếm thị trên 60 tuổi đọc từ 7 quyển sách chữ to trở lên mỗi 6 tháng và 30% đọc từ 13 quyển trở lên.

 

Bảng 5E: Số lượng sách chữ to được đọc-theo nhóm tuổi
table5d.jpg

Dưới đây là mô tả lại các số liệu thống kê của bảng 5D. Các số liệu thống kê của từng hàng được liệt kê theo thứ tự như sau:
Số lượng sách đọc mỗi 6 tháng, tỉ lệ % người đọc sách chữ to tuổi 16-59, tỉ lệ % người đọc sách chữ to tuổi từ 60 tuổi trở lên, tỉ lệ % tổng cộng của người đọc sách chữ to.

- Không sách nào cả: 25%, 5%, 7%.

- 1-3 sách: 43%, 28%, 30%.
- 4-6 sách: 10%, 21%, 20%.
- 6-12 sách: 11%, 16%, 16%.
- 13 sách trở lên: 10%, 30%, 28%.
 

Nguồn: Bruce và cộng sự, 1991

  • Băng cassette : 46% người khiếm thị có máy nghe băng đĩa (Ibid). Một nghiên cứu năm 2001 cho thấy có 78% người lớn khiếm thị có máy cassette (Bruce và Baker, 2001). Chỉ có 3% người lớn khiếm thị nghe sách qua băng cassette, nhưng có 13% xem đó như mà một trong những phương tiện để đọc mà họ sử dụng thường xuyên nhất (Bruce và cộng sự, 1991).

    Gần đây, tổ chức LISU (Library and Information Statistics Unit) khảo sát và nhận thấy rằng 83% người lớn khiếm thị dùng máy cassette và CD để đọc (Davies và cộng sự, 2001). 

    Hiện nay các loại sách nói ngày càng phổ biến và rẻ hơn và do đó nhu cầu về thể loại này ngày càng gia tăng kể từ nghiên cứu của Bruce và cộng sự tiến hành năm 1991 và điều này có thể được phản ánh bởi sự gia tăng số người khiếm thị có sở hữu máy cassette từ năm 1991 đến năm 2001. Kết quả của một nghiên cứu khác cũng xác nhận rằng băng cassette là thể loại sách đọc phổ biến của người khiếm thị (Moore, 2000). 

    25% người mù và 4% người khiếm thị một phần có máy nghe sách nói (RNIB Talking Books player) mặc dù cũng tương đối ít người biết đến dịch vụ này – 47% người mù và 59% người khiếm thị một phần không biết đến dịch vụ sách nói và chỉ có 13% biết rằng nhà sách có thể cung cấp cho họ những thông tin về sách nói (Bruce và Baker, 2001). LISU cho biết có ít người sử dụng máy nghe sách nói (RNIB Talking Books) (13%) nhưng con số này có thể tăng lên do cách lấy mẫu khác nhau. (Davies và cộng sự, 2001).
  • CDs
    33% người khiếm thị có máy nghe CD nhưng tỉ lệ này thay đổi giữa các nhóm tuổi: 66% dưới 60 tuổi, so với 32% ở độ tuổi 60-74 tuổi và 12% từ 75 tuổi trở lên (Bruce và Baker, 2001). Một khảo sát của LISU thấy rằng có ít người sử dụng máy CD để đọc (Davies và cộng sự, 2001). Ví dụ, chỉ có 7% người khiếm thị độ tuổi 25-64 tuổi thích sử dụng máy CD để đọc. [Ghi chú: LISU đã đánh giá sự ưa thích sử dụng máy CD để đọc và RNIB đã đánh giá có bao nhiêu người có sử dụng máy nghe CD].
  • Chữ Braille
    Chỉ có 4% người mù và 0.4% người khiếm thị một phần đọc sách Braille (Bruce và Baker, 2001). Nghiên cứu trước đó cho thấy có sự khác biệt đáng kể theo tuổi tác. Ví dụ, 14% người độ tuổi 16-59 và 1% người trên 60 tuổi có thể đọc chữ Braille (Bruce và cộng sự, 1991).
  • Computers
    Máy vi tính đang trở thành một phương tiện quan trọng để tiếp cận thông tin cho người khiếm thị với các thiết bị hỗ trợ như màn hình phóng to hay thiết bị chuyển văn bản thành lời nói, qua đó người khiếm thị có thể tra cứu thông tin trên đĩa hay truy cập thông tin trên internet.
  •  
  • 11% người khiếm thị nói rằng họ có sử dụng máy vi tính, nhưng có sự khác biệt đáng kể theo tuổi tác. 31% có tuổi 16-59 và chỉ có khoảng 2% trên 60 tuổi sử dụng máy vi tính (Bruce và Baker, 2001). Hiện nay, số người sử dụng máy vi tính sẽ tăng nhiều hơn so với số liệu trong nghiên cứu này thực hiện từ năm 1998 đến 2000. Trong những người sử dụng máy vi tính, 78% sử dụng màn hình bình thường, 20% sử dụng thiết bị phóng to màn hình và 14% sử dụng thiết bị chuyển bản văn thành lời nói (Ibid). LISU cho rằng số người sử dụng máy vi tính nhiều hơn (Davies và cộng sự, 2001). Ví dụ, họ tổng kết có 53% người khiếm thị 25-64 tuổi sử dụng máy vi tính. [Ghi chú: Có một số khác nhau giữa ước lượng của RNIB và LISU do số lượng mẫu nghiên cứu khác nhau (n=134 trong nghiên cứu của LISU và n=418 trong nghiên cứu của RNIB. Mẫu nghiên cứu càng ít thì tính chính xác thấp hơn so với nghiên cứu có số mẫu nghiên cứu nhiều hơn].

    Back to Chapter index
    5.6.6. Sử dụng thư viện tại chỗ

    Tỉ lệ người khiếm thị là thành viên của các thư viện có sự khác nhau đáng kể giữa các địa phương. Một số vùng chỉ có 2% người khiếm thị là thành viên của thư viện, trong khi đó có vùng tỉ lệ người khiếm thị là thành viên của thư viện chiếm đến 55%. Số liệu này so sánh với tỉ 58% ở toàn thể nước Anh. (Kinnell và cộng sự, 2000). 

     

    Số liệu ghi nhận từ 2 địa phương ở Anh quốc cho thấy rằng có khoảng 6% sách cho mượn ở thư viện thuộc loại chữ to (số liệu không công bố được cung cấp bởi Hội đồng thành phố của 2 địa phương Gloucestershire và Essex). Ngành thư viện ở Anh quốc ước tính rằng ở Anh quốc có khoảng 9% - tương đương với 46 triệu sách – thuộc loại chữ to hàng năm. 

     

    Có 2 thư viện sách nói lớn ở Anh quốc là thư viện sách nói RNIB có khoảng 50,000 thành viên và Calibre có khoảng 15,000 thành viên. Đa số các thông tin trong phần này được lấy từ khảo sát của Chartres (1998) trên các thành viên của các thư viện kể trên. Cần lưu ý rằng các số liệu này không thể đại diện cho toàn bộ cộng đồng người lớn khiếm thị trên khắp nơi.


    Back to Chapter index
    5.6.6.1. Tỷ lệ người khiếm thị đến thư viện

    Chartres (Ibid) tổng kết có khoảng 42% người sử dụng sách nói  có đến thư viện sách của địa phương. Trong số đó, đa số tự đi, 38% nhờ người thân đi thay và 15% tự đi hoặc nhờ người thân. Còn theo nghiên cứu LISU thì có khoảng 31% người khiếm thị đến thư viện trong 6 tháng gần nhất (Davies và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.6.6.2. Tần số đi thư viện

    Bảng 5F cho thấy tần số của những người tự đi thư viện. 34% đi mỗi tuần, khoảng 49% đi mỗi tuần hay mỗi tháng một lần và 17% đi dưới 1 lần mỗi tháng.

     

    Bảng 5F: Tần số đi thư viện địa phương
    (Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

    table5e.jpg

    Các số liệu thống kê của bảng 5F được mô tả lại dưới đây. Kết quả được liệt kê ở mỗi hàng: Tần số, tỉ lệ % người đi thư viện. 

     

    - Trên 1 lần mỗi tuần: 8%
    - 1 lần mỗi tuần: 26%
    - 1 lần mỗi 2 tuần: 22%
    - 1 lần mỗi tháng: 27%
    - Dưới 1 lần mỗi tháng: 14%
    - Không nhớ: 3%
    n=255 

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.6.3. Chọn sách

    Người khiếm thị thường nhờ giúp đỡ của nhân viên thư viện hoặc người thân khi chọn lựa sách nói cũng như sách in. Tuy nhiên 23% trong số họ thường tự mình chọn lựa và 9% chọn lựa thông qua danh mục sách niêm yết. LISU cũng nhận thấy rằng có khoảng 60% người khiếm thị đến thư viện có người khác đi chung (Davies và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.6.6.4. Đánh giá chất lượng thư viện

    Bảng 5G cho kết quả đánh giá của người khiếm thị sử dụng thư viện về chất lượng thư viện trên nhiều khía cạnh khác nhau. Thuận tiện đi lại trong thư viện chiếm 85%, chất lượng phục vụ tốt của nhân viên thư viện chiếm 93%. Nhưng LISU nhận thấy có 50% người khiếm thị đến thư viện gặp khó khăn khi đi lại trong thư viện (Davies và cộng sự, 2001). [Ghi chú: Sự khác biệt này là do Chartres lấy mẫu không điển hình]. Sử dụng các phương tiện di chuyển công cộng được đánh giá không cao so với số chủng loại sách và hình thức tiếp cận thông tin. 

     

    Một tỉ lệ lớn người trả lời cho rằng họ không biết làm thế nào để đánh giá chất lượng ánh sáng ở bên trong và bên ngoài thư viện, số chủng loại sách có trong thư viện và danh mục tựa sách dưới nhiều dạng trình bày khác nhau. Lý do của sự do dự khi trả lời không rõ lắm.

     

    Bảng 5G: Đánh giá của người được phỏng vấn trên chất lượng của dịch vụ ở thư viện (Khảo sát trên những người khiếm thị tự mình đi thư viện)

    table5f.jpg

     

    Các số liệu thống kê trong bảng 5F được mô tả lại dưới đây. Tiêu đề của các cột là: Chất lượng của dịch vụ: Tốt; Trung bình; Không tốt; Không biết. 

     

    - Sử dụng phương tiện di chuyển công cộng: 42%, 12%, 15%, 31%.
    - Ánh sáng bên ngoài thư viện: 41%, 9%, 4%, 46%.
    - Ánh sáng bên trong thư viện: 60%, 9%, 3%, 28%.
    - Thuận tiện đi lại trong thư viện: 85%, 11%, 1%, 3%.
    - Chất lượng phục vụ của nhân viên thư viện: 93%, 4%, 1%, 2%.
    - Số loại sách in có trong thư viện: 27%, 11%, 5%, 57%.
    - Số loại sách nói có trong thư viện: 44%, 31%, 18%, 6%.
    - Tài liệu hướng dẫn tra cứu, danh mục sách dưới nhiều dạng trình bày khác nhau: 38%, 13%, 12% 37%.
    n=255 

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.6.5. Lý do tại sao người khiếm thị không sử dụng thư viện địa phương

    58% trả lời trong thăm dò của Chartres rằng họ không sử dụng thư viện địa phương. Họ được yêu cầu cho biết những nguyên nhân chính (xem Bảng 5H).

     

    "Nguyên nhân chính" là do khó khăn khi đến thư viện (41%). Điều này phù hợp với việc đi lại khó khăn của người khiếm thị (xem (5.6.3).

     

    Hai nguyên nhân chính nữa là do có ít loại sách chữ to hay sách nói (19%) và họ thích đến thư viện chuyên về sách nói hơn (11%).

     

    Bảng 5H: Lý do tại sao người khiếm thị ít đến thư viện của địa phương

    table5g.jpg

     

    Các số liệu thống kê ở bảng 5H được mô tả lại dưới đây. Tiêu đề của các cột là: Các lý do chính vì sao không đến thư viện của địa phương, Tỉ lệ % 

     

    - Khó khăn trong việc di chuyển: 41%
    - Có ít loại sách chữ to hay sách nói: 19%
    - Thích đến các thư viện chuyên về sách nói hơn như RNIB, Calibre…: 11%
    - Không có phương tiện: 5%
    - Không thích đọc nữa: 4%
    - Thích sách nói hơn: 4%
    - Chất lượng phục vụ của thư viện không tốt: 1%
    - Ý kiến khác: 7%
    - Không biết: 8%
    n=255 

     

    Nguồn: Chartres, 1998


    Back to Chapter index
    5.6.7. Giáo dục bổ túc

    Có khoảng 4,500 người khiếm thị theo học tại các trường giáo dục bổ túc ở Anh quốc (Simkiss và cộng sự, 1998).


    Back to Chapter index
    5.6.7.1. Học sinh khiếm thị thích học bằng gì nhất ?

    Có 30% chọn học bằng chữ Braille, tuy nhiên tỉ lệ rất khác nhau giữa các nhóm tuổi, chẳng hạn như chỉ có 14% người khiếm thị ở độ tuổi 16-59 là có thể đọc được chữ Braille- xem phần 5.6.5.3. ; 5% thích học bằng máy vi tính (Ibid). 

     

    Học sinh khiếm thị tại các trường giáo dục bổ túc thích học bằng chữ Braille hơn (49%) so với học sinh khiếm thị tại các trường đào tạo chính qui (21%). Ngược lại, học sinh khiếm thị tại các trường đào tạo chính qui thì lại thích học bằng máy vi tính hơn (43%) so với học sinh khiếm thị tại các trường giáo dục bổ túc.

     

    Bảng 5I: Các phương tiện đọc được học sinh khiếm thị ưa chuộng tại các trường giáo dục bổ túc

    table5h.jpg

     

    Các số liệu thống kê ở bảng 5H được mô tả lại dưới đây. Tiêu đề của các cột là: Phương tiện đọc, Giáo dục bổ túc, Giáo dục bổ túc cho những người có nhu cầu đặc biệt, Giáo dục bổ túc nói chung 

     

    - Chữ Braille: 21%, 49%, 30%.
    - Chữ in to: 43%, 28%, 38%.
    - Chữ in thường: 17%, 9%, 14%.
    - Băng đĩa: 15%, 9%, 13%.
    - Đĩa vi tính: 5%, 5%, 5%. 

     

    Nguồn: Simkiss và cộng sự, 1998, trang 17

     

    Ghi chú 4: Dành cho các trường Giáo dục bổ túc và Trung cấp dành riêng cho những người có nhu cầu đặc biệt.

     


    Back to Chapter index
    5.6.8. Giáo dục cao hơn

    Có khoảng 2,800 học sinh khiếm thị đang theo các chương trình giáo dục cao hơn, trong đó có khoảng 750 là sinh viên của Đại học mở (Ibid). 

     

    Sinh viên khiếm thị theo các chương trình giáo dục cao hơn thường lớn tuổi. Có 66% từ 26 tuổi trở lên khi bắt đầu chương trình học, so với 40% sinh viên ở độ tuổi này theo học các chương trình giáo dục cao hơn nói chung (Ibid.).


    Back to Chapter index
    5.7. Trẻ em khiếm thị

    Ước tính có khoảng 22,500 trẻ em bị khiếm thị ở Anh quốc, tuy nhiên số thực tế có thể khác do cách lấy mẫu. Ở các trẻ em này, có ít nhất 36% bị thêm bệnh khác ngoài bệnh mắt. Những trẻ em này có những nhu cầu phức tạp để bổ sung cho sự suy giảm thị lực. 2/3 còn lại ít có nhu cầu đặc biệt hơn thì có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản. Phần này mô tả những bệnh lý chính, việc đọc và học trong 2 nhóm trẻ nêu trên.


    Back to Chapter index
    5.7.1.1. Trẻ bị thêm bệnh khác

    Trong nhóm trẻ bị thêm bệnh khác ngoài bệnh mắt, ước tính có khoảng 29% bị bại não, 26% bị bệnh lý khác có ảnh hưởng đến hoạt động của cơ thể như viêm khớp hay có vấn đề ở tủy sống, và 26% bị bệnh khác như hen phế quản, động kinh, tiểu đường (Crofts và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.7.1.2. Trẻ khiếm thị còn có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản

    Ở các trẻ khiếm thị tuổi từ 5 đến 16 tuổi có khả năng theo học các chương trình giáo dục cơ bản thì có khoảng 30% bị thêm một hoặc nhiều bệnh lý khác. Trong nhóm này, có khoảng 37% bị bệnh phải dùng thuốc, 20% bị khó khăn trong việc vận động, 19% bị khó khăn khi tiếp thu bài vở, 12% bị giảm thính lực và 10% bị bệnh lý di truyền phức tạp (Crofts và cộng sự, 2001).


    Back to Chapter index
    5.7.2. Đọc

    Nhiều trẻ khiếm thị vần còn khả năng nhìn được. Có 51% có thể nhặt đồng xu mà không phải mò mẫm, và ¼ có thể nhận ra người quen đi ngang qua mặt ở ngoài đường (Walker và cộng sự, 1992). 

     

    Đa số trẻ khiếm thị trong nhóm còn có thể theo học các chương trình giáo dục cơ bản có thể đọc và viết chữ to nếu có đủ ánh sáng. Nhiều trẻ sử dụng thiết bị phóng to để phóng to chữ lên. 34% có thể đọc được chữ in bình thường, 27% đọc được chữ in to và 18% có thể đọc được cả hai (Franklin và cộng sự, 2001). Chỉ có 4% trẻ khiếm thị đọc được chữ Braille (Clunies-Ross và cộng sự, 1999).


    Back to Chapter index
    5.7.3. Trường học

    Hình 5e: Các loại trường ở Anh quốc có trẻ khiếm thị theo học

    figure5f.jpg

     

    Nguồn: Clunies-Ross và cộng sự, 1999

     

    Hình 5e cho thấy rằng đa số (60%) trẻ khiếm thị theo học tại các trường bình thường. Chỉ có 7% trẻ khiếm thị ở Anh quốc theo học tại các trường đặc biệt dành cho trẻ khiếm thị, so với 22% ở năm 1988. Có 31% theo học tại các loại trường đặc biệt khác. Điều này có nghĩa là nhiều trường học có trang bị thư viện sách dành cho người khiếm thị để học tập và giải trí.

     


    Back to Chapter index
    References. Tham khảo

    Bruce, I., McKennell, A., and Walker, E. (1991). Blind and partially sighted adults in Britain: the RNIB survey. London: HMSO.

     

    Bruce, I. and Baker, M. (2001). Access to written information – the views of 1000 people with sight problems. London: RNIB.

     

    Chartres, S. (1998). The leisure reading habits of visually impaired people using audio reading services - customer survey. Unpublished: RNIB.

     

    Clunies-Ross, L., Franklin, A., and Keil, S. (1999). Blind and partially sighted children in Britain: their incidence and special needs at a time of change. RNIB for the Nuffield Foundation.

     

    Crofts, K., Clery, L., Keil, S., Franklin, A. and Cole-Hamilton, I. (2001). The health and well being of blind and partially sighted children and young people aged 5 to 25. London: RNIB

     

    Davies J., Wisdom, S., and Creaser ,C. (2001). Out of sight but not out of mind – visually impaired people’s perspectives of library and information services. Loughborough University: Library and Information Statistics Unit.

     

    Ford, M., and Heshel, T. (1994). The In Touch 1994/5 handbook. London: published for BBC Radio 4 by Broadcasting Support Services.

     

    Franklin, A., Keil, S., Crofts, K., and Cole-Hamilton, I .(2001). The educational experiences of 5 to 16 year old blind and partially children and young people. London: RNIB

     

    Government Actuary’s Department website (http://www.gad.gov.uk/)

     

    Grundy, G., Ahlburg, D., Ali, M., Breeze, E. and Sloggett, A. (1999). Disability in Great Britain. London: DSS Research Report No. 94.

     

    Kinnell, M., Yu, Liangzhi and Creaser, Claire. (2000).
    Public library services for visually impaired people – report to the Library and Information Commission. Loughborough University: Library and Information Statistics Unit.

     

    Martin, J., Meltzer, H., and Elliot, D. (1988). OPCS surveys of disability in Great Britain, Report 1: The prevalence of disability among adults. London: HMSO.

     

    Moore, N. (2000). Review of research of the information needs of visually impaired people. Unpublished: RNIB.

     

    RNIB. (1997). All about registering as blind or partially sighted. London: RNIB.

     

    Simkiss, P., Garner, S., and Dryden, G. (1998). What next? The experience of transition. London: RNIB.

     

    Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Blind and partially sighted children in Britain: the RNIB survey. London: HMSO.


    Back to Chapter index
    6.1.1.

    Nhà quản lý thư viện có trách nhiệm quan trọng để đảm bảo mọi người đều có thể sử dụng dịch vụ thư viện kể cả những người khiếm thị. Brophy and Craven (1999a) chỉ ra ba nguyên tắc dưới đây:

     

    "hội nhập, bình đẳng và độc lập: người khiếm thị phải được đưa vào đầy đủ tất cả các dịch vụ thông qua các chính sách và thiết kế phù hợp; họ phải được tiếp cận cả dịch vụ chung và dịch vụ đặc biệt; họ phải được độc lập truy cập và sử dụng dịch vụ, mà không cần thông qua người trung gian.”

     

    Người quản lý thất bại khi đối mặt với thách thức này là do đã không coi người khiếm thị như một trong những thành phần độc giả của mình.


    Back to Chapter index
    6.1.2.

    Mục đích quản lý chính là hiểu được nhu cầu và khó khăn mà người khiếm thị gặp phải để cung cấp các dịch vụ mà có thể truy cập được và thích hợp, và để tập huấn nhân viên thư viện nhận thức vấn đề một cách có hệ thống. Tất cả người sử dụng thư viện, kể cả người khiếm thị phải được chọn lựa dịch vụ, tính đa dạng của các kiểu học và yêu cầu của họ phải được nhận biết. Nhân sự và thái độ phục vụ chính là trái tim của bộ máy phục vụ có hiệu quả, và nhà quản lý phải có trách nhiệm đối với người khiếm thị và bất kỳ người khuyết tật nào khác, cho dù họ là nhân viên hay là độc giả thư viện.


    Back to Chapter index
    6.1.3.

    Quản lý dịch vụ thư viện của người khiếm thị không khác gì so với các cách quản lý chung cả: đơn giản là tầm quan trọng của dịch vụ thư viện cho NKT phải được nhận biết trong lúc phục vụ. Nhà quản lý phải xây dựng chính sách rõ ràng hay những quy tắc thực hành phục vụ người khuyết tật có mục đích, mục tiêu, kế họach chiến lược, quy trình, sắp xếp để phân bổ các nguồn lực cần thiết. Chính sách này nên có cả mục tiêu kết quả thực hiện phù hợp, quy trình giám sát và phân công trách nhiệm, và phải kiểm tra đánh giá chất lượng dịch vụ. Khuyến khích và hợp tác cũng là những yếu tố quan trọng.


    Back to Chapter index
    6.1.4.

    Quản lý dịch vụ hòa nhập cho người khiếm thị sẽ ảnh hưởng đều khắp đến tất cả các nguồn lực mà nhà quản lý đang điều phối,  từ chuyện nhân viên, tiền bạc, hệ thống tự động hóa, vốn tài liệu, CNTT, dịch vụ và không gian sử dụng. Những xem xét trong quản lý  là để đối phó với những thách thức đã được trình bày trong cẩm nang này, kế cả vấn đề về pháp chế, dân số, các tác nhân gây khiếm thị, hình thức và nhà cung ứng tài liệu chuyển dạng, mục lục quốc gia, mượn liên thư viện các tài liệu chuyển dạng, thiết kế và điều chỉnh dịch vụ, công nghệ hỗ trợ, thiết kế hệ thống công nghệ thông tin truyền thông, quảng cáo, nguồn thông tin và tư vấn.  


    Back to Chapter index
    6.1.5.

    Kế hoạch dịch vụ truy cập được cho NKT nên được xét đến như là điều cơ bản, bình thường và cũng là một trong những phần chính. Không nên coi đó là là việc làm đặc biệt, tùy ý hay chỉ là phần phụ. Khi lập kế hoạch phải lưu ý đến mảng dịch vụ cho người khuyết tật bất cứ lúc nào có thể hơn là kệ hoạch đã lên rồi thì mới lo hồi cố điều chỉnh các dịch vụ  đặc biệt


    Back to Chapter index
    6.1.6.

    Dịch vụ cho NKT nên thiết thực và duy trì được. Tuy nhiên, cách thức thực hiện cần thực tế hợp lý, và có sự bặt buộc phải cân nhắc giữa nguyện vọng và cái có thể làm được. Khi bị vướng mắc, thì nên tìm ra các biện pháp thay thế. Nhà quản lý không thể giải quyết mọi vấn đề cho mọi người vào bất cứ lúc nào, và thực tế, là có khi những yêu cầu bị mâu thuẫn lẫn nhau khi cung cấp cho người khiếm thị những dịch vụ truy cập được. Ví dụ, người dùng xe lăn có thể truy cập tốt hơn vào kho sách kệ thấp nhưng các độc giả khác có thể than phiền về các kệ sách bị hạ thấp xuống (Parker, 2000).


    Back to Chapter index
    6.1.7.

    Nhà quản lý phải tạo ra văn hoá nhận thức về sự thành công của công tác phục vụ NKT sẽ thành công, và một số nét chính quan trọng để xây dựng được nếp nghĩ đó là: 

     

    a)  sự ưu tiên và quyết tâm của đơn vị chủ quản;

    b)  chính sách, kế hoạch, tuyên bố của thư viện dành cho người khuyết tật ;

    c)  ủng hộ các quyết định có lý lẽ phù hợp;

    d)  phân bổ nguồn lực hợp lý

    e)  phân công nhân sự phụ trách phục vụ NKT;

    f)  tập huấn nhân viên toàn diện;

    g)  đào tạo nhân viên cách đối xử, tinh thần trách nhiệm, và hiểu biết người khuyết tật.

     


    Back to Chapter index
    6.1.8.

    Để tăng cường tự giác nhận thức vấn đề phục vụ NKT, nhà quản lý nên khuyến khích truyền thêm thông tin về quan điểm của xã hội đối với người khuyết tật, nhấn mạnh vào vấn đề xã hội hơn là vấn đề vế khuyết tật hình thể. Người khuyết tật lại càng bị khiếm khuyết thêm do môi trường phục vụ của chúng ta. Ví dụ nếu tất cả cửa đều đủ lớn cho xe lăn vào thì mọi chuyện đều ổn. Nhà quản lý cần phải đối mặt với những quan niệm ấu trĩ về người khuyết tật như là một cụm người có vấn đề bất bình thường cần sự giúp đỡ của các nhà từ thiện hay các nhà chuyên môn khác. Chính sách nên luôn tính đến người khuyết tật, như người bị chứng khó đọc, rối lọan thị lực và hội chứng Irlen's. Nhà quản lý cần nhận ra tầm quan trọng của việc dùng ngôn ngữ thích hợp khi giao tiếp hay khi nói về người khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.1.9.

    Trong khi nhiều nội dung của chương này nói về giáo dục đại học, khái niệm được lan tỏa sang nhiều loại hình thư viện trong “Thời đại của Học tập mới” (D.f.E.E, 1998). Tương tự, Kinnell (2000) cũng khuyến nghị việc xây dựng và phát triển dịch vụ phục vụ người khiếm thị ở các thư viện công cộng. Khi nói đến việc mở rộng giáo dục đại học là nói về tính đa dạng trong thế giới con. Hiện nay, giới học viên trong môi trường học tập có đủ các thành phần: sinh viên học bán thời gian, người cao tuổi, học từ xa, học mở, và người học suốt đời. Sinh viên dùng đủ các dịch vụ thông tin, không chỉ tại thư viện trường, mà còn ở các thư viện trường khác, thư viện công cộng, các thư viện trong mạng lưới hay thư viện quốc gia.  Cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật phải được nhìn dưới góc độ đầy đủ, công bằng, suốt đời, và mở rộng ra bên ngoài.  Dịch vụ thích hợp cũng là yếu tố then chốt để quyết định khả năng cạnh tranh và tồn tại của thư viện và của cả đơn vị chủ quản vì ngày càng có thêm nhiều người khuyết tật có cơ hội học tập trong thư viện.


    Back to Chapter index
    6.1.10.

    Giống như tất cả các cuộc thảo luận về quản lý, không thể giải quyết vấn đề toàn vẹn và dự báo được hết các tình huống nhưng tìm cách chỉ ra một số khái niệm quan trọng và các thách thức nảy sinh trong quá trình công tác cùng một lúc.


    Back to Chapter index
    6.2.1.

    Nhà quản lý phải nhận thức đầy đủ về vấn đề pháp chế và chiến lược phát triển ảnh hưởng đến người khuyết tật. Điều này không chỉ làm rõ trách nhiệm pháp lý mà còn đóng góp vào việc xây dựng chính sách và giúp các nhà quản lý điều hành công tác theo đúng tinh thần của pháp luật.


    Back to Chapter index
    6.2.2. Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật, 1995

    Luật cấm phân biệt đối xử với người khuyết tật (Great Britain. Acts, 1995) yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ công như thư viện phải phục vụ công bằng cho mọi đối tượng sử dụng. Nó cũng chỉ ra rằng người khuyết tật không phải trả thêm một khoản phí nào cả khi được phục vụ, ví dụ như yêu cầu cung cấp sách chữ lớn hay chữ Braille.  


    Back to Chapter index
    6.2.3.

    Thực hiện các vấn đề trình bày trong D.D.A tính đến năm 2004 thì các nhà phân phối dịch vụ phải đáp ứng nhu cầu của “bất cứ ai có khiếm khuyết về thần kinh, tâm lý hay hình thể phải chịu những ảnh hưởng xấu lâu dài và vĩnh viễn đến khả năng của họ trong vận động sinh hoạt thường ngày." Vì thế, thư viện phải xây dựng thư viện có tòa nhà tiếp cận được, các nguồn lực có thể truy cập được (như phương tiện đọc và tài liệu chuyển dạng) và các dịch vụ sử dụng đưc cho bất cứ ai không thể vận động đi đến thư viện. Nhà quản lý thư viện phải kiểm tra lại chi phí thực hiện tất cả các điều chỉnh trong dịch vụ của thư viện họ trước 2004, và lập kế hoạch tài chính cho những sửa đổi đó.


    Back to Chapter index
    6.2.4.

    Nhà quản lý nên tính đến nhu cầu của những người nằm ngoài diện quy định về người khuyết tật của DDA ví dụ đó là người cao tuổi thường có vấn đề về giảm thị lực nhưng không hoặc ít gặp khó khăn trong việc đọc tài liệu in ấn hay đi đến thư viện. Cũng thế, những người có vấn đề về thị lực nhưng không đến độ có thể đăng ký là người khiếm thị hay mù hoặc những người không đăng ký thì những đối tượng này vẫn cần đến sự giúp đỡ và hỗ trợ truy cập thông tin của thư viện.


    Back to Chapter index
    6.2.5.

    Khi DDA mới ban hành, có nhiều trường hợp đấu tranh chống lại nhà quản lý nhiều hơn cả các cuộc đấu tranh trong một năm sau đạo luật chống phân biệt chủng tộc và giới tính ban hành. Phân nửa sự vụ đã được sắp xếp để phân xử. Mặc dù vẫn có một số điểm chưa rõ trong vấn đề giáo dục cho đến khi Đạo luật Người Khuyết tật và Nhu cầu đặc biệt năm 2001 công bố, đã mở rộng ra là các thư viện trường đại học cũng phải theo luật, ít nhất là phải chấp nhận tổ chức phục vụ rộng rãi hơn cho công chúng và một số khác thì cam kết mở rộng việc truy cập và học tập suốt đời.  Báo cáo của Ban tác chiến về quyền lợi người khuyết tật DfEE’s về nhân quyền cho NKTật (1999) khuyến cáo là giáo dục đại học nên được đưa vào luật pháp về nhân quyền trong tương lai để “bắt buộc bảo vệ quyền lợi toàn vẹn cho NKTật” và pháp chế như vậy phải đảm bảo được Quy chế Thực hành theo các luật mới. Một thông tư hướng dẫn của chính phủ (DfEE, 2000) về việc cung cấp dịch vụ cho NKTật trong giáo dục khẳng định rằng phân biệt đối xử với NKTật là vi phạm pháp luật.


    Back to Chapter index
    6.2.6. Quy chế thực hành

    Để theo dõi việc thực hiện DDA, chính phủ thành lập Ủy ban bảo vệ Quyền lợi NKTật. Ủy ban này ban hành Quy chế thực hiện làm rõ trách nhiệm của nhà cung ứng dịch vụ. Nó trình bày như sau “Mặc dù không có gì là trái với luật pháp khi chân thành tìm cách hỗ trợ NKTật bằng cách thông tin cho họ nơi nào họ có thể có dịch vụ phù hợp với yêu cầu của họ, nhưng từ chối phục vụ một người khuyết tật có thể bị coi là phạm luật cho dù với bất cứ động cơ hay ý định nào.  Ví dụ, nếu một người khuyết tật mong được một nhà dịch vụ phục vụ họ, thì nhà dịch vụ đó không thể từ chối anh ta/ cô ta chỉ đơn giản là vì có một nhà dịch vụ khác có thể chăm sóc yêu cầu người đó tốt hơn dịch vụ của họ.

    Nói cách khác. Một thư viện không thể chỉ đơn giản chỉ cho một người nào đó liên hệ với RNIB, NLB hay bất cứ tổ chức nào, và tránh né trách nhiệm để tiếp cận các dịch vụ vì quyền lợi của độc giả. Đây là một ví dụ minh họa cho trường hợp trên:

    “Một khách hàng là người khuyết tật muốn mua một cuốn sách in chữ lớn từ một cửa hàng sách, nhưng nhà sách không bán loại sách này. Điều này không phạm luật. Tuy nhiên, khách hàng khuyết tật này yêu cầu nhà sách đặt cho họ cuốn này. Nếu nhà sách đó có cũng có dịch vụ đặt hàng đặc biệt cho những khách hàng bình thường khác, thì sự từ chối đối với yêu cầu này của vị khách hàng bị khuyết tật này sẽ bị khép vào việc vi phạm pháp luật.”

    Bàn về vấn đề dịch vụ thư viện, việc dùng hệ thống mượn liên thư viện cho tài liệu chuyển dạng là một phần quan trọng của dịch vụ thư viện. Những bàn luận về DDA và các điều khoản trong đó có thể tìm đọc ở Chương  3.


    Back to Chapter index
    6.2.7. Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật và nhu cầu giáo dục đặc biệt

    Bất cứ gặp những điều gì chưa rõ trong DDA ứng dụng vào giáo dục thì nên tham khảo sang Đạo luật khuyết tật và Giáo dục đặc biệt (Great Britain. Đạo luật, 2001). Đạo luật SEND (thỉnh thoảng được gọi là DDA Phần IV) quy định trách nhiệm pháp lý của tất cả 16 loại nhà tổ chức giáo dục và đào tạo nếu họ phân biệt đối xử đối với sinh viên là NKTật. Các đơn vị được yêu cầu có những đánh giá hợp lý để đảm bảo việc tiếp cận của NKTật và họ sẽ bị khép vào việc phạm pháp nếu họ đối xử với NKTật ít ưu đãi hơn hay gây khó khăn cho đối tượng này. Điều quan trọng là Đạo luật này yêu cầu các tổ chức giáo dục phải chăm lo nhu cầu của NKTật và lo điều chỉnh các dịch vụ trước cho thích hợp cũng như chuẩn bị đáp ứng nhu cầu của các  cá nhân.   

     

    Các nhà tổ chức giáo dục phải mãi đến tháng 9 năm 2002 mới thực hiện theo Phần III của DDA và tiến hành từng bước thích hợp để thay đổi các thực hành, chính sách, quy trình, và thủ tục để tạo điều kiện cho NKTật tiếp cận dễ dàng. Đến tháng 9 năm 2003 họ mới có những điều chỉnh thích hợp có cả những phương tiện và dịch vụ bổ trợ. Cho tới tháng 9 năm 2005, mới tính đến những điều chỉnh về điều kiện của tòa nhà. Ở Anh, xứ Wales, và Scốtlen đã ứng dụng,  tuy nhiên ở Bắc Ailen thì không, hay có thể nói là chưa thực hiện.

     

    Phải nhận ra là Đạo luật đã dẫn đến các thách thức về tài chính, quản lý và giáo dục cho các tổ chức giáo dục.  Các nhà quản lý phải cân nhắc các ngụ ý trong luật không chỉ là vấn đề đề tiếp cận bên ngoài mà còn phải thể hiện những chính sách, thủ tục, nguồn lực thông tin, thông tin điện tử, chương trình, dịch vụ và tập huấn nhân viên. Cụ thể là các tổ chức phải:

     

    a) chỉ ra các trở ngại chính bên ngoài mà hiện tại làm NKTật gặp khó khăn, trở ngại, hay không thể tiếp cận vào các dịch vụ thư viện ( bảng đánh giá này bao gồm cả cho tòa nhà hiện tại và cả tòa nhà dự tính trong tương lai);
    b) nhận ra các trở ngại mà bản thân NKTật xem xét cái gì là cần nhất để đáp ứng (tham khảo ý kiến là phần chính để có thể tiếp cận với các yêu cầu);
    c) đề ra các chiến lược để được cấp trên xét duyệt;
    d) ước tính các kế hoạch thực hiện chiến lược đó càng sớm càng tốt cho đến trước tháng 9 năm 2005.

     

    Các trường hợp ngoại lệ có thể chấp nhận nơi mà các tiêu chuẩn giáo dục sẽ được thỏa thuận hoặc ở nơi mà sự thay đổi có thể gây ra các khỏan chi phí quá đáng, và không phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Ví dụ như các trường hợp về điều kiện sức khỏe và an toàn sẽ phải thoả thuận hay giấy phép quy hoạch bị từ chối hay nơi có thể thỏa hiệp phục vụ với toàn thể cộng đồng giáo dục. 

    Ủy ban Bảo vệ Quyền lợi NKTật có chức năng xây dựng một xã hội mà mọi người khuyết tật có thể tham gia đầy đủ và bình đẳng như mọi công dân khác, đã xuất bản Quy chế Thực hành để làm rõ các khái niệm này và chức năng nhiệm vụ và trách nhiệm. Quy chế cho trường phổ thông hay đại học đã được Chính phủ duyệt qua vào năm 2002. Ủy ban đang thành lập dịch vụ hòa giải để giải quyết các than phiền của khách hàng nhằm tăng tốc và thúc đẩy việc thực hiện luật có hiệu quả. Nếu cả hai bên không đồng ý hòa giải, hay hòa giải bất thành, sinh viên có thể đưa sự vụ ra Tòa.  Tòa án sẽ có đủ thẩm quyền không chỉ quyết định tính đúng đắn của vụ thưa kiện mà còn quyết định mức bồi thường và tuyên bố hình phạt để đảm bảo các quy chế luật định được tôn trọng.


    Back to Chapter index
    6.2.8. Đạo luật Nhân quyền 1998

    Đạo luật Nhân quyền đã đưa luật của Anh quốc vào các khoản nhất định trong Hiệp ước Châu Âu về Nhân quyền. Đạo luật này có hiệu lực ở Anh quốc từ tháng 10 năm 2000 yêu cầu các cơ quan dịch vụ công đảm bảo “Quyền giáo dục” và một số quyền lợi nhất định khác. Đạo luật này có kèm cả “các điều cấm phân biệt đối xử” khi tham gia vào công ước này. Các hàm ý trong Đạo luật Nhân quyền tuy nhiên chưa được làm rõ và đầy đủ. Có sự tranh luận về những ngụ ý về quyền giáo dục trong Đạo luật Nhân quyền. Mức độ trách nhiệm của các công sở để tránh việc phân biệt đối xử cũng không cụ thể. Một điều đáng nói nữa từ vấn đề này là tính “cân xứng”, tức là đôi khi quyền lợi của một cá nhân khi so sánh với quyền lợi của nhóm hay cộng đồng lớn lại rộng hơn.. . Tuy nhiên quy định của luật Nhân quyền đã triển khai thành công ở các nước khác để tạo cho sinh viên khuyết tật có thêm nhiều quyền lợi hơn. 


    Back to Chapter index
    6.2.9. Báo cáo về công tác giáo dục

    Báo cáo về “Giáo dục đại học trong xã hội học tập” (Hội đồng quốc gia về các điều khoản giáo dục đại học, 1997), nhấn mạnh nhu cầu của tham gia đầy đủ vào chương trình giáo dục đại học của NKTật đã không được tính đến. Nó khuyến khích các tổ chức tài trợ nên tài trợ các đơn vị phục vụ sinh viên khuyết tật. Viện Nghiên cứu Giáo dục cũng phải đưa nhu cầu học tập của sinh viên khuyết tật vào kế hoạch hoạt động của mình. Từ khi thực hiện các đề nghị này chính phủ đã mở rộng phạm vi trợ cấp cho sinh viên khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.2.10. Hội đồng Quỹ Giáo dục đại học Anh quốc

    Theo “Hướng dẫn cung cấp dịch vụ căn bản cho sinh viên khuyết tật ở trường đại học” (HEFCE, 1999), Hội đồng Quỹ tài trợ chỉ ra các dịch vụ cơ bản cho người bị khuyết tật, yêu cầu mỗi trường đại học tuyên bố hỗ trợ hoàn toàn cho NKTật trong chính sách của nhà trường, dịch vụ hỗ trợ và kế hoạch thực hiện trong 3 năm. Thời gian đầu NKTật học đại học sẽ theo chuẩn của các trường và họ có thể đánh giá được dịch vụ của nhà trường. Các trường không còn hỗ trợ sinh viên khuyết tật  nữa thì sẽ rớt khỏi bảng xếp hạng của HEFCE và có thể sẽ bị chịu hậu quả là bị giảm kinh phí, không được xếp hạng chất lượng trường chuẩn và sẽ mất tiếng tăm trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường này.


    Back to Chapter index
    6.2.11.

    Các nhà quản lý thư viện phải xem xét nơi nào và bằng cách nào để dịch vụ thư viện phù hợp với các khía cạnh của vấn đề chính mà HEFCE đã xác định. Cũng như yêu cầu tuyên bố dịch vụ cho NKT đầy đủ, các vấn đề khác như chính sách và thủ tục, sắp xếp đánh giá nhu cầu, dịch vụ hỗ trợ, giao tiếp, và chính sách hướng dẫn, sắp xếp để giám sát; tiếp cận các nhân viên đã được tập huấn, chính sách và quy trình kiểm tra, chương trình xây dựng đội ngũ nhân sự, nhân viên nòng cốt, chiến lược quy hoạch sử dụng quỹ đất và thủ tục kiểm tra. HEFCE (2001) gần đây đã ban hành một số hướng dẫn “cải thiện tiếp cận vào các khu hay tòa nhà đại học.” Điều này nhằm để thông tin cho các trường đại học cần lưu ý đến xu thế cải thiện việc tiếp cận vào khu đất hay trong tòa nhà cho sinh viên và nhân viên khuyết tật dễ đi lại và sử dụng. Họ phải điều chỉnh quy hoạch hiện tại và dự tính cho cả quy hoạch trong tương lai.  


    Back to Chapter index
    6.2.12. Tổ chức đánh giá chất lượng

    Tổ chức này đã phát hành “Chuẩn thực hành đảm bảo chất lượng tiêu chuẩn trong trường đại học cho sinh viên khuyết tật” (QAA, 1999). Dựa trên các nguyên tắc cơ bản về chính sách, quy trình và hoạt động. Các cơ quan giáo dục phải xem xét đến các phương tiện khác có thể giúp sinh viên khuyết tật tham gia đầy đủ các hoạt động học tập và xã hội trong nhà trường. Điều này phải có trong chiến lược phát triển và điều phối nguồn lực trong cơ quan. Sinh viên khuyết tật phải tiếp cận được với những hoạt động thực nghiệm như chúng bạn và có nguồn hỗ trợ thích hợp như là điều kiện cốt lõi và rộng rãi chứ không phải chỉ là một phần phụ thêm vào.   Chuẩn này không có ý như là bản tuyên bố dành cho NKTật hay một cẩm nang hướng dẫn thực hành tốt nhất, nhưng nó đặt ra những tiêu chuẩn để các nhà trường biết nhắm đến cái đích phải thực hiện và là một công cụ hữu ích để giúp nhà trường xác định thiếu sót ở khâu nào.  Kết quả là, vấn đề về khuyết tật hiện nay được Tổ chức đánh giá chất lượng đưa vào bảng khảo sát chất lượng giảng dạy và học tập ở các trường đại học.


    Back to Chapter index
    6.2.13.

    Một lần nữa, nhà quản lý thư viện phải cân nhắc các dịch vụ thư viện liên hệ như thế nào đến 24 điểm trong bộ chuẩn đó. Bao gồm: môi trường vật lý; thông tin đến sinh viên; sinh viên và nhân viên nhà trường, tuyển chọn sinh viên, đăng ký học; thủ tục hướng dẫn sinh viên; học tập; giảng dạy và nghiên cứu; thi cử; quá trình đánh giá và thực hiện; phát triển nhân sự; các trang thiết bị chung và trang bị hỗ trợ; tiếp thu đóng góp ý kiến; tổng kết và đánh giá. Chuẩn nhấn mạnh vào tầm quan trọng của một số vấn đề: thiết lập chính sách, quy trình, chiến lược phát triển, phân bố nguồn lực, đảm bảo tiếp cận vào môi trường vật lý; cung cấp các dịch vụ truy cập được để có thể hướng dẫn và hỗ trợ việc học tập; xây dựng nhận thức và tập huấn phục vụ người khuyết tật cho toàn thể nhân viên.


    Back to Chapter index
    6.2.14. Giáo dục tiếp tục

    Nhiều năm qua, Hội đồng Quỹ Giáo dục tiếp tục phân phối tài trợ cho sinh viên khuyết tật hay người gặp khó khăn trong việc học, nhằm để xác định nhu cầu nhân sự, nguồn lực cần thiết giúp các sinh viên có thể theo đuổi chương trình học mà không bị phân biệt. Nguồn tài trợ dựa vào bảng đánh giá nhu cầu và tuyên bố của nhà trường trong Hợp đồng nhập học với sinh viên. Chi phí khoản này được thỏa thuận theo cơ chế hỗ trợ bổ sung của FEFC. Vì thế, ngày càng có nhiều trường cần nhân viên chuyên gia có phận sự xác định việc hỗ trợ nhu cầu của sinh viên với nhiều dạng khuyết tật khác nhau trong đó có cả người khiếm thị. Các nguồn lực vật lý như công nghệ hỗ trợ có thể được tính vào nguồn lực của thư viện/ trung tâm học liệu để chuẩn bị cho các sinh viên trong tương lai. Cung cấp nguồn lực và hỗ trợ nhu cầu của sinh viên khiếm thị cần phải kết hợp với dịch vụ sinh viên, dịch vụ nguồn lực học tập dịch vụ hỗ trợ sinh viên và người hướng dẫn sinh viên.

     

    Có một số cách trong đó chất lượng và khung đánh giá giám sát có ảnh hưởng đến nhu cầu giáo dục của sinh viên khuyết tật hay có khó khăn trong học tập. Một số nguyên tắc được chú trọng như sau:

     

    a)  cơ hội bình đẳng tiếp cận vào việc học tập tốt hơn.

    b)  một chương trình giảng dạy hòa nhập, đảm bảo khả năng truy cập và cơ hội.

    c)  nhu cầu học tập cá nhân có thể được dự báo chính xác.

    d)  nhân viên cần có kiến thức và hiểu biết về khái niệm của việc học tập hòa nhập.

     

    Ở Anh, Hội đồng Kỹ năng Học tập đã xác lập nội dung mới cho ra bảng đánh giá giám sát chung. Ở Scốtlen, Hội đồng Quỹ giáo dục tiếp tục và ở xứ Wales thì có Hội đồng Giáo dục và Đào tạo và ở Bắc Ailen thì có Ban Điều hành Bắc Ailen Trên khắp Vương quốc Anh, Tổ chức đào tạo giáo dục tiếp tục đã xác lập tiêu chuẩn giảng dạy và cho các nhân viên khác có đủ phẩm chất cơ bản để cùng hỗ trợ cho cả hệ thống giảng dạy và học tập.


    Back to Chapter index
    6.2.15. Tiêu chuẩn thư viện công cộng

    Khu vực TVCC, chính phủ phát triển một khung chặt chẽ hơn để cải thiện và giám sát chất lượng dịch vụ. Tất cả nhà quản lý thư viện được yêu cầu lập kế hoạch thư viện hàng năm hay chương trình 3 năm. Trong kế hoạch, cần làm rõ chính sách và chương trình công tác để phát triển dịch vụ cho NKTật trong đó có người khiếm thị.  Kế hoạch năm đề ra các tiêu chí để đánh giá, trong đó chú ý đến các chính sách hòa nhập xã hội của chính phủ đề ra.


    Back to Chapter index
    6.2.16.

    Để có hiệu quả, những bảng đánh giá này cần dựa trên các tiêu chuẩn đã được thông qua. Báo cáo khảo sát của LISU về dịch vụ thư viện cho người khiếm thị (Kinnell et al, 2000) trình bày hàng loạt các dịch vụ này, và cho những đặc điểm cụ thể và rõ ràng.


    Back to Chapter index
    6.2.17.

    Chính phủ hiện nay đã định nghĩa những điều mà độc giả có thể chờ đợi, và những gì mà nhà quản lý địa phương phải cung cấp theo hướng dẫn trong tập ấn bản tiêu chuẩn quốc gia đầu tiên của DCMS (2001), có hiệu lực thực thi từ tháng 4 năm 2001. Quốc hội xứ Wales cũng đã ban hành hàng loạt các tiêu chuẩn yêu cầu các dịch vụ thư viện cho người khuyết tật được quy định rõ ràng và cụ thể hơn trong tiêu chuẩn của DCMS. Nội dung của các tiêu chuẩn này và hiện trạng vấn đề này tại Scốtlen và Bắc Ailen sẽ được trình bày trong chương 16.


    Back to Chapter index
    6.2.18. Giá trị tốt nhất

    Khung “Giá trị tốt nhất” của chính phủ (DETR, May 2000) cũng yêu cầu các nhà chức trách trách địa phương thực hiện các cuộc đánh giá cơ bản về tất cả các lĩnh vực trong dịch vụ và chi tiêu. Những đánh giá này nhằm để xem lại cách thức dịch vụ hiện nay được phân phối thế nào, so với những công tác cơ bản trong lĩnh vực này mà những nơi khác thực hiện và những chỉ định phát triển trong khu vực, tham khảo ý kiến của tất cả các thành viên quản trị và nêu lên được tính đặc trưng của dịch vụ của mình. Việc tham khảo ý kiến là yếu tố chính, và phải mời cả người chưa sử dụng dịch vụ thư viện cũng như các độc giả.  Điều này đặc biệt quan trọng đối với người khiếm thị, vì nhiều việc cần được đưa vào các dịch vụ TVCC hòa nhập.

     

    Khung này cũng nhắm vào việc lập một hệ thống thanh tra giám sát độc lập để định ra chất lượng cũng như số lượng dịch vụ mà các nhà chức trách địa phương thực hiện.


    Back to Chapter index
    6.2.19. Hòa nhập xã hội

    Ngày càng có nhiều tiêu chuẩn quốc gia và chủ trương hoà nhập xã hội. Các thư viện từ lâu đã tranh cãi là họ phục vụ cho tất cả hay là họ đóng vai trò chính để phát triển một xã hội hòa nhập. Báo cáo của DCMS đã làm rõ việc này “Thư viện dành cho mọi người: hòa nhập xã hội trong TVCC” (DCMS, October 1999) và tuyên bố của LIC “Thư viện: bản chất của sự hòa nhập” (LIC, March 2000). Học tập suốt đời cũng được xem là việc chính của việc hòa nhập xã hội, để có khả năng để làm việc,để cạnh tranh, để làm công dân tốt, và hưởng thụ được nền di sản văn hóa và tri thức. Nếu không, thật sự sẽ có một hiểm họa đang đe dọa vì sẽ có một sự hình thành tầng lớp hạ lưu trong xã hội, trong đó có người khiếm thị vốn là những người bị loại khỏi việc tiếp cận thông tin và kiến thức, và trong xã hội ngày nay hình thành một khoảng cách biệt lớn giữa những người giàu và nghèo kiến thức.


    Back to Chapter index
    6.2.20. Thời đại tri thức

    Khái niệm học tập suốt đời vì thế hiện nay đang ở hàng đầu trong chính sách của nhà nước và sẽ là vấn đề ngày càng quan trọng trong mục tiêu phục vụ của ngành thư viện. Sách xanh, bàn về “thời đại tri thức” (D.f.E.E, 1998), đã đưa ra cam kết của chính phủ về vấn đề “tri thức cho cuộc sống”, xác định tầm quan trọng của việc giáo dục thường xuyên và nuôi dưỡng trí tưởng tượng và tâm hồn cho người dân”, và xây dựng một nền văn hóa học tập vì sự tiến bộ của xã hội. Hỗ trợ cho việc học tập suốt đời và văn hóa học phải công bằng, và người khuyết tật có thể đề nghị nhiều cách thức phục vụ khác nhau để tiếp cận và sử dụng nguồn lực thư viện và thông tin.


    Back to Chapter index
    6.2.21. Mạng giáo dục quốc gia

    Cụ thể là vào năm 2002, N.G.f.L (D.f.E.E, 1997) định thành lập một mạng học tập tòan quốc dạng web cho học viên, các nhà giáo dục và nguồn lực, liên kết các trường và thư viện Anh quốc. Để việc này trở thành một chủ trương thật sự của quốc gia, các khó khăn trong vấn đề truy cập đối với người gặp khó khăn trong việc đọc chữ in phải được kể  đến.


    Back to Chapter index
    6.2.22. Mạng lưới cho mọi người

    Thành lập một mạng lưới học tập quốc gia liên kết các TVCC ở Anh quốc là điểm khuyến nghị chính trong báo cáo “Thư viện mới: mạng lưới của tòan dân” (L.I.C, 1997) của Ủy ban Thông tin Thư viện. Mục đích này sau đó được đưa vào báo cáo “Xây dựng mạng lưới thư viện mới” (L.I.C, 1998). Những dịch vụ chủ yếu sẽ gồm: giáo dục và học tập suốt đời, cung cấp thông tin cho công dân và tạo điều kiện để họ tham gia vào xã hội; điều kiện kinh doanh và phát triển kinh tế; huấn luyện và việc làm; tiện nghi để nghiên cứu lịch sử địa phương; và thư viện số quốc gia. Hiện nay đã có sự đầu tư đáng kể để hình thành mạng liên kết, tạo lập nội dung số hóa và xây dựng đội ngũ nhân viên CNTT đầy đủ năng lực làm việc. Sự nhấn mạnh ở đây là vì nhu cầu của người khiếm thị. Báo cáo đề nghị những người thiết kế giao diện phải cho người khiếm thị được truy cập độc lập vào nhiều nguồn thông tin rộng rãi vốn dĩ hiện nay không phục vụ cho họ, và phải cung cấp tiện nghi sử dụng công nghệ hỗ trợ như nhận dạng giọng nói, phần mềm đọc nhân tạo, phóng đại màn hình, trình bày dạng chữ lớn hay chữ Braille. 


    Back to Chapter index
    6.3.1.

    Bất cứ dịch vụ thư viện nào cũng phải có chính sách cung cấp dịch vụ cho những người khuyết tật và gặp khó khăn nào đó trong việc học của họ và chính sách phải tuyên bố cụ thể về những yêu cầu thực hành phục vụ người mù và khiếm thị. Điều này sẽ liên quan đến chính sách phục vụ NKTật của cơ quan tổ chức và sẽ là phần không thể thiếu khi xây dựng chiến lược phát triển. Rất cần thiết để bàn bạc về chính sách phát triển trong giới quản lý cao cấp trong ngành thư viện, và những tranh luận sẽ dễ dàng tác động đến thái độ của họ, hiểu biết và quyết định chọn lựa thứ hạng ưu tiên phát triển và trong vấn đề phân bổ các nguồn lực.


    Back to Chapter index
    6.3.2.

    Chính sách còn phải dựa trên nguyên tắc đối xử công bằng và bình đẳng cho tất cả NKTật và yêu cầu gắn với thực tiễn công tác, bao gồm cả thứ tự ưu tiên trong các dịch vụ cho người khiếm thị. Nhà quản lý cần xây dựng văn hóa nhận thức về NKTật và tính đến việc cung cấp dịch vụ truy cập được trong thư viện


    Back to Chapter index
    6.3.3.

    Chính sách yêu cầu cần có các yếu tố quan trọng sau:

     

    a)  trình bày về NKTật và các chuẩn thực hành;
    b)  đánh giá nhu cầu;
    c)  đưa vấn đề NKTật vào kế hoạch phát triển;
    d)  cung cấp tài chính, giải trình và hỗ trợ quản lý;
    e)  liên kết với các đội nhóm NKTật trong đơn vị và các cơ quan khác;

    f )  người được phân công phối hợp hoạt động phục vụ NKTật trong thư viện;
    g)  trách nhiệm của tòan thể nhân viên;
    h)  cam kết cung cấp thông tin, trợ giúp và tư vấn;
    i)   tập huấn nhân viên, kể cả nhận thức về NKTật;
    j)   giao tiếp với NKTật;
    k)  điều kiện tiếp cận vào tòa nhà và sử dụng dịch vụ thư viện;
    l)  công nghệ hỗ trợ;
    m)  xây dựng vốn tài liệu chuyển dạng;
    n)  mở rộng giờ phục vụ;
    o)  truy cập máy tính và mạng Internet;
    p)  thúc đẩy và quảng cáo dịch vụ;
    q)  tạo các bảng hướng dẫn và trợ giúp dưới hình thức văn bản chuyển dạng;
    r)  thu thập thông tin quản lý người khuyết tật;
    s)  kiểm tra, kiểm sóat và phản hồi về chất lượng dịch vụ;
    t)  đánh giá chính sách và dịch vụ.


    Back to Chapter index
    6.3.4.

    Lý tưởng là chính sách phải nêu bật được các thực hành tốt nhất, nhưng cũng phải đảm bảo có giá trị thực tiễn và khả thi, nhận biết các hạn chế hiện tại, khả năng tài chính và cách thức thay thế để hỗ trợ phục vụ độc giả. Ví dụ, nếu độc giả khuyết tật không thể tiếp cận một thư viện nào đó trong  một giai đoạn nào đó, thì sách phải được chuyển đến một thư viện dễ tiếp cận hơn. Mặc dù khuyến khích người sử dụng tự phục vụ, nhưng chính sách có thể phải chỉ định trợ giúp càng nhiều  thì càng tốt cho người khiếm thị vì một số dịch vụ đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhân viên thư viện.


    Back to Chapter index
    6.3.5.

    Kế hoạch và mục đích hàng năm đối với dịch vụ cho Người khuyết tật phải được thể hiện trong chính sách của thư viện.


    Back to Chapter index
    6.3.6.

    Chính sách phải được thường xuyên xem xét. Đặc biệt là do ảnh hưởng của những thay đổi trong cộng đồng người sử dụng, chính sách phát triển quốc gia, hòan cảnh của địa phương, khả năng nguồn lực, tiến bộ của trang thiết bị, và kinh nghiệm tích lũy trong quá trình phục vụ người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.3.7.

    Báo cáo của Ủy ban Thư viện Thông tin  về “Dịch vụ TVCC dành cho người khiếm thị” (Kinnell và nh.ng.khác, 2000) khuyến nghị là các nhà quản lý TVCC phải có chính sách rõ ràng về các dịch vụ cho người khiếm thị và coi như là một phần trong chính sách hòa nhập xã hội của giới chức trách địa phương về và sự tuân thủ các điều khoản của Đạo luật chống phân biệt đối xử Người khuyết tật. Cũng phải chú trọng vào việc xác định nhu cầu, thúc đẩy dịch vụ và xây dựng đội ngũ cộng tác viên trong lĩnh vực phục vụ người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.3.8.

    Ở Anh, các dịch vụ thư viện quốc gia không phải do chính phủ cấp kinh phí, và các dịch vụ hợp tác trong lĩnh vực này bước thụt lùi so với các quốc gia khác. Brophy and Craven (1999b) nói đến chính sách chung của quốc gia với một số tiêu chuẩn đảm bảo độc giả có thể sử dụng bất cứ thư viện nào, dù là TVCC hay thư viện trường đại học, và đảm bảo mức độ phục vụ của các dịch vụ đều sẵn sàng và họ có thể sử dụng các trang thiết bị được cung cấp.


    Back to Chapter index
    6.3.9. Đảm bảo chất lượng

    Nhà quản lý phải thiết lập một mô hình đảm bảo chất lượng phục vụ người khiếm thị mà nó còn phải thống nhất với chất lượng dịch vụ chung. Khi lập các tiêu chuẩn để phù hợp với nhu cầu của địa phương, cũng cần tham khảo ý kiến người sử dụng và đưa họ thâm nhập vào công tác. Hướng dẫn hoạt động thư viện là rất quan trọng vì nhờ nó mà mọi người trong thư viện biết là họ sẽ có cái gì và họ có thể tận dụng tối đa nguồn hỗ trợ có thể có được. Cũng rất quan trọng để có cơ chế nhận được sự phản hồi của người khuyết tật, thậm chí còn quan trọng hơn nữa để lắng nghe các góp ý hay trả lời các ý kiến phản hồi đó.  Truy cập vào dịch vụ có thể là yếu tố chính của các thư viện dựa trên những đánh giá về biểu hiện và không được xem nó là yếu tố phụ. Mô hình chất lượng bao gồm:

     

    a) người liên lạc giữa thư viện và cộng đồng;
    b) cấp độ và tiêu chuẩn dịch vụ;
    c) chỉ tiêu kế hoạch;
    d) giám sát;
    e) giải trình việc thực hiện;
    f) đọc và trả lời góp ý của người sử dụng;
    g) diễn đàn của người sử dụng;
    h) lập bảng khảo sát;
    i) đánh giá mức độ thực hiện;
    j) trả lời thư góp ý dưới dạng văn bản thay thế;
    k) bảng điểm chuẩn.


    Back to Chapter index
    6.3.10. Ngân sách

    Nhà quản lý phải phân bố nguồn kinh phí thích hợp để tổ chức được các dịch vụ và chính sách đề ra. Thật sự, Kinnell (2000) đề nghị các thư viện khi chi tiêu cả hàng ngàn cho dịch vụ của người khiếm thị phải đưa vào số liệu thống kê. Nhng khoản chi tiêu tương tự cho sinh viên khuyết tật có thể cũng là một điểm biểu hiện trong việc giáo dục đại học và sau đại học. Brophy và Craven (1999a) báo cáo phân bổ ngân sách hiện nay từ £500 đến £30,000 để mua sắm trang thiết bị, tập huấn đặc biệt, chi phí ban đầu và cho những việc chỉ đầu tư một lần. Trong khi chi phí trích t kinh phí của thư viện, một số thư viện phải tìm thêm nguồn tài chính khác phụ thêm để phát triển các dịch vụ hỗ trợ hay mua thêm trang thiết bị, thường là từ các tổ chức từ thiện hay hội đồng quỹ phát triển là những nguồn ngoại lực có thể có.


    Back to Chapter index
    6.3.11.

    Một vấn đề trong chính sách như việc thành lập các bộ phận chuyên biệt trong các trường đại học. Brophy (1999) báo cáo là việc cung cấp dịch vụ hiệu quả cho nhân viên và sinh viên mù và khiếm thị ở chương trình đại học gần như luôn được xây dựng theo hướng lập thành những bộ phận nhỏ nhưng chuyên biệt với những nhân viên phục vụ nhiệt tình. Tuy nhiên, tác giả cũng cho biết cách thức này bộc lộ một số điểm bất lợi. Đầu tư cao khi thành lập một bộ phận riêng thì thường kém bắt nhịp với những phát triển mới và không đáp ứng được số lượng người khiếm thị sử dụng thư viện ngày càng tăng, đặc biệt là để xây dựng văn hóa học tập suốt đời. Những phát sinh trong công việc phải được các nhà chức trách TVCC cân nhắc để đưa vào chính sách và chúng không phải là chuyện đơn giản, dễ quyết định được. Các chính sách phải đáp ứng cho người sử dụng hiện tại và đối với cả lượng khách tiềm năng nên việc tham khảo ý kiến là điều cần thiết phải có. Cách phục vụ chung hay tổ chức thành bộ phận chuyên biệt đều có thể tiến đến một dịch vụ hiệu quả.


    Back to Chapter index
    6.4.1.

    Nhà quản lý phải nghiên cứu số liệu thống kê người khiếm thị đến thư viện, nhớ là bất cứ số liệu nào cũng phải là những con số thực. Một cuộc đánh giá phải cho biết số lượng độc giả người khiếm thị, nhu cầu của họ, các khó khăn và độ thỏa mãn với dịch vụ thư viện.  Quan trọng là hiểu được nguyên nhân, đặc điểm và nhu cầu của họ, và Chương 4 trình bày một số yếu tố và thách thức đối với NKthị. Dựa vào bảng đáng giá nhu cầu của họ, nhà quản lý có thể phân định cấp độ dịch vụ được yêu cầu và phân chia nguồn lực cần thiết.


    Back to Chapter index
    6.4.2.

    Các đánh giá này phải có cả phần liên lạc với các cơ quan bên ngòai, như Trung tâm đánh giá hay RNIB, và trong cơ quan nên phối hợp với bộ phận phụ trách người khuyết tật, dịch vụ cho sinh viên, trưởng bộ môn và các phòng ban khác. Trong cơ cấu địa phương, các cơ quan tổ chức sẽ có Dịch vụ xã hội, ban NKTật/ Cơ hội bình đẳng, và các nhóm tình nguyện địa phương. RNIB gần đây đã xuất bản một bảng phân tích từ cuộc khảo sát trên 1000 người khiếm thị được gọi là “Tiếp cận thông tin văn bản” (Bruce và Baker, 2001), cho một nền kiến thức có giá trị đối với các nhà quản lý.


    Back to Chapter index
    6.4.3.

    Gần như không thể có được các số liệu thống kê đáng tin cậy về số ngưi mù và khiếm thị ở chương trình đại học (Brophy và Craven, 1999a). Theo ước tính của R.N.I.B, một trường đại học điển hình ở Anh quốc có 15,000 sinh viên thì có thể phục vụ khoảng 75 người khiếm thị (tỷ lệ 1/200). Nhiều người khiếm thị không đăng ký là người khuyết tật và không muốn có nhiều người biết họ là người khiếm thị. Họ có thể gặp khó khăn khi sử dụng dịch vụ thư viện mà thủ thư không nhận ra điều này. Thực tế cho thấy nhu cầu người khiếm thị sử dụng thư viện ngày càng đông, điều này đơn giản chỉ cần dựa theo số lượng tổng sinh viên tăng.


    Back to Chapter index
    6.4.4.

    Ước tính nhóm người trong tuổi lao động của Anh quốc có khoảng 18% là NKTật (European Union. Eurostat, 1998), và một số khu vực ở Đông bắc, NKTật nhiều đến 20%. Ở trường đại học Anh quốc, khoảng 3.9% sinh viên đăng ký trong 1999/2000 có nói rõ những khó khăn cụ thể của họ trong khi học hay đăng ký là người khuyết tật. Trường đại học Sunderland có số người khuyết tật chiếm đến 6.7% tổng sinh viên. Cứ 760 sinh viên nhập học thì có 23 sinh viên khiếm thị và hơn 30 sinh viên đa khuyết.  Phải nhớ là có rất nhiều lý do để chỉ có một nửa sinh viên khuyết tật quyết định khai báo khuyết tật của mình khi đăng ký nhập học.


    Back to Chapter index
    6.4.5.

    Nhà quản lý phải nhận thấy các rào cản văn hóa hay tâm sinh lý có thể ngự trị cảm xúc của bản thân người khuyết tật cảm giác mình xa lạ trong cộng đồng độc giả. Nhiều người khiếm thị không biết thư viện có các dịch vụ mà họ có thể sử dụng được, và sinh viên khi vào học đại học thì ít hay không biết hề biết gì về quyền lợi, các quỹ tài trợ hay công nghệ hỗ trợ và kế hoạch học tập.


    Back to Chapter index
    6.4.6.

    Những rào cản vật lý không cần thiết có thể dễ dàng làm cho người khiếm thị không sử dụng thư viện hay thậm chí ngăn cản họ quay trở lại sử dụng.


    Back to Chapter index
    6.4.7.

    Mặc dù khu vực này có nhiều tiến bộ đáng kể để có thể đáp ứng nhu cầu người sử dụng, sự phản hồi từ sinh viên khuyết tật trong trường đại học nhắc nhở chúng ta cần làm gì thêm. Điển hình cho các ý kiến đóng góp của họ là:

     

    a) thiếu hiểu biết về ảnh hưởng của khuyết tật của họ đến việc học hành trong nhà trường;
    b) Trong lúc giảng bài hay thi cử, họ bị coi như ở loại “khuyết tật”;
    c) được tư vấn tránh chọn các môn họ mà có thể bị ảnh hưởng do các khuyết tật của họ;
    d) nghi ngờ về khuyết tật của họ;
    e) hỗ trợ không đầy đủ;
    f) gây khó khăn hay trễ nãi khi trợ giúp và hướng dẫn;
    g) phản hồi không đồng bộ trong nhà trường;
    h) điều kiện tiếp cận vào tòa nhà hay giao thông đi lại bị trở ngại.


    Back to Chapter index
    6.4.8.

    TVCC cũng phải nhận ra nhu cầu của độc giả và cả những người chưa sử dụng dịch vụ của người khiếm thị, và họ nên cho điều tra khảo sát nhu cầu mức độ của người sử dụng. Hướng dẫn của Tổ chức Share the Vision/Hiệp hội thư viện (Machell, 1996) là phải hình thành những mức cơ bản để đánh giá dịch vụ cho người khiếm thị (Kinnell và nh. ng. khác, 2000). Tất cả số liệu thống kê thường đánh giá thấp nhu cầu, nhưng ước tính về người khiếm thị có thể đọc ở chương 5, và Phụ lục A 1 cung cấp các số liệu trong từng khu vực.


    Back to Chapter index
    6.5.1.

    Tầm quan trọng của việc trang bị và thúc đẩy sử dụng dịch vụ thư viện được trình bày ở các chương phần khác trong quyển cẩm nang này. Thực sự mà nói đây là một thách thức lớn đối với các nhà quản lý và giới chuyên môn tham gia vào công tác quy hoạch và thiết kế các loại thư viện và các trung tâm học liệu. Các chuyên gia trong lĩnh vực này, kể cả Hội thư viện, tổ chức Share the Vision và Hội thư viện Hoa Kỳ cũng đã cung cấp các hướng dẫn và khuyến nghị.  


    Back to Chapter index
    6.5.2.

    Nhà quản lý phải nhận thức đủ về tầm quan trọng của việc tiếp cận vào tòa nhà hay đường giao thông di chuyển bên trong khi thiết kế và quy hoạch thư viện. Những rào cản không cần thiết cho người khiếm thị có thể dễ dàng mà thường là vô ý tạo ra thì có thể gây cản trở hay thậm chí làm họ chối bỏ cả cơ hội sử dụng các dịch vụ. (Xem Chương 12).


    Back to Chapter index
    6.5.3.

    Nói về việc trình bày các dịch vụ, nhà quản lý thư viện phải quyết định về cách phân phối việc sử dụng các thiết bị hỗ trợ. Có thể đặt chung với các dịch vụ khác hoặc để trong một khu vực riêng biệt. Quan điểm giữa các cán bộ thư viện và độc giả khiếm thị có thể khác nhau, vì thế mà phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần khi lập kế hoạch cần phải tham khảo ý kiến người sử dụng.


    Back to Chapter index
    6.5.4.

    Những điều chỉnh hợp lý để tăng cường việc hỗ trợ theo yêu cầu của DDA Phần III (Great Britain. Đạo luật, 1995) có nói:

     

    a) chú ý đến quy hoạch bãi và chỗ đậu xe;
    b) cải thiện cửa ra vào;
    c) chú ý các chi tiết bên trong như cửa, tay vịn cầu thang, bậc tam cấp, và thang máy;
    d) chú ý đến việc phối màu, ánh sáng và bảng hiệu;
    e) cung cấp cửa sổ và nhà vệ sinh cải tiến và điện thoại;
    f) chú ý sàn nhà và thảm;
    g) thiết kế khu vực tiếp tân;
    h) chú ý đến biện pháp an tòan.


    Back to Chapter index
    6.6.1.

    Nhà quản lý phải cung cấp nhiều dịch vụ thích hợp cho độc giả khiếm thị như bao độc giả khác, họ cũng có nhiều cách học và yêu cầu cách sử dụng thông tin khác nhau, và họ phải được tự do chọn lựa cách sử dụng dịch vụ. Nhà quản lý phải nhận ra là người khiếm thị có thể không sử dụng được một số dịch vụ nào đó, và phải có sự sắp xếp hay dùng những hình thức thay thế. Tiếp xúc với độc giả và các cộng sự làm việc hiệu quả trong các tổ chức địa phương và quốc gia là những điều quan trọng để cùng nhau phối hợp cung cấp dịch vụ cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.6.2.

    Dịch vụ nên được lập kế hoạch một cách hòa hợp, nhà quản lý nên tự động đưa trước dịch vụ cho người khiếm thị vào hơn là chỉ đưa vào một cách cưỡng ép sau khi đã quy hoạch xong. Như đã nói, dịch vụ cho người khiếm thị thường yêu cầu sự chú ý cụ thể, có kế hoạch và có kinh phí để làm. Cũng như để thúc đẩy sự nhận thức tổng quan về người khuyết tật, kế hoạch phát triển dịch vụ phải luôn gắn với việc tập huấn nhân viên, xây dựng vốn tài liệu, hình thức tài liệu, trang thiết bị và dự án.


    Back to Chapter index
    6.6.3.

    Thư viện phải cân nhắc việc sắp xếp cho người khiếm thị đăng ký và cũng như cách tiếp cận đăng ký thẻ.  Một số thư viện phát hành thẻ ghi nhận lại bản chất của khuyết tật và chỉ ra các hình thức dịch vụ được yêu cầu và cấp độ sử dụng dịch vụ đó thế nào.


    Back to Chapter index
    6.6.4.

    Dịch vụ điển hình cho người khiếm thị có thể bao gồm tra cứu mục lục và tìm kiếm tài liệu; cung cấp các tờ hướng dẫn, chỉ dẫn ở dạng chữ lớn, trên đĩa, băng tiếng, và cả trên web; dịch vụ giới thiệu sách; dịch vụ sao chụp tài liệu; và các chỗ ngồi học độc lập. Một số thư viện còn cung cấp dịch vụ chuyển dạng tài liệu; đăng ký đọc cá nhân, sử dụng máy ghi âm ghi chú; máy đọc; và hệ thống phóng đại chữ. Những thư viện khác có nhân viên chuyên nghiệp có thể hướng dẫn độc giả mù và khiếm thị và các độc giả làm công tác tình nguyện. Nhiều độc giả sẽ có ích lợi từ dịch vụ tự phục vụ mới như gia hạn hay đặt sách trước qua điện thoại, fax, hay thư điện tử, nhưng có nhiều vấn đề liên quan đến việc thiết kế công nghệ tự phục vụ cho người khiếm thị và các độc giả khuyết tật khác. 


    Back to Chapter index
    6.6.5.

    Công nghệ hỗ trợ như CCTV (để phóng to văn bản hay hình ảnh), máy quét với hệ thống phóng to hay phát âm, tạo chữ nổi, chữ lớn, đồ họa nổi hay hệ thống đọc văn bản, máy cassette, bàn phím với kích thước ký tự lớn, phần mềm đọc màn hình, chuyển văn bản sang phần đọc hay phần nhận dạng chữ, phóng to màn hình, và nhận dạng.


    Back to Chapter index
    6.6.6.

    Công nghệ hỗ trợ được cung cấp cho người khuyết tật, đôi khi có thể chỉ cho phép người khuyết tật mới sử dụng với mật khẩu riêng của họ. Điều này đảm bảo cho người khuyết tật có thể sử dụng thiết bị khi họ cần đến và ngăn bớt tình trạng sử dụng nhầm mục đích.


    Back to Chapter index
    6.6.7.

    Nhà quản lý phải đảm bảo nhu cầu của người khuyết tật được gắn với kế hoạch phát triển dịch vụ ứng dụng CNTT. Công nghệ truyền thông thông tin là một công nghệ hỗ trợ và quan trọng có thể đáp ứng các dịch vụ giúp NKTật vượt qua nhiều rào cản về khoảng cách cũng như về thời gian. Ví dụ, truyền trực tiếp các bài giảng cho sinh viên khuyết tật, mà hôm đó họ bị ốm hay bị đau nhưng họ vẫn có thể học từ nhà hay từ bất cứ một nơi nào khác. Có một số vấn đề về việc thiết kế và xây dựng hệ thống điện tử. Liên hiệp Mạng tòan cầu (W3C) cam kết đẩy mạnh tính tiện dụng sử dụng web đạt mức độ cao cho NKTật. Ban đề xướng khả năng truy cập web (WAI) tìm cách cải thiện khả năng truy cập web qua năm lĩnh vực chính: công nghệ; hướng dẫn; công cụ, giáo dục- đào tạo- tập huấn- mở rộng, và nghiên cứu phát triển. Nhà quản lý cũng phải xem xét việc cải thiện mạng phần mềm chuyên dụng vì hiện chỉ có ít hơn ¼ được sử dụng trong mạng lưới phục vụ. Hơn cả của việc tăng cường truy cập, một số hệ thống điện tử còn giải quyết được các khó khăn đối với người khiếm thị. CNTT còn giúp nhân viên thư viện hỗ trợ nhu cầu sử dụng thông tin của sinh viên khuyết tật.  


    Back to Chapter index
    6.6.8.

    TVCC phải cung cấp công nghệ mới cập nhật để đảm bảo tính truy cập bình đẳng cho tất cả mọi người. CNTT và trang thiết bị hỗ trợ đọc ngày càng quan trọng như phương tiện truy cập thông tin cho người khiếm thị.  Hướng dẫn của Tổ chức Share the Vision/Hội thư viện (Machell, 1996) đưa ra các dịch vụ cơ bản phải đáp ứng. Kế hoạch hàng năm phải có mục tiêu và TVCC phải đưa ra số liệu thống kê về sử dụng công nghệ hỗ trợ tính trên bình quân 1000 người dân (Kinnell và nh. ng. khác, 2000).


    Back to Chapter index
    6.6.9.

    Để đem lại sự công bằng cho nhiều loại khuyết tật hay đa khuyết có thể đặt ra nhiều thử thách cho nhiều khâu công tác từ nâng cao nhận thức, tập huấn nhân viên và công tác phục vụ. Khổ thay, có khi một giải pháp cho một người này lại làm khó cho người khác, đặc biệt là trường hợp của một người mà bị nhiều khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.6.10.

    Theo Đạo luật Chống Phân biệt đối xử Khuyết tật ở Phần III (Great Britain. Đạo luật, 1995) và Đạo luật Khuyết tật và Nhu cầu học đặc biệt (Great Britain. Đạo luật,  2001), đã có nhiều cuộc tranh luận đáng nói về các bước cần thiết để phục vụ NKtật. Các bước đó nhà quản lý phải xem xét để đưa vào cho hợp lý:

     

    a) lưu hành sách giữa các thư viện

    b) tìm dùm và lấy sách từ trên kệ xuống cho độc giả
    c) cung cấp dịch vụ gửi tài liệu qua đường bưu điện
    d) tập huấn nhân viên sử dụng công nghệ phục vụ người khiếm thị.

    e) cung cấp dịch vụ điện tử tại chỗ

    f) cung cấp dịch vụ đến nhà, chỗ làm, ở trung tâm học liệu hay một nơi thuận tiện tùy theo cách học của sinh viên.

     

    Chi tiết tham khảo ở Chương 3.


    Back to Chapter index
    6.7.1.

    Chính sách xây dựng vốn tài liệu của thư viện phải có phần dành cho tài liệu chuyển dạng để đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị, (sách báo tạp chí chữ đại, chữ lớn, tài liệu chữ Braille; Moon; tài liệu nói; hình thức đôi; và nguồn thông tin điện tử). Chương 8 và 9 trình bày chi tiết.


    Back to Chapter index
    6.7.2.

    Để tránh tình trạng khan hiếm tài liệu, thư viện phải cố gắng hoặc mua các tài liệu theo yêu cầu hoặc đảm bảo có thể sử dụng của cơ quan, tổ chức từ thiện hay dịch vụ đặt hàng khác. Dịch vụ đọc cho cá nhân nghe hay chuyển dạng tài liệu cũng là một số trong những biện pháp thay thế.


    Back to Chapter index
    6.7.3.

    Trong bức tranh phức tạp chung, nhà quản lý phải nhìn ra sự quan trọng của việc tạo cho người khiếm thị cơ hội chọn lựa cách thức để đáp ứng nhu cầu học tập của họ. Cũng tránh việc quá nhấn mạnh vai trò của chữ Braille.


    Back to Chapter index
    6.7.4.

    Báo cáo thông tin quy hoạch thành phố về “ phối hợp chọn tài liệu chuyển dạng”  (C.P.I, 2000), khẳng định bản chất của việc chọn lựa rời rạc hay phối hợp trong giới cung ứng và chọn lọc tài liệu chuyển dạng. Nó cũng khuyến nghị  là các nhà quản lý TVCC phải đáp ứng một số vấn đề trong chọn lọc và quản lý tài liệu liên quan đến người khiếm thị:

     

    a) cấp chi phí mua tài liệu tăng ;
    b) có kế hoạch ưu tiên cho nguồn lực;
    c) đánh giá nhu cầu;
    d) phân bổ ngân sách theo tỷ lệ thích hợp để có thể mua tài liệu chuyển dạng theo nhu cầu sử dụng;
    e) chính sách và quy trình chọn tài liệu chuyển dạng;
    f ) đẩy mạnh hình thức tài liệu chuyển dạng, đặc biệt là chữ lớn;
    g) cung cấp dữ liệu cơ bản về chuẩn, kinh phí, mục đích và giám sát dịch vụ;
    h) sử dụng thông tin quản lý để đánh giá và phát  huy tối đa hiệu quả  dịch vụ;
    i) theo hướng dẫn của liên hiệp hay khu vực để thực hiện chọn lựa, mua, vận động sử dụng tài liệu;
    j) Làm rõ trách nhiệm liên quan đến mức độ, chất lượng, và tiếp cận dịch vụ theo DDA;
    k) cộng tác với hội địa phương để phục vụ.


    Back to Chapter index
    6.7.5.

    Trong TVCC, chính sách chọn tài liệu nên đưa vào kế hoạch năm của thư viện và nên cung cấp đủ tài liệu để đáp ứng nhu cầu đọc tài liệu ngoại ngữ, thông tin và phi tiểu thuyết. Nhà quản lý phải cung cấp báo chữ lớn và nói nhiều hơn. (Kinnell và nh. ng. khác, 2000).


    Back to Chapter index
    6.7.6.

    Nhà quản lý thư viện và nhân viên phục vụ phải nhận ra những phát triển mới trong việc mượn tài liệu chuyển dạng liên thư viện. Họ phải xây dựng chính sách rõ ràng khi tham gia mượn liên thư viện quốc gia hay khu vực đối với nguồn tài liệu chuyển dạng dạng in lẫn dạng không in. Nếu hành động thất bại thì sẽ gặp thách thức. (Xem 6.2.6).


    Back to Chapter index
    6.8.1.

    Bản quyền tác giả còn gây ra một số giới hạn cho các dịch vụ mà thư viện phục vụ cho người khiếm thị và người mù mà vấn đề này cần đựơc cải thiện. Nhà quản lý thư viện và nhân viên dĩ nhiên cần nhận ra giới hạn bị khép vào quy định về quyền tác giả vì nó ảnh hưởng đến việc sản xuất và cung cấp tài liệu chuyển dạng. Tuy nhiên trong thế chủ động, họ phải ra sức vận động giới xuất bản đồng ý cấp phép theo tinh thần phục vụ tình nguyện. Luật mới đang được dự thảo, sẽ giới thiệu những quyền mới cho người khiếm thị và cho cả những người đang phục vụ nhu cầu của đối tượng này.


    Back to Chapter index
    6.8.2.

    Đạo luật Bảo vệ phát minh, thiết kế và bản quyền của Anh quốc (Great Britain. Acts, 1998) không tính đến quyền hay nhu cầu của người khuyết tật vốn dĩ đã bị ảnh hưởng đến việc truy cập thông tin. Tài liệu chỉ được cảm nhận sau khi cần chuyển dạng ở dạng thay thế truy cập được với sự cho phép của người có bản quyền hay có phép tái bản. Thư viện có thể biết đây là việc làm rất tốn thời gian và thường là thất bại không được chấp thuận.


    Back to Chapter index
    6.8.3.

    Tình trạng này phần nào đã được giải quyết ổn thỏa theo “Quyền tác giả và hướng dẫn người khiếm thị” (Hội Cấp phép xuất bản, 2001) ban hành vào tháng 10 năm 2001, được đúc kết từ tổ chức tác giả và nhà xuất bản dưới sự chủ trì của Hội cấp phép xuất bản. Những hướng dẫn này cho phép không xét đến việc vi phạm luật bản quyền nếu để cung cấp theo yêu cầu của các cá nhân nào đó, một tác phẩm  được nhân một bản dưới dạng hình thức chuyển dạng. Họ yêu cầu chỉ có người khiếm thị mới có quyền sử dụng hợp pháp bản gốc và hoạt động này phải không được vì mục đích lợi nhuận. Thư viện được đặc biệt chú ý đến vì là một trong những nơi thường hay diễn ra hoạt động này.  


    Back to Chapter index
    6.8.4.

    Hiện nay hoàn toàn có thể cho phép một thư viện đáp ứng yêu cầu của một người khiếm thị bằng cách chuyển một phần hay tất cả bất cứ tài liệu nào trong kho thành dạng mà người sử dụng có thể truy cập được. Nó cũng có giá trị tương đương đối với một người tự làm như thế trong khi học đang mượn tài liệu đó. Có những hạn chế khi mở rộng cho việc các bản sao bị chuyền cho người khác, thư viện nên giữ một bản dạng truy cập được, khi xuất bản, để cung cấp cho một người nào khác nếu họ có yêu cầu. Điều này là một bước cải thiện đáng kể cho tình trạng trước đây.


    Back to Chapter index
    6.8.5.

    Những hướng dẫn này mở rộng cho cả người mù và người chỉ còn thị lực một phần nào hay bất cứ ai mà không cầm giữ sách được hay không thể tập trung mắt vào khi đọc. Tuy nhiên chúng không được mở rộng cho những người gặp khó khăn trong việc học hay người bị chứng khó đọc.


    Back to Chapter index
    6.8.6.

    Văn bản của hướng dẫn này có thể coi như là mang một chút tính pháp lý, và RNIB đã xuất bản một bộ giải đáp “Câu hỏi thường gặp” (RNIB, 2002), với câu trả lời, có thể tìm đọc trên tờ thông tin tháng 2 năm 2002 trên tạp chí “Visibility” và trên website của RNIB ở phần Dịch vụ Thư viện Thông tin.


    Back to Chapter index
    6.8.7.

    Trong lúc đó, cuộc vận động đối với giải pháp luật pháp vẫn tiếp tục diễn ra. Luật bản quyền (Người khiếm thị), những dự thảo của các thành viên được thông qua phê chuẩn lần thứ hai đã được xem qua  tại Hạ viện vào ngày 15 tháng 3 năm 2002 và chính phủ chỉ định các hỗ trợ của nó cho dự thảo này.

     

    Những điều khoản quan trọng của bộ luật có nói :

     

    a) chuyển dạng 1-1 đương nhiên là không vi phạm, nếu thực hiện vì mục đích phi lợi nhuận và không yêu cầu có giấy phép hay bất cứ truy cứu của người giữ bản quyền;

     

    b) việc nhân bản có thể phân phối và cung cấp, nếu có giấy phép nói rõ hình thức dạng tài liệu những hoạt động này cũng phải vì mục đích phi lợi nhuận. Sẽ có kiểm tra rà soát lại mục đích sử dụng tác phẩm để chuyển dạng để đảm bảo luật không bị xâm phạm và các quyền trong luật được thực thi theo đúng trách nhiệm. Sẽ phải khai báo cho người giữ bản quyền số lượng bản sao chép nếu nhiều hơn một bản và nhiệm vụ đối với nơi cấp giấy phép để công bố chi tiết về chương trình đó về một số cơ quan trung ương. Thư viện sẽ là đơn vị nằm trong định nghĩa về các tổ chức phi lợi nhuận để có thể sản xuất được nhiều bản.

     

    Trong khi luật pháp về bản quyền sẽ phải bỏ nhu cầu tìm xin cấp phép, và có thể nhu cầu chỉ tìm đúng một tài liệu nào đó, thủ thư nên nhớ việc quan trọng trong công tác này là phải kiểm tra trước để tránh nhân bản bị trùng lắp.


    Back to Chapter index
    6.8.8.

    Sắc lệnh quyền tác giả của Hội đồng Châu âu về sự hài hòa giữa bản quyền và quyền liên quan nào đó trong xã hội thông tin (Cộng đồng Châu Âu, 1999) cho phép từng thành viên trình bày để đưa ra các trường hợp ngoại lệ của luật bản quyền trong đó có phần được sử dụng vì lợi ích của người khuyết tật trực tiếp liên quan đến người khuyết tật, không vì mục đích thương mại, hay mở rộng do yêu cầu của người khuyết tật.” Tuy nhiên Chính phủ đã có chỉ đạo dưới luật Châu Âu  về việc mở rộng cung cấp tài liệu theo yêu cầu của “người khiếm thị”  nhưng hiện tại thì không có dấu hiệu kế hoạch để làm thế.


    Back to Chapter index
    6.8.9.

    Những rào cản kỹ thuật, không may, thay thế hay tăng thêm phần ràng buộc về mặt pháp lý, khi ngày càng có nhiều tài liệu trực tuyến dưới nhiều hình thức chống sao chép và quản lý quyền số hóa.  Những điều này có thể làm tài liệu không thể được dễ dàng sử dụng những phần mềm đọc màn hình. Thậm chí chức năng đọc của sách điện tử có thể không sử dụng được do bảo mật mức độ cao do nhà xuất bản tạo ra. Sắc lệnh quyền tác giả của Châu Âu trình bày mà thiếu sự đồng ý của các tổ chức tình nguyện, “các nước thành viên phải có những biện pháp thích hợp để đảm bảo cho người giữ bản quyền có được những lợi ích từ những trường hợp ngoại lệ [khác nhau, kể cả tình huống cho thư viện hay cho người khuyết tật]  phương tiện của lợi ích của họ từ trường hợp ngoại lệ đó…nơi mà lợi ích được truy cập hợp pháp vào các tác phẩm có bản quyền hay về các vấn đề liên quan” Cũng dễ dàng có thể thấy là trách nhiệm là do Chính phủ Anh chịu. Khuyến nghị đó phải đưa vào Luật Anh quốc vào ngày 22 tháng 12 năm 2002 nhưng hiện nay bảng duyệt vẫn chưa được ấn hành.


    Back to Chapter index
    6.8.10.

    Dự án SEDODEL (An ninh phân phối tài liệu cho người mù và khiếm thị) (Engelen và nh. ng. khác, 1998) lôi ra các vấn đề liên đới đến bản quyền phân phối tài liệu điện tử và đề nghị biện pháp mới nhưng hệ thống chưa bao giờ thực thi. Liên hiệp DAISY (Hiệp hội quốc tế về tiêu chuẩn sách nói kỹ thuật số, 2000) cũng nói đến một số khó khăn của vấn đề bản quyền và tiêu chuẩn.


    Back to Chapter index
    6.9.1.

    Nhà quản lý thư viện phải có trách nhiệm làm cho người khiếm thị phát triển kỹ năng và có sự chọn lựa sử dụng dịch vụ. Ví dụ, người khiếm thị thường gặp khó khăn khi lướt duyệt tài liệu và cần có sự trợ giúp để chọn được tài liệu mình cần. Họ cũng cần mục lục có trình bày chi tiết nội dung.


    Back to Chapter index
    6.9.2.

    Cũng rất quan trọng để quảng bá và thúc đẩy dịch vụ cho người khiếm thị trong tất cả các thư viện, chú ý cụ thể để thiết kế tài liệu khuyến khích đọc và tìm tòi những cộng sự hợp tác cho từng nhóm đối tượng sử dụng, hay những họ hàng bà con hay các tổ chức.


    Back to Chapter index
    6.9.3.

    Nhu cầu của người khiếm thị phải đựơc nhận ra trong ngay từ phần làm quen ban đầu và trong các chương trình tập huấn kỹ năng tìm tin.


    Back to Chapter index
    6.10.1.

    Nhà quản lý phải xây dựng văn hóa nhận thức NKTật và đảm bảo nhân viên hiểu biết cơ bản về nhu cầu người khiếm thị. Đây phải là một yếu tố trong tổ chức cơ cấu và tập huấn, giao nhiệm vụ cho nhân viên mà sự thành công của họ trong việc đáp ứng nhu cầu người khiếm thị sẽ là căn cứ để xét đánh giá và khen thưởng.


    Back to Chapter index
    6.10.2.

    Trách nhiệm phục vụ người khiếm thị được trình bày trong Phần 6.1, đặc biệt liên quan đến chính sách, văn hóa, tài chính, và chất lượng xây dựng dịch vụ phục vụ cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.10.3.

    Một thành viên trong nhóm quản lý cao cấp phải có trách nhiệm cụ thể về vấn đề người khuyết tật.


    Back to Chapter index
    6.10.4.

    Thư viện phải chọn một thành viên chuyên gia như một người phối hợp phụ trách về bộ phận phục vụ NKTật và người gặp khó khăn trong việc học. Vai trò này có thể là phần việc kiêm nhiệm thêm của một cán bộ nào đó nhưng cần có sự bố trí thời gian và hỗ trợ thích hợp. Một số thư viện chọn hẳn một người có trách nhiệm lo bộ phận phục vụ người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.10.5.

    Mục tiêu công việc của người phụ trách bộ phận NKTật sẽ gồm:

     

    a) tập trung chuyên chăm sóc dịch vụ cho người khuyết tật;
    b) xây dựng chính sách và phối hợp cung cấp dịch vụ;
    c) đảm bảo nhân viên nhận thức và hiểu biết về nhu cầu NKTật;
    d) đảm bảo thư viện vận hành theo đúng chính sách và luật pháp hiện hành;
    e) đảm bảo thư viện theo đúng các tiêu chuẩn về dịch vụ.


    Back to Chapter index
    6.10.6.

    Những nhiệm vụ chính của cán bộ này sẽ là:

     

    a) cung cấp dịch vụ thích hợp và tiếp cận được cho người khuyết tật ;
    b)thành lập và phối hợp trong mạng lưới các nhân viên có trách nhiệm trong các thư viện;
    c) Là người liên lạc với Bộ phận NKTật trong cơ quan và các phòng ban khác như phòng dịch vụ sinh viên, phòng máy tính, phòng hành chánh, hay bộ phận cơ hội bình đẳng trong địa phương, văn phòng dịch vụ xã hội, bộ phận công nghệ truyền thông thông tin và đội Dịch vụ bất động sản.;
    d) cung cấp công nghệ hỗ trợ;
    e) cung cấp thông tin, hướng dẫn và trợ giúp;
    f ) liên lạc với bạn đọc, phản hồi và thực hiện theo yêu cầu;
    g) tập huấn nhân viên thư viện như một phần gắn liền với công tác tập huấn chăm sóc độc giả;
    h) khuyến khích độc giả và nhân viên sử dụng dịch vụ;
    i) thu thập thông tin quản lý;
    j) trình bày các yêu cầu công tác trong tương lai;
    k) theo kịp các yêu cầu, xu hướng và những thực hành tốt nhất hiện nay của quốc gia.

    Cán bộ phụ trách cũng sẽ là ng
    ười đóng vai trò là chất xúc tác cho mọi thay đổi, có những kỹ năng cần thiết, kiến thức và lòng nhiệt  thành tác động đến người khác.


    Back to Chapter index
    6.10.7.

    Phải có một mạng lưới nhân viên có trách nhiệm liên quan nhau trong mỗi thư viện nắm được yêu cầu của độc giả và thông qua họ mà những sự trợ giúp, thông tin và tư vấn sẽ được lan tỏa xuống toàn thể nhân viên.


    Back to Chapter index
    6.10.8.

    Những nhân viên ở tuyến đầu phục vụ được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ như cách chăm sóc khách hàng theo một cách thống nhất trong toàn thể thư viện. Đặc biệt, họ phải tự tin, và đủ kinh nghiệm để phục vụ người khiếm thị và biết giúp khách hàng sử dụng công nghệ hỗ trợ.


    Back to Chapter index
    6.10.9.

    Thực tế, các nhà quản lý TVCC có thể bị yêu cầu công bố số nhân viên đặc nhiệm phụ trách nhu cầu người khiếm thị tính bình quân trên 1000 dân số địa phương (Kinnell và nh. ng. khác, 2000).


    Back to Chapter index
    6.11.1.

    Được coi như việc làm ưu tiên, tất cả nhân viên trong mọi khâu phải được tập huấn kiến thức về nhu cầu người khiếm thị và nhận thức về các dịch vụ. Nó là một trong những yếu tố quan trọng nhất cung cấp dịch vụ cho người khiếm thị (Machell, 1996) và là một cách tạo lập sự tự tin và hiểu biết cho nhân viên và tạo môi trường văn hóa phục vụ người khuyết tật. Nhân viên và tập huấn nhân viên là vấn đề chủ chốt trong hiệu quả công tác phục vụ người khiếm thị chất lượng cao.


    Back to Chapter index
    6.11.2.

    Nhiều người bị mất phần nào thị lực phải lệ thuộc nhiều khi sử dụng thư viện, đặc biệt khi họ là độc giả mới, và họ phải cảm thấy thoải mái khi yêu cầu được giúp đỡ. Nhân viên phải nhận ra những khó khăn của người khiếm thị và bản thân họ cảm thấy tự tin khi chủ động tình nguyện giúp đỡ khách hàng. Thiếu kiến thức và tập huấn có thể sẽ dễ dàng gây hiểu lầm và chán nản cho cả nhân viên và độc giả. (Brophy và Craven, 1999b).


    Back to Chapter index
    6.11.3.

    Một điều kiện tiên quyết để xây dựng chương trình tập huấn cho nhân viên là phải đánh giá kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm về dịch vụ cho người khiếm thị. Rất có ích để nhận ra nhà vô địch ở các cấp độ khác nhau trong một tổ chức. Kinnell (2000) đề nghị là chiến lược tập huấn cho dịch vụ TVCC phải có cả mục tiêu tập huấn nhân viên về phần nhận thức cơ bản là hết sức cần thiết để phân phối hiệu quả dịch vụ cho người khiếm thị đạt hiệu quả.


    Back to Chapter index
    6.11.4.

    Chương trình giúp nhân viên mới làm quen phải có cả phần nhận thức tổng quan về người khiếm thị. Nhu cầu nhân viên cũ cần được tập huấn lại và cập nhật kiến thức đừng nên bỏ qua. Nhiều chương trình chuyên biệt phải có đề cập đến nhiều mức độ mất thị lực khác nhau và còn nhiều vấn đề khác đối mặt với người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.11.5.

    Tập huấn về cách tiếp xúc với người kiếm thị, kể cả phần giao tế, sử dụng ngôn ngữ thích hợp và kỹ thuật diễn tả là những kỹ năng thực hàng rất quan trọng. Không phải dễ để luôn có cách hay mức độ trợ giúp đúng – nói quá nhiều sẽ gây phân tâm độc giả, nói quá ít thì không có vẻ giúp đỡ. Nhân viên thư viên phải nhận ra người khiếm thị có nhiều cách tìm thông tin và nhiều cách học và thái độ ứng xử khác nhau như bất cứ một nhóm độc giả nào. Nhân viên phải được tập huấn sử dụng trang thiết bị hỗ trợ và cả cách để họ tập huấn cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    6.11.6.

    Tất cả nhân viên thư viện phải được tập huấn trong việc tuyển chọn nhân viên, đặc biệt là nâng cao ý thức các vấn đề về NKTật và cơ hội bình đẳng.


    Back to Chapter index
    6.11.7.

    Nhân viên thư viện có thể tham dự chương trình nào bất kỳ của địa phương, trường đại học để tăng nhận thức về NKTật và để có thể có thêm kỹ năng và kiến thức.


    Back to Chapter index
    6.11.8.

    Một số chuyên gia trong lĩnh vực này, như Viện của giới chuyên môn ngành Thông tin thư viện (CILIP) và dự án TESTLAB ‘hệ thống thử nghiệm sử dụng telematics cho người khiếm thị sử dụng thư viện”, Ủy ban cộng đồng Châu Âu khuyến nghị là việc tập huấn nên bắt đầu từ trường thư viện (1997-98). Điều này để đảm bảo các chuyên môn mới cũng phải được nhận thức đầy đủ về các vấn đề về khả năng truy cập dịch vụ thư viện đối với NKTật và cả các vấn đề mà nhóm đối tượng này vấp phải.


    Back to Chapter index
    6.12.1.

    Trong trường đại học hay cao đẳng, thư viện thường là nơi tập trung của sinh viên khuyết tật hay gặp khó khăn trong việc học, và quan trọng là thư viện phải có các dịch vụ và hỗ trợ phù hợp để trợ giúp họ. Những dịch vụ này gồm có nhóm hỗ trợ người khuyết tật, dịch vụ cho sinh viên, dịch vụ tư vấn, nơi ăn ở, tư vấn sức khỏe, dịch vụ hướng dẫn, chăm sóc trẻ, trung tâm thể thao, văn phòng sinh viên quốc tế; nơi đăng ký nhập học,…Sinh viên có thể nhận được sự tư vấn hay hỗ trợ về thiết bị hỗ trợ qua Trung tâm Truy cập và Bộ phận Tư vấn của RNIB trong khu vực.  Phân bổ chi phí cho sinh viên khuyết tật nên tính đến cả khoản lo cho sinh viên khuyết tật trong trường và có khoản kinh phí đầu tư mua trang thiết bị hỗ trợ .


    Back to Chapter index
    6.12.2.

    Thực sự giống như Kinnell (2000) đã khuyến cáo là tất cả cơ quan tham gia vào các dịch vụ của TVCC nên xác định cơ chế để cải thiện việc hợp tác, đặc biệt là Bộ Thông tin văn hóa và Thể thao, RNIB, NLB và tổ chức Share the Vision.


    Back to Chapter index
    6.12.3.

    Nơi nào mà nhà quản lý thư viện không đủ thành thạo hay điều kiện phục vụ người khuyết tật trong thư viện họ, họ nên tìm đến các tổ chức khác, như là JISC/Công nghệ Dịch vụ Thông tin cho NKTật (TechDis), RNIB/ Dịch vụ tư vấn sinh viên, Mạng quốc gia về Tư vấn NKTật, DfEE/ Dịch vụ NKTật và Hiệp hội trung tâm dịch vụ. Nhiều cơ quan trong số đó có mạng phủ khắp khu vực.


    Back to Chapter index
    6.12.4.

    Nhà quản lý phải hợp tác với bên ngoài và cộng tác với nhiều tổ chức để có thể cùng phát triển dịch vụ phục vụ người khiếm thị một cách liền lạc ngay tại địa phương hay tại điểm có nhu cầu. Thư viện địa phương nên cung cấp dịch vụ theo yêu cầu có thể từ khu vực, quốc gia hay thậm chí ở cả quốc tế.  Điều này chỉ có thể đạt được bằng cách hợp tác với các hội, thư viện, các tổ chức khu vực và quốc gia, và các nhà cung ứng dịch vụ.


    Back to Chapter index
    6.12.5.

    Hiện tại thư viện còn lệ thuộc nhiều vào sự trợ giúp của R.N.I.B, Hội đọc báo nói của Anh quốc, NLB và các cơ quan khác để cung cấp cho độc giả của họ sử dụng dịch vụ và trợ giúp.Trong đó bao gồm cung cấp sách chữ Braille và Moon, dịch vụ chuyển chữ Braille, và sách báo nói. Các cơ quan chuyên môn có thể cung cấp dịch vụ tại địa phương và chuyển gửi các báo hay tài liệu giáo trình chính. R.N.I.B và các tổ chức khác như Sight and Sound, có thể cung cấp cho nhà quản lý những lời tư vấn về việc mua sắm phần mềm và trang thiết bị. Chương trình bưu điện dành cho ngưi mù thì gửi miễn phí bưu phẩm đến người mù và khiếm thị. Điều kiện chương trình cũng yêu cầu độ thị lực của khách hàng cũng phải ít hơn một phạm vi nào đó thì mới chấp nhận.


    Back to Chapter index
    6.12.6.

    Một thách thức lớn cho nhà quản lý là hợp nhất dịch vụ cho người khiếm thị và đảm bảo nó được duy trì trong suốt cả đời người. Xu hướng phục vụ hiện nay là tập trung vào nhà cung cấp dịch vụ và sự hỗ trợ của họ có thể đáp ứng được bất cứ độ tuổi nào của độc giả, hơn là chỉ tập trung vào một thời kỳ năng động tích cực nào đó của họ. Trong khi chưa có giải pháp cụ thể mà có rất nhiều chọn lựa cho việc phục vụ trong địa phương, cần yêu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng hòa nhập và đầy đủ để phục vụ trên toàn quốc và hình thành những tiêu chuẩn quan trọng cho dịch vụ của đối tượng khách hàng đặc biệt này. 


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Association of Research Libraries. (1999). Services to users with disabilities. Transforming libraries. Issue 8. www.arl.org/transform/disabilities/index.html

     

    Brophy, Peter. (1999). The integrated, accessible library: building a national accessible library service. Library HiTech News, 164, July 1999, pp 15-17.

     

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999a). Education for all? Library support for blind or visually impaired users in higher education in the UK. Library Association Record, Library Technology: Assistive Technology Special Issue, 4 (1), February 1999, pp. 19-20.

     

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999b). The integrated accessible library: a model of service development for the 21st century. The final report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired Users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation Report 168. Manchester: Centre for Research in Library and Information Management, Manchester Metropolitan University.

     

    Bruce, Ian and Baker, Mark. (2001). Access to written information: the views of 1,000 people with sight problems. London: RNIB.

     

    Capital Planning Information (CPI). (2000). Co-ordinating alternative format title selection. Final Report for Share the Vision and the Library and Information Commission. Brunton: CPI.

     

    Commission of the European Communities. (1997-98). TESTLAB (Testing systems using telematics for library access for blind and visually handicapped readers). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv.htm

     

    Department for Culture, Media and Sport. (2001). Comprehensive, efficient and modern public libraries - standards and assessment. www.culture.gov.uk/heritage/index.html.

     

    Department for Culture, Media and Sport. (1999). Libraries for all: social inclusion in public libraries. Policy guidance for local authorities in England. London: DCMS.

     

    Department for Education and Employment (DfEE). (1997). Connecting the learning society: National Grid for Learning: the government’s consultation paper. London: DfEE.

     

    Department for Education and Employment (DfEE). (1998). The learning age: a renaissance for a new Britain. London: HMSO. (Cmd 3790)

     

    Department for Education and Employment (DfEE). (1999). From exclusion to inclusion. Report of the Disability Rights Task Force on Civil Rights for Disabled People Report. London: HMSO.

     

    Department for Education and Employment (DfEE). (2000). Consultation on improving the standard of education for children with special needs and students with disabilities. London: HMSO.

     

    Department of the Environment, Transport and the Regions. (May 2000 update). Achieving best value through performance review. www.local.detr.gov.uk/research/bestva~1/paper 5/02.htm.

     

    Disability Rights Commission. (May 2000). Proposals for a new code of practice: rights of access, goods, facilities, services and premises. www.disability.gov.uk/consultation.html.

     

    Disability Rights Commission. (2002). Code of practice on rights of access, goods, facilities, services and premises.
    Also available is a booklet summarising issues, published as
    2004-what it means for you. Service providers.
    www.drc-gb.org/drc/informationandlegislation/page331a.asp

     

    Engelen, Jan, Evenepoel, Filip and Wesley, Tom. (2000). Surmounting the copyright hurdle: the SEDODEL project. (Secure Document Delivery for Blind and Partially Sighted People). Final report April 2000.
    At March 2002, a conference paper on the project can be seen on TIDE website at www.stakes.fi/tidecong/822sedod.htm

     

    European Community. (2001). Directive 2001/2G/EC of the European Parliament and of the Council on the harmonisation of certain aspects of copyright and related rights in the information society:
    www.europa.eu.int/comm/internal_market/en/intprop/news/index.htm

     

    European Union. Eurostat. (1998). Labour force survey principal results 1998.
    www.europa.eu.int/comm/eurostat/public/datashop/print-catalogue/EN?catalogue=Eurostat

     

    Great Britain. Acts. (1988). Copyright, designs and patents act. London: HMSO

    Great Britain. Acts. (1995). Disability discrimination act 1995. Chapter 50. London: HMSO.

    Great Britain. Acts. (2001) Special educational needs and disability act 2001. London: Stationery Office.

     

    Higher Education Funding Council for England. (1999). Guidance on base-level provision for disabled students in higher education. www.hefce.ac.uk/pubs/hefce/1999/99_04.htm

     

    Higher Education Funding Council for England. (2001). Improving access to higher education estates and buildings. Bristol: HEFCE.

     

    Hopkins, L. (1997). Partners in care: Share the Vision. Public Library Journal 12 (3), pp 57-60.

     

    Human Rights Act. (1998). www.hmso.gov.uk/acts/acts1998.htm

     

    The international consortium for the new digital talking book standard. (DAISY Consortium). (2000). www.daisy.org

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi and Creaser, Claire. (2000). Public library services for visually impaired people. Report to the Library and Information Commission. Loughborough: Library and Information Statistics Unit.

     

    Library and Information Commission. (1997). New library: the people’s network. London: Library and Information Commission.

     

    Library and Information Commission. (1998). Building the New library network: a report to government. www.lic.gov.uk/publications/policyreports/building/index.html

     

    Library and Information Commission. (March 2000). Libraries: the essence of inclusion. London: Library and Information Commission. www.lic.gov.uk/publications/policyreports/inclusion.html.

     

    Machell, Jean. (1996). Library and information services for visually impaired people: national guidelines. Share the Vision/ Library Association. London: L.A. Publishing.

     

    National Assembly for Wales. (2001). Comprehensive, efficient and modern public libraries for Wales: standards and monitoring.
    www.wales.gov.uk/subiculture/content/libraries/libstandards-cnts-e.htm

     

    National Bureau for Students with Disability. (2000). A guide to the Disability Discrimination Act 1995 for institutions of further and higher education. London: Skill.

     

    National Committee of Inquiry into Higher Education. (1997). Higher education in the learning society: report of the national committee. London: HMSO. (Chairman Sir Ron Dearing)

     

    Parker, B. (2000). The learner’s viewpoint. In Widening participation through the University for Industry: how libraries support lifelong learning. Proceedings of a conference organised by NIACE, The Library Association and the University of Sunderland, December 1998, edited by A. C. McDonald and V. Edwards. Sunderland : University of Sunderland Press.

     

    Publishers’ Licensing Society. (2001). Copyright and visual impairment guidelines. www.pls.org.uk/publisher/index.htm

     

    Quality Assurance Agency for Higher Education. (1999). Code of practice for assurance of academic quality and standards in higher education: students with disabilities. Gloucester: QAA. www.qaa.ac.uk/public/COP/COPswd/contents.htm

     

    Royal National Institute for the Blind. (1997). Copyright laws and the rights of blind people: a report published by the RNIB; a review of copyright legislation as it affects access to the written work through alternative formats. London: RNIB.

     

    Royal National Institute for the Blind. (1999). A right to read: the impact of copyright law on visually impaired people. London: RNIB Campaign report No. 10.

     

    Royal National Institute for the Blind. www.rnib.org.uk/campaign/copyright.htm

     

    Talking Newspaper Association of the UK. (2000). www.tnauk.org.uk


    Back to Chapter index
    7.1. Giới thiệu

    Tất cả thư viện công cộng cần đảm bảo là họ có kế hoạch phục vụ trẻ khiếm thị, thông qua thư viện địa phương và cả thư viện trường học. Luật pháp và tư vấn yêu cầu chương trình phục vụ không được phân biệt đối xử. Tất cả chiến lược dịch vụ, kể cả việc chọn tài liệu để mua, tổ chức, công nghệ thông tin, dịch vụ, huấn luyện nhân viên và quảng bá nên được chỉnh sửa dựa vào kết quả đánh giá nhu cầu và thảo luận với các em, phụ  huynh, người chăm sóc trẻ và nhà chuyên môn trong cộng đồng.

     

    Theo khảo sát của RNIB xuất bản vào năm 1992 (Walker và nh. ng. khác), 56% trẻ em khiếm thị lại còn mang thêm khuyết tật khác và điều này cũng nên ghi nhớ khi lên kế hoạch và phân phối dịch vụ.  Một cuộc khảo sát mang tên “Chia sẻ tương lai” (RNIB, 2000) gần đây báo cáo về kinh nghiệm và nhu cầu của trẻ khiếm thị, đặc biệt liên quan đến vấn đề giáo dục, sức khỏe và giải trí. Trong báo cáo tóm tắt, có cả bảng phân tích kinh nghiệm đọc và sử dụng thư viện của các em. Nó cũng làm rõ nhu cầu của các em muốn tiếp cận nguồn lực thông tin rộng và chất lượng hơn.

     

    Các thông tin khác như về dân số được đề cập ở chương 5, và phần 5.7 đề cập đến thiếu nhi. Phần 5.7.3 cho biết thông tin về các loại trường học của trẻ em khuyết tật. Quan trọng để thấy là có nhiều trẻ (chiếm 60%) đến các trường học hòa nhập, và vì thế chúng rất cần đến nhiều sự giúp đỡ và nguồn lực đặc biệt hỗ trợ.  


    Back to Chapter index
    7.2. Vấn đề quản lý

    Mỗi nhà quản lý thư viện và thư viện trường học nên có kế hoạch nói rõ việc phục vụ trẻ khiếm thị nên được duy trì và cải thiện thế nào trong cơ quan tổ chức của mình.  Kể cả các bước cụ thể từ việc quảng bá, vốn tài liệu, tập huấn nhân viên, cung cấp CNTT và các dịch vụ / sự kiện có mục đích cụ thể và cả khoản chi phí để thực hiện các dịch vụ hội nhập cho các em khuyết tật.

     

    Tổ chức dịch vụ thư viện trường nên kết hợp với khối thư viện công cộng để đảm bảo trẻ khiếm thị truy cập tốt vào nguồn lực phục vụ cho nhu cầu học của các em. Thêm vào đó, tổ chức phải chắc chắn là họ đã không bỏ sót trẻ khiếm thị  từ chuyện giao tiếp thường có trong nhà trường và cũng nên định hướng việc cung cấp sách ở dạng phù hợp nếu có thể (chuyện này không có nghĩa là thư viện cho các em khiếm thị chỉ có sách cỡ lớn).


    Back to Chapter index
    7.2.1. Nhân sự

    Để đảm bảo dịch vụ thư viện có thể đáp ứng được nhu cầu cụ thể, trong tổ chức cần có một bộ phận riêng chịu trách nhiệm phục vụ trẻ khuyết tật. Đây có thể là một bộ phận phát triển dịch vụ cho trẻ khuyết tật hay là một bộ phận của phòng ban phục vụ cho trẻ có nhu cầu đặc biệt. Trong các thư viện lớn, cần có một đội ngũ gồm vài nhân viên ở nhiều lĩnh vực khác nhau như phụ trách vốn tài liệu, CNTT, và quảng bá dịch vụ, cùng làm việc chung với nhau. Tuy nhiên thư viện nên có một người chịu trách nhiệm cuối cùng để quyết định kế hoạch cho dịch vụ.

     

    Người này nên có trách nhiệm cho:

    a) phân tích, đánh giá thực trạng;

    b) xác định mục đích và kế hoạch sắp tới;

    c) phối hợp và tư vấn cho khách hàng;

    d) tư vấn cho nhân viên về vấn đề phục vụ và nhu cầu của độc giả;

    e) đối với nội bộ thư viện, thì sẽ là người đại diện cho nhu cầu của trẻ khiếm thị;

    f) đối với bên ngoài, thì sẽ đứng ra đại diện cho thư viện;

    g) tìm kiếm tài liệu;

    h)tập huấn nhân viên;


    Bộ phận này cũng nên khuyến khích tổ chức công tác tư vấn và mạng lưới trong cộng đồng địa phương bằng cách triển khai và hướng dẫn nghiệp vụ thực hành.


    Back to Chapter index
    7.2.2. Chính sách

    Chương 3 của cẩm nang này đã trình bày về các đạo luật về chống phân biệt đối xử người khuyết tật và Đạo luật về người khuyết tật và nhu cầu giáo dục đặc biệt đã tác động đến việc cung cấp dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. Phần III của đạo luật đề cập cụ thể đến vấn đề trẻ em và phần IV trình bày yêu cầu đối với nhà tổ chức giáo dục. Phần 3.7.1 của cẩm nang này cho thấy cần có chính sách để điều chỉnh dịch vụ thực thi tốt các điều khỏan mà đạo luật đã nhắc đến.

     

    Chính sách của tổ chức cũng chỉ định tính toán trước dịch vụ như dịch vụ trọn gói đáp ứng cho người khuyết tật. Đối tượng này nên được sử dụng các dịch vụ miễn phí. Mặc dù dưới đây là không phải là một danh mục đầy đủ, nhưng nó cũng giúp chỉ ra những thay đổi cần thực hiện trong chính sách để phục vụ trẻ em khuyết tật.

     

    a) Thư viện nên bỏ qua các hình thức phí xử phạt khi bạn đọc làm hư sách. Một số trẻ không kiểm soát được nên không thể giữ sách tốt được như các bạn khác.
    b) Thư viện không nên tính phí mượn về nhà các tài liệu băng truyện cassette đối với trẻ khiếm thị.

    c) Thư viện nên xem xét trường hợp ngoại lệ khi quá hạn trả sách. Trẻ khuyết tật thường có rất nhiều cuộc hẹn với các nhà chuyên môn, các em không thể đến thư viện đều đặn như các trẻ khác.

    d) Nếu thư viện in tài liệu trắng đen miễn phí thì cũng không nên tính phí khi in màu đối các em nhìn giấy in trắng đen không rõ.
    e) Thư viện nên cho phép các em có thể sử dụng các ổ cắm  điện dùng cho máy tính xách tay để có thể truy cập thông tin tư liệu từ bên ngòai. Mặc dù máy tính xách tay ít nhất cũng có thể chạy bằng pin khỏang 3 tiếng nhưng thư viện cứ nên cung cấp sẵn nguồn điện để bất cứ khi nào các em cần dùng đến.


    Back to Chapter index
    7.3. Đánh giá nhu cầu

    Một trong những thách thức lớn là tạo dịch vụ cho trẻ khiếm thị thì phải biết được nhu cầu của các em. Hồ sơ cư dân địa phương nên kèm cả thông tin về số trẻ khuyết tật, đối tượng nào, các trường hay bộ phận nào trong trường mà các em đang theo học. Thực hiện các cuộc khảo sát và nói chuyện với các em để biết được trẻ muốn gì, và hỏi ý kiến của các bậc phụ huynh, người chăm sóc trẻ, cán bộ thư viện và các nhà chuyên môn. 


    Back to Chapter index
    7.3.1. Liên hệ

    Nên giữ liên lạc với với các em đang học trường biệt lập và trường hòa nhập. Quan trọng là cần giữ liên lạc với các nhà chuyên môn làm việc với trẻ khiếm thị. Cơ cấu dịch vụ lưu động được thay đổi tùy theo nhà quản lý, nhưng tất cả các bộ phận giáo dục đều có nhân viên chịu trách nhiệm hỗ trợ các học sinh khiếm thị. Cũng nên nối kết với gia đình nếu họ sẵn lòng thảo luận về yêu cầu của họ. Một số dịch vụ lưu động cũng có các nhóm hoạt động cụ thể.

     

    Tổ chức dịch vụ thư viện trường học cũng nên liên lạc với dịch vụ giảng dạy lưu động và bất cứ trường hay bộ phận đặc biệt của trường trong địa phương.

     

    Thư viện nên xin các tổ chức tình nguyện trong địa bàn tư vấn như các tổ chức quốc gia như Look, Portage và R.N.I.B có thể là những điểm khởi đầu để tìm ra nhu cầu của từng nhóm đối tượng.


    Back to Chapter index
    7.3.2. Phương pháp

    Có nhiều cách để thu thập thông tin khác nhau, nên cân nhắc để chọn cách nào thích hợp nhất tùy vào từng hoàn cảnh.

     

    Chọn một nhóm cụ thể có thể chứng minh được giá trị lớn. Tự các em có thể tham gia ngay từ đầu. Miễn là phải đảm bảo nhân viên diễn giải được nhu cầu của việc tìm hiểu thông tin và giúp bọn trẻ nhận thấy được vai trò quan trọng của chúng trong cộng đồng.

     

    Việc tham quan các tổ chức tại địa phương và các trường học có thể có hai mục đích, đầu tiên là giúp nhân viên hiểu được phụ huynh và các em muốn gì, và thứ hai là họ có thể quảng cáo các dịch vụ hiện có trong thư viện. Đôi khi vấn đề không phải là do thư viện không có các dịch vụ đó mà là vì cha mẹ các em không biết các dịch vụ đó có tồn tại trong thư viện.

     

    Khi lập kế hoạch tham quan, thư viện nên sắp xếp thăm viếng nhiều hơn một lần. Chuyện trò với nhau sẽ giúp làm phá tan khoảng cách xa lạ ban đầu và bất cứ chuyến thăm nào bằng xe thư viện lưu động hay xe cổ động luôn được mọi người chào đón.

     

    Nhân viên thư viện nên tính đến chuyện văn hóa ứng xử khi họ đến thăm gia đình hay các nhóm. Trong quyển “Birmingham: phát triển hiệu quả dịch vụ viếng thăm các gia đình Châu Á có trẻ khiếm thị trước tuổi đến trường,”

    Chris Fryer (Fryer, 2000) có trình bày một số phép lịch sự giao tiếp cơ bản để thích nghi với các cộng đồng Châu Á.

     

    Các cuộc tham khảo ý kiến chính thức như dùng bảng hỏi đáp thì định rõ mục tiêu và dễ định lượng hơn, nhưng nhân viên cần thận trọng hơn cả khi tiếp xúc với người lớn. Nếu nhân viên đang nói chuyện với trẻ thì có nghĩa là họ đang giao tiếp với người thiểu số, trẻ em và phụ huynh và những người này được bảo hộ dưới Đạo luật Bảo vệ dữ liệu (Great Britain. Đạo luật, 1998).  Quyển “Cẩm nang phục vụ trẻ em” (CIPFA, 1997) hướng dẫn rất rõ về cách thực hiện một cuộc phỏng vấn hay đặt câu hỏi cho trẻ. Việc thiết kế các câu hỏi cũng rất quan trọng và có thể kèm theo các trò chơi hay các hoạt động khuyến khích trẻ trả lời.

    Bất kỳ cuộc khảo sát hay tham khảo ý kiến trên bình diện tổng quan thì nên có phần ý kiến của trẻ khuyết tật.


    Back to Chapter index
    7.4. Hoạt động thúc đẩy và phát triển việc đọc sách

    Cần nắm được nhu cầu của trẻ khuyết tật thì mới tổ chức được các hoạt động này có thể hòa nhập như mình mong muốn. Khi lập kế hoạch nhân viên cần chú ý:

     

    a) khi đọc truyện thì cần giải thích thêm các hình minh họa;

     

    b) trẻ cảm thấy tự do thoải mái nói cho nhân viên là các em muốn ngồi chỗ nào để có thể nghe rõ nhất và cảm nhận trọn vẹn nhất từ người kể chuyện;


    c) trẻ tham gia phần kể chuyện cần có thêm các  trang thiết bị phụ vào để các em có thể nhập vào chương trình một cách thỏa thích. Nghĩa là chúng cũng cầm trong tay quyển sách mà người kể đang sử dụng trong chương trình;


    d) cũng nên cho trẻ các bản in chữ lớn, lời hướng dẫn hoạt động. v.v.;


    e) sử dụng các vật trang trí minh họa có thể làm tăng thêm tính hấp dẫn cho giờ kể chuyện nếu trẻ khiếm thị được cầm trong tay các vật thể đó. Mặc dù không có một nguồn nào cung cấp đầy đủ mọi thứ, các nhân vật trong sách đồ chơi nhồi bông thường có thể tìm thấy trong các câu lạc bộ sách và tại các nhà cung ứng Peters và L.F.C. L.F.C cũng có loại rối phát ra âm thanh có thể sử dụng minh họa trong giờ kể chuyện;

     

    f) bất cứ dịch vụ nào cũng nên nhớ đến nhu cầu của trẻ khiếm thị, kể cả các hình nổi hay sự hỗ trợ nếu được yêu cầu;


    g) bất cứ cuộc thử nghiệm hay thi cử nào cũng nên có phương tiện đọc để thay thế;

     

    h) hoạt động vận động đọc sách như Bookstart nên được điều chỉnh để có thể thỏa mãn được nhu cầu của trẻ và phụ huynh trẻ khiếm thị. Ví dụ, sẽ hiệu quả hơn nếu có sách nổi hay thông tin được ghi băng cung cấp cho họ. Cần hỏi ý kiến các tổ chức chăm sóc sức khỏe để đảm bảo là thông tin và sách phù hợp với người sử dụng.


    Back to Chapter index
    7.5. Câu lạc bộ hướng dẫn làm bài tập

    'Qui định thực hành của thư viện công cộng' (Botten và nh. ng. khác, 1999) đề cập đến việc hỗ trợ học tập thì thực hiện công bằng với trẻ khiếm thị. Bất cứ cuộc tham khảo ý kiến nào như về nhu cầu của câu lạc bộ hỗ trợ làm bài tập, khi nào nên tổ chức, tài liệu và trang thiết bị nào nên được cung cấp cũng phải hỏi qua ý kiến của các em khiếm thị. Cũng nên có danh sách hộp thư của các trường giáo dục biệt lập hay bộ phận đăc biệt để tham khảo ý kiến và vận động họ tham gia chương trình.  


    Back to Chapter index
    7.6. Quảng bá dịch vụ

    Chương 15 bàn về vấn đề quảng bá một cách chung nhất nhưng một trong những cách hiệu quả nhất để thúc đẩy dịch vụ cho trẻ là sử dụng các tổ chức trung gian. Nên tham khảo phần “Đánh giá nhu cầu” (7.3) và liên lạc trực tiếp với thư viện địa phương hơn là chỉ lo in tài liệu quảng cáo.


    Back to Chapter index
    7.7. Thiết kế và trưng bày thư viện

    Chương 12 nói về các dịch vụ được thiết kế đế đáp ứng nhu cầu chung của người khiếm thị nhưng cần có thêm yêu cầu riêng dành cho đối tượng nhỏ.

    Cần chú ý đến một số chướng ngại vật đối với trẻ khiếm thị và vị trí của các vật như như ghế bành lớn hay các hộp đựng đồ chơi. Các góc cạnh nhọn cần phải tránh, nhất là các thùng đựng đồ chơi.

     

    Trưng bày có thể là cách hiệu quả tạo không khí thân thiện cho thư viện và quan trọng là khu vực trưng bày vừa đủ thấp để các em có thể chạm vào. Trưng bày các vật hình nổi nên chú ý yếu tố an toàn, chẳng hạn như các kim gút!

    Tổ chức các giờ kể chuyện hay sinh hoạt nên tránh những khu vực ồn ào.

    Mặc dù nên chú trọng yếu tố hòa nhập nhưng cũng rất quan trọng khi cho trẻ tìm được những tài liệu chúng cần; sách chữ lớn, và sách in cần được xếp gần khu vực để băng đĩa.

     

    Nếu khu vực thiếu nhi cách xa khu vực người lớn thì phải trang bị thêm các thiết bị khác như máy CCTV.


    Back to Chapter index
    7.8. Tập huấn nhân viên

    Việc này nên được thực hiện thường xuyên và nhân viên cần luôn tự tin là họ có thể sử dụng trang thiết bị và chọn tài liệu thích hợp cho trẻ. Cán bộ của sở giáo dục hay trong các tổ chức tình nguyện thường sẵn lòng giúp đỡ việc tập huấn. REACH – Trung tâm tư vấn quốc gia cho trẻ có khuyết tật đọc cũng thường cho các khóa đào tạo tại chức dạy theo chuyên đề để bồi dưỡng kiến thức tổng quan hay hướng phục vụ vào người gặp khó khăn trong việc học tập. Nhu cầu tập huấn cần cụ thể liên quan đến trẻ và bao gồm các nội dung: tập huấn nhận biết khuyết tật, nhu cầu học và phát triển của trẻ, luật pháp, tổ chức cần liên lạc, nhà cung ứng cho dịch vụ thư viện, chọn lựa tài liệu cho trẻ, trang thiết bị và kế hoạch sinh hoạt phục vụ trẻ khuyết tật.


    Back to Chapter index
    7.9. Chính sách chọn tài liệu

    Chính sách chọn tài liệu nên nói rõ về như về tiêu chuẩn phục vụ trẻ khiếm thị. Bất kỳ quyết định nào không có  trong tiêu chuẩn thì phải dựa vào các điều khoản của các đạo luật mà DDA và SEND (Xem Chương 3 để biết thêm chi tiết).

    Phần nội dung của chính sách bổ sung tài liệu nên thể hiên tính hòa nhập, tức là phải tính đến nhu cầu trẻ khuyết tật, ví dụ trong phần đề cập đến sách, nhưng nên có phần riêng trong chính sách làm nổi bật những dịch vụ thêm cần có để giúp trẻ có nhu cầu đặc biệt có thể tiếp cận được thông tin hay sách truyện.

     

    Nó có thể chỉ ra:

    a)  nơi để bổ sung tài liệu bằng cách mua hay đăng ký sử dụng;

    b)  dịch vụ cơ bản phải có;

    c)  nơi xếp tài liệu;

    d)  ai có thể mượn tài liệu (ví dụ có phải ai cũng mượn được sách cỡ lớn không?


    Back to Chapter index
    7.9.1. Điều kiện chọn lựa tài liệu

    Tiêu chuẩn cung cấp và sử dụng vốn tài liệu cần nhắm đến mọi đối tượng. Tất cả các chuẩn phải xem xét và tính đến nhu cầu của người khuyết tật. Các chuẩn được đưa ra dựa vào hồ sơ của khu dân cư. Các chuẩn hợp tác hay kiểm soát nên đủ linh động để phù hợp với đặc điểm của từng khu vực. Nhiều chuẩn không cần phải thay đổi ứng dụng đối với cho trẻ khiếm thị, ví dụ độ tuổi đọc hay điều kiện kho sách. Tuy nhiên, khi xác định tỷ lệ nội dung kho sách, như chuẩn mượn trả hay phát hành cần được chỉnh sửa, ví dụ sách chữ lớn, băng kể chuyện của trẻ, tài liệu có hai hình thức.   

     

    Các tiêu chuẩn phải được dựa vào:

    • Hồ sơ thành phần độc giả
    • Tỷ lệ nội dung kho sách, tỷ lệ mượn trả
    • Điều kiện kho sách: tuổi và chất lượng 

    Back to Chapter index
    7.10. Bổ sung tài liệu

    Mặc dù một phần nào tài liệu được yêu cầu phải có để đáp ứng nhu cầu trẻ khiếm thị cần phải được mua hay mượn từ các nhà cung ứng chuyên ngành, nhưng cũng có nhiều tài liệu bình thường cũng rất có ích. Danh mục sách cần được cung cấp để giúp nhân viên có thể tự tin giải quyết các yêu cầu.

     

    Các loại tài liệu cho trẻ ở dạng thay thế rất hạn chế, và vì thế rất quan trọng để đảm bảo là tài liệu được tìm kiếm bổ sung từ nhiều nguồn nếu có thể. Những tài liệu này gồm các nhan đề mua từ nhà kinh doanh xuất bản sách chữ lớn và sách nói, hay tài liệu từ các cơ quan chuyên nghiệp trong nước. Hầu hết các nhà xuất bản hay nhà cung cấp dịch vụ nàyphục vụ cho cả người lớn và thiếu nhi; và những thông tin thêm về dịch vụ của họ có thể tham khảo ở Chương 8, 917.

     

    Danh mục và catalog sách của họ được Viện Nghiên cứu Người mù Hoàng gia (RNIB), Thư viện Quốc gia cho Người mù (NLB), Thư viện Băng Cassette Calibre và ClearVision ấn hành. RNIB and NLB có website có khả năng truy cập xuất sắc trong đó có đủ thông tin giới thiệu về vốn tài liệu và dịch vụ của họ. RNIB cũng xuất bản  mục lục tài liệu cho thiếu nhi của một số cơ quan. Tiêu đề các danh mục này như “Sách văn học thiếu nhi từ 5-7 tuổi”, “Sách văn học thiếu nhi 8-11 tuổi”, “Mục lục sách văn học” và “Mục lục sách giáo khoa”. Trên đó, cũng có danh mục sách cho đối tượng thanh thiếu niên. Tạp chí “Spotlight” của các tổ chức này thông tin về tiểu thuyết và phi tiểu thuyết mới xuất bản, và tạp chí này cung cấp miễn phí. Đang phát triển một kế hoạch phát hành một tạp chí mới mô tả đặc điểm đọc và tài liệu cho thiếu nhi.

    Tất cả những tổ chức trên tham gia vào một dự án mới đấy để xây dựng mục lục liên hợp quốc gia các tài liệu chuyển dạng, và hình thành thủ tục mượn liên thư viện trên toàn quốc. Mục lục liên hợp quốc gia được xây dựng để có tất cả dữ liệu vốn tài liệu của các nhà xuất bản, kể cả trường đặc biệt dành trẻ người khiếm thị (Xem chương 1011).

     

    Có một công cụ mới và chủ lực để chọn tài liệu, cho cả thiếu nhi và thủ thư, là  thư mục “Fiction Café” của NLB, có thể đọc trên website của NLB tại địa chỉ www.nlbuk.org/fiction-cafe/index.html. Đó là một cách lý thú cho trẻ chọn và đặt sách trực tuyến, và tìm sách theo tâm trạng và chủ đề. CSDL hiện nay có trên 150 nhan đề, mỗi nhan đề có phần điểm sách giới thiệu nội dung. Nó tạo cơ hội cho trẻ khiếm thị tự lướt tìm sách theo yêu cầu của chúng, cơ sở dữ liệu bao gồm nhan đề tài liệu của NLB, Calibre và dịch vụ sách nói RNIB.

     

    REACH: Trung tâm Tư vấn Quốc gia cho Thiếu nhi khuyết đọc phát hành danh mục sách có mô tả gồm 27 trang khổ A 4 với tên gọi là “Điểm khởi hành”. Danh mục này gồm có tài liệu cho trẻ khiếm thị, sách có các nhân vật là người khuyết tật hay gặp khó khăn trong học tập, và tài liệu chữ lớn cho các em. Chúng được phân phối với phí trả là 1 bảng Anh (nếu là thành viên thì chỉ trả 75 xu). “Mỗi em là một bạn đọc: cẩm nang giúp các em gặp khó khăn trong việc đọc” có một phần nói về trẻ bị mất thị lực. Một mục lục xuất bản phẩm đầy đủ cũng sẽ được cung cấp nếu được yêu cầu. REACH cũng có Trung tâm Nguồn lực có nhiều loại sách nổi và chữ lớn, băng truyện và phần mềm máy tính. Nếu có yêu cầu tham quan thì cần hẹn trước.

     

    Các danh mục khác thỉnh thoảng cũng có thể sử dụng nhưng khi sử dụng phải chú ý vì chúng có thể đã cũ và cán bộ thư viện cần nhớ thêm các nhan đề mới.

     

    Có một số trường đặc biệt cho trẻ khiếm thị, và cán bộ thư viện nên sẵn lòng tư vấn chọn tài liệu thích hợp cho các em. 

    “Thư viện Hộp thư” là một cửa hàng đặt sách qua thư có những tài liệu về những hình ảnh tích cực về vấn đề thị tộc, giới tính, và người khuyết tật. Vì một số tài liệu có thể được nhập về nên nó cũng cho phép tìm các sách này mà không có ở cửa hàng này. Thành viên thì được miễn trả phí 5 bảng/ một người và sách có thể chọn từ một tạp chí điểm sách trình bày rất hấp dẫn.


    Back to Chapter index
    7.11. Chọn tài liệu cho trẻ khiếm thị

    RNIB xuất bản một tập hướng dẫn “Để đọc rõ hơn” (1999) rất có ích. Xuất bản phẩm này trình bày các yếu tố làm sao để sách dễ tiếp cận hơn cho trẻ khiếm thị, liệt kê ra một số điểm sau: 

     

    a)  chữ đen trên nền trắng, hay vàng kem sẽ cho độ tương phản tốt;

    b)  chọn kiểu chữ đánh máy rõ trên nền tối ;

    c)  nhiều em có thể đọc cở chữ 14 nhưng 18 thì còn tốt hơn nữa;

    d)  đậm đen, hay đậm vừa cho phép phản quang tốt;

    e)  tốt nhất là tránh loại chữ kiểu cọ;

    f)  chữ in hoa thì khó đọc hơn là chữ thường;

    g)  nền giấy xần xùi không láng bóng ;

    h)  không nên chọn loại giấy trong suốt nhìn thấu được bên kia

    i)  trình bày đơn giản và rõ ràng. Trong trường hợp sách thông tin, người đọc có thể theo dõi văn bản hợp lý bắt đầu từ góc bên trái phía trên;

    j)  minh họa đậm trên khu vực có nền tương phản màu tốt nhất;

    k)  Đừng để chữ in trên nền minh họa rất khó theo dõi  

     


    Back to Chapter index
    7.12. Xây dựng hình ảnh tích cực

    Để trẻ nhìn thấy hình ảnh người khiếm thị trong sách là điều rất quan trọng và thủ thư phải vận động trẻ đọc những nhan đề loại này. Thủ thư phải nhận ra những nhan đề thích hợp, theo các ví dụ sau:

     

    a) Truyện tranh có hình trẻ mang kính như “Căn phòng của Rosie” của Mandy & Ness. Sách chỉ những ích lợi của việc mang kính như “Tất cả tốt hơn khi nhìn thấy bạn với…” của  M. Wild và “Vịt con và cặp kính tệ hại” của Amy Hest.

     

    b) sách khoa học phổ thông trình bày cách trẻ tham gia các hoạt động thực nghiệm khoa học, chơi nhạc, chơi trò chơi, và những sinh hoạt hàng ngày mà tất cả mọi đứa trẻ đều trãi qua.

     

    c) Walls xuất bản hai bộ “Bạn bè” và “Hãy làm đi”. Cả hai nhan đề này đều có ích cho cả trẻ sáng hiểu được khuyết tật là gì, cách mà người khác giúp đỡ hay gây cản trở họ. Truyện “Nhà vô địch Judo” của Eleanor Archer and “Đến trường” của D. Church có nhân vật chính là trẻ khiếm thị.

    d) Tiểu thuyết phác họa hình ảnh trẻ khiếm thị tham gia vào câu chuyện phiêu lưu, không phải là nạn nhân mà là sự chủ động hay là nhân vật chính cũng rất quan trọng. Sách  “Chiếc sừng biết nói” của  Berlie Doherty và “Trong bóng tối” của  N. Wilde đã có từ lâu nhưng vẫn là những ví dụ còn rất thích hợp cho vấn đề này. “Mắt của Charlie” của Dorothy Horgan là những câu chuyện hài hước nói về những vấn đề khó khăn hay những ngộ nhận về trẻ khiếm thị.


    Back to Chapter index
    7.13. Sách nổi

    Đây là loại rất phổ biến với mọi đứa trẻ và đặc biệt quan trọng đối với trẻ có thể phải đọc chữ dưới dạng nổi. Sách thường có chủ đề giúp trẻ liên tưởng được như về động vật, quần áo, hay dự tiệc sinh nhật. Khu vực nổi của sách có thể cảm nhận tương tự như cho vật cần được minh họa và lý tưởng là cho thấy được hình dáng của đồ vật hay sinh vật đó. Nhà xuất bản thông thường cung cấp sách nổi như một phần trong danh mục chung của họ và một số nơi có xu hướng xuất bản sách có hương thơm và âm thanh.

     

    Marion Ripley ở ClearVision cũng đã xuất bản quyển “Ngón tay vui” khuyến khích trẻ nhận dạng đồ vật bằng ngón tay của chúng, hay cùng thời cũng có các nhan đề khác “Chiếc ủng khổng lồ” hay “Charlis khó chịu”. Tất cả những nhan đề trên hiện có bán tại RNIB. ClearVision cũng có sách bản dày với các nhân vật hình nổi cũng như nhãn bằng chữ Braille và sắp tới là xuất bản tài liệu nổi. “Giỏ sách” của Chris Fuller cũng thường có những sách nổi đặc biệt hữu ích cho các em bị đa khuyết tật. 


    Back to Chapter index
    7.14. Sách khổ lớn

    Có một cuộc thảo luận nghiêm túc về ích lợi của loại sách này. Sách cỡ rất lớn và khoảng cách in làm chúng khó đọc đối với trẻ mà có độ thị lực khác nhau, vì thế chúng không phải là giải pháp tốt trong nhiều trường hợp. Do kích thước của chúng, bọn trẻ thấy sách quá cồng kềnh, đặc biệt là để mượn về, và rất quan trọng là có thể được mượn chúng không, nếu có thì bao nào thích hợp đựng chúng được mua để chứa nó. Bao nhựa lớn có thể sử dụng cho nhiều mục đích có thể có trong thư viện như bao trùm trang thiết bị như LFC. Vì sự thuận lợi cho các “Giờ Văn chương” nhiều nhà xuất bản chế bản cho một số  nhan đề sách in thông thường thành phiên bản ở dạng cỡ lớn.  


    Back to Chapter index
    7.15. Băng truyện

    Hiện nay có nhiều băng truyện do giới xuất bản thương mại thực hiện. Nhà xuất bản Chilvers cũng cung cấp sách chữ lớn và băng cassette. Bất cứ chỗ nào có sách thu âm trọn cuốn thì nên mua. Đối tượng tuổi thơ luôn được chú ý đến nhưng tài liệu cho thanh thiếu niên thì rất ít mặc dù số băng xuất bản ra ngày càng tăng. Tuy nhiên, vẫn còn sự thiếu hụt lớn về băng sách thông tin khoa học và nếu có thì nghiêng về chủ đề tiểu sử và lịch sử.

     

    Tính đến nay, Chilvers có hơn 500 nhan đề thu âm không bị rút ngắn. Có rất ít tài liệu cho trẻ trước tuổi đến trường nhưng các tác giả viết cho đối tượng từ 7-13 trình bày rất tốt.

    BBC Cover to Cover sản xuất băng truyện thu trọn quyển. Họ có trên 100 nhan đề, trong đó có vài nhan đề dành cho thiếu nhi.

     

    Bags of Books có nhiều thể loại từ tiểu thuyết đến phi tiểu thuyết. Tài liệu có thể được mua qua mạng Internet và mục lục của họ có một số tài liệu thiếu nhi. Họ cũng có kịch, truyện cho thanh thiếu niên, bài hát ru và bài hát

     

    Các tổ chức tình nguyện cũng quan tâm đến trẻ em, và cả hai tổ chức dịch vụ băng sách nói RNIB và băng casstte của Calibre có nhiều tài liệu sách nói cho các em.


    Back to Chapter index
    7.16. Băng hình có thuyết minh hình ảnh

    Nhan đề dành cho thiếu nhi không nhiều lắm nhưng một số nhan đề dành cho người lớn thì cũng rất có ích cho thanh thiếu niên đang học Văn học Anh. Có thể mua từ RNIB


    Back to Chapter index
    7.17. Sách chữ lớn

    Chivers là nhà cung cấp chính các loại sách chữ lớn dưới nhãn hiệu Nhà xuất bản Galaxy và họ có xấp xỉ khoảng 200 nhan đề

     

    Tháng 4 năm 2000, Ulverscroft tung ra bộ Quang phổ dành cho thanh thiếu niên. Các nhan đề gồm chủ đề tội phạm, lãng mạn, kinh dị và cả tiểu thuyết thông thường. Bộ sách này hiện nay đã ngưng phát hành, nhưng vẫn còn lưu giữ. Họ cũng xuất bản băng sách nói hấp dẫn cho lứa tuổi này.

     

    RNIB sản xuất hàng loạt “Sách truy cập được” bán giá rẻ ở dạng in chữ lớn hay chữ đại, và loại này có cả nhan đề cổ điển thích hợp cho chương trình giáo khoa.

     

    Đáng buồn là sự chọn lựa tài liệu in lớn vẫn còn rất hạn chế, và đa số là sách tiểu thuyết. Vẫn còn có nhu cầu chưa được đáp ứng là sách thông tin khoa học được in lớn, và đưa vào GCSE và sách giáo khoa dạng này.


    Back to Chapter index
    7.18. Tài liệu chữ Braille

    Theo ấn bản “Văn học cho mọi người” của RNIB (1999), có khoảng 23.000 thanh thiếu niên dưới 19 tuổi bị khiếm thị và có ít hơn 1000 em sử dụng chữ Braille (chiếm 4,3%). Tuy nhiên, có một điểm quan trọng hơn nữa là các em dùng chữ Braille địa phương. Thư viện có thể mua tài liệu chữ Braille từ Thư viện Quốc gia dành cho Người mù và Viện Nghiên cứu Người mù của Hoàng gia Anh  hoặc họ có thể tạo ra điểm truy cập để giúp trẻ mượn tài liệu từ hai nơi đó. Thông tin về dịch vụ mượn liên thư viện trên toàn quốc được giới thiệu ở Chương 11.

     

    Thư viện Quốc gia dành cho Người mù có bộ sưu tập lớn tài liệu chữ Braille dành cho trẻ đọc trôi chảy. Nó cũng có vốn tài liệu hay cho thanh thiếu niên, và cho mượn miễn phí. NLB còn cung cấp miễn phí danh mục sách cho thiếu nhi và thanh thiếu niên. Mục lục của nó có thể tra tìm trực tuyến (www.nlbuk.org) và website của nó cũng cho tiếp cận vào ‘Fiction Café’ (Xem 7.10). Việc đọc của trẻ cũng được nói đến trong các tạp chí “Đọc đi nào” và “Đọc cái mới” của NLB phát hành.

    RNIB có nhiều nhan đề chữ Braille bán giảm giá, đặc biệt là tài liệu học tập.

     

    Khi chọn tài liệu để mua, quan trọng là cần cân nhắc cân bằng giữa trình độ chữ Braille lớp 1 và lớp 2. Cho đến gần đây thì  trẻ được khuyến khích học chương trình Braille lớp 2 càng sớm càng tốt, nhưng hiện một số nhà chuyên môn cảm thấy rằng co ít có lợi trong khi chữ Braille nén và trẻ có thể tiến đến tốc độ cao hơn với chương trình lớp 1. Braille là hình thức mang tin cồng kềnh, vì thế cũng rất đáng để xem xét cách thức lưu trữ tài liệu 


    Back to Chapter index
    7.19. Tài liệu hình thức đôi

    Hơn 11.000 sách trong vốn tài liệu của ClearVision có thể giúp cả trẻ sáng mắt và người đọc chữ Braille chia sẻ sách, và thích hợp cho các em nhỏ và cho người học đọc chữ Braille. Sách tranh thông thường của thiếu nhi được chia riêng ra và phần chữ Braille trên loại giấy rõ hơn và chèn vào xen kẽ với loại giấy thường khác. Điều này có nghĩa là hình ảnh và chữ in cũng có thể thấy vì nhờ đọc phần văn bản chữ Braille. Sách cũng có lợi cho cha mẹ người đọc chữ Braille cũng như các em  đang học chữ Braille. Vốn tài liệu này có nhiều sách tranh của các tác giả viết sách thiếu nhi khá nổi tiếng, một số đối tượng đọc có “Story Chest”, loại sách bìa dày và sách thơ. Còn có bộ sưu tập quan trọng cho loại phi tiểu thuyết để hỗ trợ cho việc đọc theo chủ đề. ClearVision cũng có sách bìa dày có hình nổi  giới thiệu chữ Braille cho trẻ bị khiếm thị làm quen ngay từ khi các em còn nhỏ.

     

    ClearVision còn sản xuất sách truyện ngắn bằng chữ Braille gửi kèm theo một bản in thường. “Sách chuối”, “Xe đẩy” và “Superchamps” là những ví dụ cho bộ sách minh họa kiểu này. ClearVision vừa mới bắt đầu bộ sưu tập sách đơn giản in bằng chữ thường và chữ Moon. Bộ sưu tập có cả sách xuất bản của ClearVision, sách Hai-chiều trước đây có từ NLB, và còn có sách từ các nguồn cung cấp khác. Các tổ chức gồm thư viện công cộng trả 40 bảng hàng năm để đăng ký dịch vụ có thể mượn một lúc được 20 cuốn và có thể thay đổi đến 6 lần trong một năm.


    Back to Chapter index
    7.20. Tài liệu chữ Moon

    Đây là phương pháp khác đọc nổi. Học nhanh hơn nhưng không phổ biến như chữ Braille. ClearVision cho mượn sách hai hình thức cho trẻ học Moon, và NLB có 100 nhan đề sách thiếu nhi bằng chữ Moon, có cho mượn miễn phí,

     

    RNIB sản xuất mục lục sách chữ Moon bán giảm giá, mặc dù nó có thể mượn từ hệ thống cho mượn liên thư viện tài liệu chuyển dạng.


    Back to Chapter index
    7.21. Hình thức điện tử

    Đây là phương tiện thông tin rất hữu ích hay cũng có thể coi là phương tiện giải trí khi trẻ có thể làm việc với máy tính. Một số tính năng nâng cao của máy tính có trên Windows 95, 98, 2000 và XP. Phần mềm phóng đại màn hình và có bản hướng dẫn sử dụng các công cụ điều chỉnh có thể dùng các phần mềm thông thường và một số hệ thống phóng đại do RNIB sản xuất. (Thông tin chi tiết trình bày ở Chương 13).

     

    Một địa chỉ website rất có ích cho các em (tuổi từ 11-16) gặp vấn đề về thị lực có thể tham khảo tại địa chỉ website www.sortit.org.uk, có các thông tin về hoạt động giải trí, chủ đề đặc biệt, phỏng vấn hay bảng thông báo.

     

    Chivers-Ramesis cung cấp dịch vụ CD-Rom bán hơn 400 phần mềm học tập và trò chơi cho các đối tượng từ 0-12 tuổi và hơn 100 nhan đề phục vụ học tập cho lứa tuổi từ 11-18 tuổi. Tất cả những nhan đề trên đều có thể được mượn.


    Back to Chapter index
    7.22. Thông tin cho phụ huynh

    Cũng cần xem xét đến dịch vụ cung cấp thông tin cho phụ huynh và những người chăm sóc trẻ. Có nhiều nhu cầu cần chú trọng trong quá trìn tư vấn tham khảo ý kiến. Danh mục sách trọng tâm có thể bao gồm các thông tin sau:

    a)  tổ chức địa phương và quốc gia;

    b)  địa chỉ website hữu ích;

    c)  dịch vụ chăm sóc vào ngày nghỉ và lễ;

    d)  những lợi ích;

    e)  tổ chức giáo dục;

    f)  những công trình nghiên cứu về người khiếm thị;

    g)  thông tin về điều kiện y tế.

     

    Website, tờ rời và các tạp chí như “Khả năng thị lực” (RNIB) và “Nhìn” (Hiệp hội gia đình người khiếm thị quốc gia) thật sự là các nguồn thông tin có ích cho các đối tượng này. 


    Back to Chapter index
    7.23. Nhà cung ứng và các địa chỉ cần thiết

    Bag Books

    Chris Fuller, 60 Walham Grove, London SW6 1QR
    Tel: 020 7385 4021 Fax: 020 7385 4021
    email: bagbooks@appleonline.net
    (Xuất bản sách truyện cho trẻ từ 3 tuổi trở lên và trẻ gặp khó khăn trong việc học, có sách bìa dày, hay tài liệu cảm ứng có tiếng động rất có lợi cho trẻ khiếm thị. Có 13 loại trọn gói khác nhau cho từng cá nhân hay tập thể nhóm hiện bán hạ giá)

     

    Bags of Books

    1 South Street, Lewes, East Sussex, BN7 2BT
    Tel: 01273 479320 Fax: 01273 478404
    email: bagsofbooks@bags-of-books.co.uk
    website: www.bags-of-books.co.uk

     

    BBC Cover to Cover Cassettes
    BBC Worldwide, Woodlands, 80, Wood Lane, London W12 0TT
    Tel: 020 8433 2200 Fax: 020 8749 0538
    email: sales@bbc.co.uk website: www.bbc.co.uk

     

    Calibre (Cassette library for the blind and print disabled)
    Aylesbury, Buckinghamshire, HP22 5XQ
    Tel: 01296 432339 Fax: 01296 392599
    email: enquiries@calibre.org.uk
    website: www.calibre.org.uk

     

    Chivers Press (BBC)
    Windsor Bridge Road, Bath BA2 3AX
    Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
    email: info@chivers.co.uk
    website www.chivers.co.uk
    (Cung cấp sách in lớn, băng cassettes và có một số mang hình thức cả hai phiên bản trong một gói)

     

    Chivers-Ramesis
    Windsor Bridge Road
    , Bath BA2 3AX

    Tel: 01225 335336 Fax: 01225 310771
    email: info@chivers.co.uk
    website www.ramesis.com
    (cho mượn CD-ROM)

     

    ClearVision Project

    Linden Lodge School, 61 Princes Way, London SW 19 6JB
    Tel: 020 8789 9575
    email: info@clearvisionproject.org
    (Trên 1,500 nhan đề, kể cả sách nổi cho trẻ nhỏ, chủ yếu hướng vào đối tượng chưa đến trường hay tuổi cấp 1).

     

    Letterbox Library

    71-73 Allen Road, Stoke Newington, London N16 8RY
    Tel: 020 7503 4801 Fax: 020 7503 4800
    email: info@letterboxlibrary.com
    website: www.letterboxlibrary.com

     

    LFC Despatch Line

    Freepost ANG9675, PO Box 188, Hoddesdon,
    Hertfordshire EN11 0BR
    Tel: 0800 616621 Fax: 0800 616629
    email: projects@lfc-ltd.co.uk

    website: www.lfc-ltd.co.uk

     

    Look: Hiệp hội gia đình trẻ khiếm thị

    National Office, c/o Queen Alexandra College, 49 Court Oak Road, Birmingham B17 9TG
    Tel: 0121 428 5038 Fax: 0121 427 9800
    email: office@look-uk.org

    website: www.look-uk.org

     

    Hội Thiếu nhi mù

    NBCS House, Market Street, Highbridge, Somerset TA9 3BW
    Tel: 01278 764764 Fax: 01278 764790
    email: enquiries@nbcs.org.uk

    website: www.nbcs.org.uk

    (có dịch vụ thu âm, cung cấp cả sách chữ lớn và chữ đại có trên 100 nhan đề có tểh đặt hàng chỉ cung cấp lẻ cho cá nhân)

     

    Thư viện Quốc gia cho Người mù Far Cromwell Road, Bredbury, Stockport, SK6 2SG
    Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
    email: enquiries@nlbuk.org

    website: www.nlbuk.org

     

    National Portage Association

    PO Box 3075, Yeovil, Somerset BA21 3FB
    Tel/Fax: 01935 471641
    email: npa@portageuk.freeserve.co.uk

    website: www.portage.org.uk

     

    Peters Bookselling Services

    120 Bromsgrove Street, Birmingham B5 6RJ
    Tel: 0121 666 6646 Fax: 0121 666 7033
    email: sales@peters-books.co.uk

    website: www.peters-books.co.uk

    (nhà cung ứng đặc biệt dịch vụ thư viện thiếu nhi  )

     

    REACH: National Advice Centre for Children with Reading Difficulties
    California Country Park, Nine Mile Ride, Finchampstead,
    Berkshire RG40 4HT

    Tel: 0845 604 0414

    email: enquiries@reach-reading.demon.co.uk

    website: www.reach-reading.demon.co.uk

     

    Royal National Institute For the Blind (Customer Service),
    PO Box 173, Peterborough PE2 0WS
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    email: enquiries@rnib.org.uk

    website: www.rnib.org.uk

    (Có thể tải thông tin về các chương trình và tổ chức như ClearVision, Clearly a better read, Screen magnification systems, Technology in Learning and Employment and The National Literacy Strategy – Literacy for all).

     

    Ulverscroft Large Print Books Ltd.

    The Green, Bradgate Road, Anstey, Leicester LE7 7FU
    Tel: 0116 236 4325 Fax: 0116 234 0205
    email: sales@ulverscroft.co.uk
    website: www.ulverscroft.co.uk

     

    Tổ chức ở Việt Nam

    Hội người mù Việt Nam

     

    Trường Nguyễn Đình Chiểu

     

    Mái ấm Thiên Ân

     

    Thư viện chữ nổi

     

    Thư viện sách nói. Hội Phụ nữ từ thiện Thành phố Hồ Chí Minh

     

    Studio sản xuất sách nói kỹ thuật số. Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phô! Hồ Chí Minh

    Thư viện Hà Nội

     

    Trung tâm phát hành băng đĩa Trùng Dương

     

    Trung tâm dịch vụ đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

    Trung tâm Dịch vụ đài phát thanh Thành phố Hồ Chí Minh

    Trung tâm Tin học Sao Mai

     


    Back to Chapter index
    7.24. Tài liệu tham khảo

    Blanshard, C. (1998). Quản lý dịch vụ cho thiếu nhi và thanh thiếu niên: cẩm nang thực hành. Hội thư viện

     

    Cẩm nang cho lời khuyên rõ ràng và rất có ích cho việc lập kế hoạch dịch vụ chung cho thiếu nhi và đối tượng trẻ có nhu cầu đặc biệt 


    Botten T., và nh. ng. khác. (1999). Bí quyết thực hành cho các thư viện công cộng: hỗ trợ nghiên cứu. Trường đại học Strathclyde.


    Do Hội thư viện xuất bản và hiện có tại dịch vụ Thông tin, Viện Thông tin thư viện Chartered

    7 Ridgmount Street, London WC1A 7AE

     

    CIPFA. (1997). Cẩm nang phục vụ thiếu nhi: tiêu chuẩn quốc gia khảo sát thiếu nhi và thanh thiếu niên ở thư viện công cộng và cộng đồng. London: Trung tâm cải tiến và và nghiên cứu Thư viện/ Viện tài chính công (IFP).

     

    Fryer, C. (2000). Birmingham: phát triển dịch vụ giáo viên tổ chức đưa trẻ đến thăm các gia đình trẻ em khiếm thị người Châu á. Tạp chí Visibility số 28, Xuân 2000, tr. 8.

    Great Britain. Acts. (1998). Đạo luật Bảo vệ dữ liệu. Chương 29. Luân đôn: HMSO.

     

    www.legislation/hmso.gov.uk/acts/acts1998/19980029.htm
    Hướng dẫn thi hành đạo luật 

    www.dataprotection.gov.uk

    Royal National Institute for the Blind. (1999). Đọc rõ hơn. RNIB.

    Royal National Institute for the Blind. (1999). Văn học cho mọi người. RNIB.

    Royal National Institute for the Blind. (2000). Định hình cho tương lai. Kinh nghiệm của người mù và khiếm thị tại Anh quốc. Báo cáo tóm tắt. Tác giả Issy Cole-Hamilton and Dan Vale. Luân đôn: RNIB.

     

    Báo cáo này là một kết quả trong sáu cuộc khảo sát.

     

    1. Định hướng tương lai: phương pháp luận nghiên cứu và khảo sát.


    2. Kinh nghiệm giáo dục của người mù và khiếm thị từ 5-16 tuổi

    3. Kinh nghiệm giáo dục của người khiếm thị từ 16 đến 25 tuổi .


    4. Hoạt động giải trí và xã hội của trẻ và thanh thiếu niên mù và khiếm thị ở Anh từ 5 đến 25 tuổi

     

    5. Sức khoẻ và tài chính của trẻ và thanh thiếu niên mù và khiếm thị ở Anh từ 5 đến 25 tuổi.

     

    Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Người mù và khiếm thị ở Anh: khảo sát của RNIB. Luân đôn: RNIB. Chương  6, p. 65.

     


    Back to Chapter index
    7.25. Sách thiếu nhi

    Archer, Elanor. (March 2000).

    Nhà vô địch Judo: Ian bị mù. Watts.

    Church, D. (March 2000).

    Con đường đến trường: Georgia bị mù. Watts.

    Doherty, Berlie. (1989).

    Cái sừng biết nó. Hamish Hamilton.  Collins.

    Hest, Amy. (1996).

    Vịt con và đôi kính tệ hại. Walker.

    Horgan, Dorothy. (1998).

    Mắt của Charlie. Puffin.

    Mandy and Ness. (1998).

    Phòng của Rosie: cuốn sách đầu tiên về sáng mắt. Little Hippo.

    Wild, Margaret. (1999).

    Tất cả tốt hơn để nhìn bạn với. Allen and Unwin.

    Wild, Nicholas. (1987).

    Trong bóng tối. Collins.

     


    Back to Chapter index
    8.1.1. Hiện trạng

    Đối với người mù và mất thi lực, vấn đề khó khăn trong việc đọc tài liệu in được đặt ra là phải tìm được hình thức tài liệu thay thế nào làm phương tiện để kết nối được khoảng cách giao tiếp thông tin cho họ. Các hình thức phổ biến hiện nay là tài liệu chữ lớn, sách nói, tài liệu nổi (Braille and Moon) và văn bản điện tử. Một số ít người sử dụng chữ Braille, nhưng nó không phải là hình thức hiệu quả nhất để thay thế tài liệu in thông thường. Văn bản điện tử ngày càng nhanh chóng bộc lộ tính năng động vì có thể chuyển đổi điện tử thành nhiều hình thức thay thế khác nhau. 

     

    Do cộng đồng sử dụng tương đối ít, và chi phí sản xuất cao, tài liệu thay thế đã từ lâu lệ thuộc vào khả năng của tổ chức hay cá nhân tình nguyện. Tình hình này dẫn đến việc xây dựng các tổ chức quốc gia tập trung hóa công tác sản xuất và xử lý như Dịch vụ sách nói R.N.I.B, Thư viện sách Braille NLB, còn có một số nơi khác là các cơ quan tình nguyện trong địa phương hay khu vực. Những dịch vụ cấp quốc gia này thường cho sản phẩm chất lượng, phát triển tốt và là nguồn chủ lực cung cấp tài liệu và thông tin cho người mù và khiếm thị. 

     

    Sự tiến bộ của máy cassette và sách chữ lớn đã tạo thế phát triển cho thị trường kinh doanh xuất bản sách phổ thông và giải trí. Điều này buộc các thư viện chú ý nhiều hơn đến người khiếm thị và khuyết tật như một phần nào trong công tác phát triển dịch vụ của họ.

     

    Nhiều tài liệu chuyển dạng, đặc biệt là ở khu vực kinh doanh, chủ yếu là tài liệu phổ thông cho cả dạng tiểu thuyết và phi tiểu thuyết, đặc biệt là loại sách tiểu sử. Dạng ấn bản âm thanh thì có nội dung bị rút gọn, và xuất bản chậm hơn nhiều so với tài liệu in thông thường. Chỉ có một số ít tài liệu được làm cho đọc giả theo yêu cầu riêng của họ.


    Back to Chapter index
    8.1.2. Mở rộng khả năng chọn lựa

    Báo cáo của Công ty Thông tin Kế hoạch Đầu tư (C.P.I, 2000) gần đây bàn về vấn đề “Hợp tác chọn lựa tài liệu để chuyển dạng” và nhu cầu cần nhiều tài liệu dưới nhiều hình thức thay thế khác nhau. “Nhìn chung, sự thiếu hụt tài liệu ngày càng là một thách thức lớn, tài liệu xuất bản kể cả loại tiểu thuyết và phi tiểu thuyết cho người lớn ở mọi hình thức đều không đủ…” Thị trường lớn nhất hiện nay là sách chữ lớn và đặc biệt thiếu tài liệu phục vụ cho thiếu niên và sách phi tiểu thuyết cho người lớn. Hiện tại không có nhà cung ứng nào xuất bản sách cỡ chữ 24 cho các em ở lứa tuổi thiếu niên bị khiếm thị. Tài liệu chữ lớn không được hưởng lợi ích từ dịch vụ bưu kiện miễn phí theo GPO quy định, đã ảnh hưởng rất lớn đến phần đông những người khiếm thị muốn sử dụng những tài liệu này tới...

    “Hiện nay khuynh hướng tài liệu dành cho người lớn tuổi, chủ yếu là cho các đầu sách bán chạy hay nói về vấn đề của người già,…” Sự phát triển của U3A và các chủ trương học tập suốt đời đã phản ánh rộng các mối quan tâm của người cao tuổi, nhưng không được phản hồi từ thị trường sách chữ lớn.”

     

    Cho mãi đến gần đây với những ý kiến đóng góp giữa các nhà công tác tình nguyện về việc đảm bảo đầu sách phủ rộng được hết các chủ đề. Một số tựa sách chỉ xuất hiện ở một loại chuyển dạng trong khi đó có một số được chuyển sang một vài hình thức nữa. Một trong những đầu ra của xuất bản phẩm đáng kể nhất là sự phối hợp gần đây giữa R.N.I.B và NLB sẽ hợp tác sản xuất sách để tránh sự trùng lặp và bổ sung thêm nguồn lực vốn bị hạn chế trong thị trường này. Cũng có một số ít đạt được thỏa thuận giữa nhà xuất bản, thư viện và người sử dụng. Các nhà kinh doanh sách, vì họ là nhà thương mại, nên chỉ cho ra các nhan đề chuyển dạng mà phải đảm bảo là bán được. Ước tính tại Anh quốc hàng năm chỉ có từ 3 đến 5% trong hơn 100.000 nhan đề xuất bản ở hình thức thay thế. Năm 1998, có khoảng 103.000 nhan đề mới được xuất bản trong đó có 2.000 tài liệu chữ lớn và 4.500 sách nói.


    Back to Chapter index
    8.2.1. Nhu cầu người sử dụng

    Dịch vụ thư viện phải được tổ chức để đáp ứng hiệu quả việc cung cấp tài liệu đọc và thông tin ở hình thức thay thế và điện tử.

     

    Việc cung cấp khả năng truy cập dịch vụ phải là công tác trọng tâm chứ không phải được coi là hàng thứ yếu hay chỉ có vai trò phụ trợ. Báo cáo dự án Reviel (Brophy và Craven, 1999) trình bày “theo mong đợi của độc giả, việc định ra nguồn lực thì không chỉ đơn giản là vấn đề là cái gì trong chủ đề đó” mà còn cả khả năng định ra được đặc điểm nội dung, …, hình thức cũng là yếu tố rất quan trọng trong một số trường hợp cụ thể. Một độc giả có thể muốn sách, nhưng là sách chữ lớn, sách có tranh minh họa, băng cassette, chữ Braille, chữ Moon, bản điện tử có thể dùng máy tính để đọc (dưới nhiều hình thức khác nhau), một bản điện tử đọc bằng thiết bị chuyên dụng mà sản phẩm đầu ra ở dạng chữ Braille, hình thức đặc biệt nào đó đọc bằng máy chuyên dụng. Một thư viện…cần có khả năng giải quyết các yêu cầu trên bằng cách trình bày đầy đủ các đặc điểm, và đáp ứng tùy theo từng yêu cầu…” Hơn nữa thường thông tin giống nhau có thể trình bày bằng nhiều hình thức khác nhau, và có lẽ với nhiều khoản khác nhau, thì điều kiện và chi phí thực hiện cũng khác nhau.”  

     

    Nhân viên thư viện nên nhắm tới việc xây dựng kiến thức về các thể loại tài liệu mà từng thành phần độc giả thích đọc và thích ở dạng nào. Có thể một người thích sử dụng hình thức này cho việc học nhưng khi nghe giải trí thì lại thích dùng hình thức tài liệu thay thế dạng khác.

    Với người đang học, tốc độ truy cập là yêu cầu tối cần thiết nhất. Nhu cầu có văn bản nào đó để có thể hoàn thành bài tập đúng giờ có thể tạo nên sự khác biệt để người đó có thể hoàn thành bài tập của mình đúng giờ.


    Hai cuộc khảo sát gần đây cung cấp các bằng chứng có giá trị về các vấn đề này và nhu cầu của bạn đọc khiếm thị. Khảo sát của RNIB “truy cập thông tin văn bản” (Bruce và Baker, 2001) phân tích nghiên c
    ứu trên mẫu khảo sát của 1.000 người khiếm thị; và một cuộc khảo sát của LISU (Davies và nh. ng. khác, 2001) thảo luận về sở thích đọc và quan điểm của họ về dịch vụ thư viện.

     

    Người vừa điếc vừa mù có nhiều nhu cầu cá nhân rất riêng biệt. Tài liệu “Sách trợ giúp người vừa mù vừa điếc” (White, 2001) hướng dẫn thực hành và đề cập cả phần truy cập thông tin của họ.


    Back to Chapter index
    8.2.2. Chính sách bổ sung

    Dịch vụ thư viện cần xây dụng chính sách bổ sung, và trong đó phải tính đến nhu cầu của người khiếm thị. Một cuộc khảo sát gần đây của L.I.S.U (Kinnell và nh. ng. khác, 2000) nhận ra các khoản thiếu hụt trong chính sách và mức độ không đầy đủ của việc quản lý thông tin lập kế hoạch xây dựng vốn tài liệu. Báo cáo khảo sát đề nghị, đối với thư viện công cộng, nên đưa chính sách bổ sung vào kế hoạch hàng năm, có mục tiêu rõ ràng và dữ liệu C.I.P.F.A thể hiện được thông tin về tài liệu thay thế nên được tính đến cả nhan đề báo nói và chữ lớn.

     

    Chính sách bổ sung sẽ nên tính đến nhu cầu về tài liệu thay thế dựa vào ý kiến tham khảo từ bạn đọc và cả những độc giả tương lai, về việc sử dụng tài liệu và những lổ hổng trong dịch vụ, kể cả phần dự báo nhu cầu tương lai. Trong khi xây dựng ý kiến đóng góp vào chính sách, quan trọng là nên nhớ người khiếm thị sẽ không phải luôn trình bày được một cách quả quyết nhu cầu của mình.

     

    Chính sách bổ sung nên trình bày được ý định phục vụ cho nhu cầu cần sử dụng tài liệu thay thế, và cách thức để đạt được điều đó. Không phải là hiệu quả nếu tất cả các thư viện đều lưu trữ nhiều tài liệu dưới nhiều hình thức chuyển dạng, vì thế quyết định trong chính sách về hình thức tài liệu cần được đưa ra để xem cái nào mua lưu trữ dài hạn, hay cái nào thì tốt nhất là đăng ký sử dụng qua các tổ chức quốc gia và cái nào thì có thể đặt chuyển dạng theo yêu cầu  (cho dù dịch vụ này lưu hành nội bộ hay theo hợp đồng với các tổ chức địa phương và trong khu vực). Một số yêu cầu cá nhân hiện nay cũng được giải quyết qua hệ thống mượn liiên thư viện. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng và nhu cầu sẽ quyết định  mục tiêu để xác định tỷ lệ và kinh phí phân bổ bổ sung. Như các khoản tài liệu khác, các mục tiêu xác định phải tính đến tỷ lệ vốn tài liệu, tỷ lệ lượt phục vụ tài liệu, điều kiện, tuổi tác và chất lượng tài liệu. Chính sách nên có phần tham khảo số liệu tổ chức vốn tài liệu, trùng bản và số lượt phục vụ. 

     

    Sự cân bằng về vốn tài liệu và đăng ký mua hay dịch vụ chuyển dạng rõ ràng tùy thuộc vào loại hình tài liệu và qua đánh giá nhu cầu của địa phương. Tuy nhiên, nguyên tắc cơ bản nhất là chính sách tài liệu nên nhắm đến tính thống nhất đồng bộ cho độc giả, bằng cách truy cập tài liệu của nhiều cơ quan chuyên nghiệp. Theo xu hướng hiện nay, các tổ chức này đang làm việc với nhau để cùng cải thiện dịch vụ của họ, R.N.I.B và NLB đặc biệt là tìm cách phối hợp với các thư viện và hình thành nhiều mô hình dịch vụ mới.

     

    Chính sách bổ sung cũng cần phải đánh giá chỉnh sửa theo định kỳ, phải tính đến các hình thức tài liệu vừa mới xuất hiện, đặc biệt là sách nói kỹ thuật số và văn bản điện tử.


    Back to Chapter index
    8.2.3.1.

    Chọn lựa tài liệu cần tính đến nhiều thành phần độc giả từ thiếu nhi, thiếu niên, người cao tuổi, sinh viên hay học viên lớn tuổi, với sự khác nhau về sở thích, quan tâm, và nhu cầu đọc cũng như yêu cầu hình thức tài liệu cũng khác nhau. Sự có mặt kịp thời của một số tài liệu sẽ là điều rất quan trọng, cho dù đó là nhu cầu đọc nhật báo trong ngày ở dạng thay thế hay để kịp chuẩn bị làm bài kiểm tra. Quá trình chọn và mua sẽ đựơc yêu cầu để đảm bảo cho những nhu cầu thế này. Ví dụ, ở các thư viện trường đại học, một số thông tin cần biết thêm như nội dung chương trình giảng dạy, danh mục tài liệu đọc tham khảo cũng là những công cụ quan trọng để dự báo cho nhu cầu đọc của người sử dụng.

     

    Một trong số các vấn đề là ít có cơ hội để tìm tài liệu thay thế trước khi đặt mua. Ulverscroft và Magna có phòng trưng bày ở Anstey (Leicester), Consett (Co. Durham), Glasgow, Llandrindod Wells, London, Long Preston, Padstow (Cornwall) nhưng không phải luôn thuận tiện cho cán bộ thư viện đến xem thường xuyên. Tài liệu nói hay chữ lớn hầu hết được chọn từ các danh mục in sẵn.


    Back to Chapter index
    8.2.3.2. Hợp tác bổ sung

    Hiện nay, việc chọn lựa tài liệu bị hạn chế rất lớn do có quá ít nhan đề để chọn lựa. Chính sách chọn lọc tài liệu phải nhắm đến việc mở rộng việc chọn lựa bất cứ ở đâu có thể và có nơi đã tiến hành được công tác bổ sung tài liệu theo hiệp hội:

     

    "Nguồn bổ sung hợp tác của một số thư viện đã làm các nhà xuất bản sách chữ lớn và sách nói thay đổi hẳn quan điểm, càng có nhu cầu đọc lớn thì càng có tính cạnh tranh trên thị trường xuất bản.  Những dãy sách chữ lớn bìa dày kiểu cũ bộc lộ cho độc giả biết đây là sách chủ yếu dành cho người già và những người không thể đến thư viện do bệnh hay tàn tật.  Thế hệ mới những người sử dụng tài liệu chữ lớn sẽ yêu cầu nhiều sách có nội dung thu hút hơn, thiết kế đẹp hơn và nhiều tiểu thuyết ở nhiều chủ đề khác nhau" (Henderson, 2000).

     

    Trong một số trường hợp, có thể có những hợp đồng bổ sung nhằm thực hiện một cuộc vận động đọc nào đó, ví dụ Well Worth Reading, và đó cũng là một cách để mở rộng phạm vi nội dung tài liệu.

     

    Bổ sung hợp tác các nhan đề tài liệu chuyển dạng cũng là một chọn lựa được đề xuất trong báo cáo C.P.I (C.P.I, 2000). Yêu cầu các thư viện cam kết đồng ý mua một số nhan đề chung, và có cơ chế để đảm bảo chi phí sản xuất. Việc chọn lựa có thể cũng có lợi ích nhờ vào sự hợp tác giữa các thư viện trong vùng hay khu vực đồng ý về cách thức mua và sử dụng, ví dụ dạng văn bản và việc đọc thêm của độc giả và cũng nói đến sự hợp tác phân phối dịch vụ chuyển dạng đến nơi có yêu cầu có thể mang đến hiệu quả đầu tư cao hơn là so với việc từng nơi tự mua riêng lẻ.


    Back to Chapter index
    8.2.3.3. Dịch vụ trong thư viện

    Thư viện nên kết hợp chặt chẽ các yêu cầu tài liệu với nhu cầu của người khiếm thị. Trong khi những nổ lực đang diễn ra, qua Nhóm Bổ sung Quốc gia để đạt được những chuẩn tối thiểu về bảo quản trong thư viện, sẽ có ích nếu được mở rộng cho cả nhu cầu của người khiếm thị. Những nhãn gáy nên được in cỡ chữ 14 đậm kiểu không chân, và nhãn ngày thì chừa đủ chỗ để đóng dấu cũng với kích cỡ tương tự. Địa chỉ, số điện thoại hoặc các thông tin khác trên nhãn ngày nên theo chỉ dẫn trong quyển “Hướng dẫn in rõ” của RNIB. Băng cassette nên có nhãn in chữ lớn và rõ hoặc nhãn nổi có số thứ tự của mỗi băng trong một bộ sách. 


    Back to Chapter index
    8.2.4.1.

    Đối với thư viện công cộng, tỷ lệ phân bổ kinh phí bổ sung cụ thể nên để dành một khỏan  riêng cho tài liệu chuyển dạng. Khoản này nên quy định dựa vào việc đánh giá nhu cầu của độc giả hiện tại và tương lai, và theo dạng tài liệu được yêu cầu. Kinh phí nên tính đến các khoản như chi phí mua tài liệu, chi phí đăng ký sử dụng các tài liệu chuyên biệt của tổ chức dịch vụ như R.N.I.B, và chi phí yêu cầu mượn liên thư viện, và chuyển dạng tài liệu.

     

    Truy cập vào tài liệu chuyên dụng như sách nói của R.N.I.B, trong một số trường hợp, thường bị ngăn chặn do thiếu kinh phí, trì hõan có chủ ý, hay do bám theo chỉ tiêu kế hoạch đặt sẵn trong nội bộ. Những điều khoản của DDA đã buộc phải đưa vấn đề này ra xét xử, và cũng là dịp cho dịch vụ thư viện phải xem xét lại nhu cầu tăng cường khả năng truy cập và tài trợ đăng ký sử dụng dịch vụ, với sự góp ý của các đồng nghiệp bên ban dịch vụ xã hội. Nó cũng đề nghị thư viện phải có trách nhiệm quản lý ngân sách và đăng ký sử dụng (những nơi chưa thực hiện việc này) để dịch vụ cho người khiếm thị hòa nhập với dịch vụ chung của thư viện. Cũng có thể thương lượng hợp đồng dịch vụ với R.N.I.B để đăng ký cung cấp độc giả dịch vụ trọn gói sử dụng tại chỗ.

     

    Lúc nào có thể, kinh phí phải luôn tính đến việc phân phối tài liệu chuyển dạng cho người khiếm thị. Có cả phần dịch vụ chuyển tài liệu qua đường bưu điện và đến tận nhà. Và ho mượn trang thiết bị chuyên dụng để đọc. Cũng cần một khỏan kinh phí để biên mục và làm danh mục các tài liệu thay thế.


    Back to Chapter index
    8.2.4.2.

    Ở các thư viện trường đại học, nhu cầu gần như thay đổi hàng năm, phụ thuộc vào đầu vào của sinh viên, và nhu cầu chuyển dạng tài liệu theo yêu cầu ngày càng nhiều hơn. Nên đánh giá yêu cầu sử dụng kinh phí cho số sinh viên bị khiếm thị hay đa khuyết, các lớp có những sinh viên này đăng ký học thì có nhu cầu sử dụng trang thiết bị, hỗ trợ cá nhân cũng như cần đến tài liệu thay thế. Vì thế cần có chương trình lập kế hoạch phẩn bổ kinh phí trong xây dựng vốn tài liệu là rất quan trọng.


    Back to Chapter index
    8.3. Tài liệu chữ lớn

    Một khảo sát của R.N.I.B (Bruce và nh. ng. khác, 1991) cho biết trong khỏang 1.7 triệu người khiếm thị ở Anh quốc, có khoảng 36% người mù và 75% trong số đó có thể đọc chữ lớn rõ ở một mức độ chừng mực nào đó. "Mặc dù kết quả của các nghiên cứu không phải bao giờ cũng bao quát hết được, dường như vẫn còn nghi ngại chút ít về việc người khiếm thị đọc nhiều và nhìn chung là tài liệu không đáp ứng được nhu cầu của họ” Mặc dù người bị giảm thị lực nhiều sẽ có thể đọc chữ lớn khó khăn, phải dùng các thiết bị trợ thị, có khoảng 23% biết sử dụng công cụ đó để đọc thêm sách giải trí (Bruce và nh. ng. khác, 1991).

     

    Chữ lớn đặc biệt quan trọng cho độc giả hiện tại bị giảm thị lực, có ý nghĩa quan trọng là làm cho họ cũng là bạn đọc thư viện và cũng dùng được các tài liệu in ấn. Với những người chưa sử dụng thư viện, nó cũng là động cơ khuyến khích họ trở thành độc giả. Chữ lớn cũng cho hình thức chuyển dạng đối với người bị đang bị giảm thị lực giúp họ có thể kéo dài được thời gian đọc cho đến khi thích nghi với việc sử dụng tài liệu chuyển dạng.

     

    Trong một số trường hợp, chữ lớn dùng kèm theo với tài liệu nói như kèm với phần mềm đọc màn hình. Vì thế chữ lớn cũng đóng vai trò quan trọng trong mọi phương diện của dịch vụ thư viện như cung cấp tài liệu đọc, hướng dẫn dịch vụ và các bảng biểu chỉ dẫn.


    Back to Chapter index
    8.3.1. Đặc điểm của tài liệu chữ lớn

    Về kỹ thuật in mà nói thì chữ lớn được phân biệt dựa vào kích cỡ chữ là chủ yếu. Nhưng xét đến phương tiện phục vụ người khiếm thị thì còn có một số yếu tố khác phải nói đến như phải đảm bảo chữ dễ đọc và rõ ràng. Những yêu cầu này gồm độ dày, độ nét của các ký tự, khoảng cách giữa các ký tự, khoảng cách giữa các dòng và độ tương phản giữa chữ in và nền.

     

    Theo quy định chung, R.N.I.B đề nghị dùng kiểu chữ không chân (Arial, Univers or Helvetica) với độ nét vừa hay đậm. Cỡ chữ nhỏ nhất là 14. Thay đổi độ tương phản trên nền nhám và chữ đen trên nền trắng hay vàng là nên chọn. Quan trọng cần nhớ kỹ là còn tùy thuộc vào độ thị lực của cá nhân người khiếm thị mà cỡ chữ, nét chữ của tài liệu chữ lớn nói riêng và tài liệu bất kỳ nào khác cũng vì thế mà cần thay đổi.Ví dụ một số người thích dùng chữ có chân hơn là không chân hay thích dùng ở một cỡ chữ nào đó. Vì thế quan trọng là cần nhận ra sở thích cá nhân của người đọc khi cần thì nên chỉnh sửa cho từng trường hợp cụ thể.


    Back to Chapter index
    8.3.2. Chữ phóng to

    Cần phân biệt giữa chữ lớn và chữ phóng to. Làm lớn chữ in bằng cách phóng to vẫn giữ lại được những đặc tính của tài liệu gốc mà nó không cần thiết phải đáp ứng được những đặc tính đọc rõ của chữ lớn. Mặc dù mở thêm khả năng truy cập vào các văn bản mà tưởng chừng như không thể nào phục vụ được người khiếm thị nhưng đó không phải là cách mà phù hợp được hết tất cả độc giả đọc chữ.


    Back to Chapter index
    8.3.3. Chữ lớn xử lý số bằng điện tử

    Việc sản xuất chữ lớn và chữ phóng to qua việc sử dụng các trang thiết bị như máy photocopy phóng to, CCTV và hệ thống máy tính hóa mở rộng khả năng đọc và cung cấp lượng thông tin đáng kể mà nếu không chỉ còn cách là đọc chữ in thông thường. Mặc dù có những hạn chế do luật bản quyền hiện tại còn gây nhiều khó khăn, nó cũng đã mở ra một khả năng lựa chọn khác cho sinh viên nếu cần sẽ có thể yêu cầu văn bản cho bài học theo đúng thời gian làm bài. 

     

    Hệ thống máy tính hóa có những thêm những thuận tiện cho phép đạt được những chuẩn đọc rõ chấp nhận được nhờ vào việc điều chỉnh co chữ và sử dụng máy in laser chất lượng cao. Dùng máy quét cũng tạo cơ hội cho bản sao còn đẹp hơn cả bản gốc. Thiết bị đầu ra là máy in hay màn hình có thể cũng được điều chỉnh theo sở thích cá nhân như co chữ hay màu nền.


    Back to Chapter index
    8.3.4. Sách chữ lớn

    Đây là nguồn tiêu biểu để đọc sách kể cả vì mục đích giải trí, mà hầu hết là do giới xuất bản thương mại sản xuất. Thậm chí hơn thế, số nhan đề được xuất bản hàng năm là 2000, thì quá ít nếu so với tổng đầu sách in thông thường hàng năm được xuất bản. Số lượng nhan đề cũng bị co hẹp, chủ yếu là chọn những sách tiểu thuyết hay phi tiểu thuyết phổ biến mà bị cho là mang tính thương mại, không có một biểu hiện đáp ứng nhu cầu người thiểu số. Co chữ tài liệu thường dao động từ 16 đến 20.


    Back to Chapter index
    8.3.4.1. Sách in chữ lớn và chữ đại

    Từ năm 1999 đến 2001, RNIB đã sản xuất một số ít nhan đề cổ điển loại giấy thường (Dự án sách truy cập được) ở dạng chữ đại đến cỡ 24. Bộ sách này có một số nhan đề cho thiếu nhi. Do kích cỡ, nên trên một dòng có rất ít chữ vì thế sách trở nên cồng kềnh và rất lớn. Mỗ tháng chỉ có hai hoặc ba nhan đề được sản xuất. Mặc dù việc sản xuất bộ sách này hiện đã bị ngưng lại, RNIB vẫn còn các đầu sách loại này có thể đăng ký mua được.


    Back to Chapter index
    8.3.4.2.

    Thư viện công cộng là nơi mua loại sách chữ lớn chử lực nhất. Nó không thường có ở các nhà sách và có rất ít nơi có ngoại trừ ở một số hội người mù hay cơ quan tương tự lớn hơn.

    Do phạm vi sử dụng hạn chế nên số lượng và chất lượng có giới hạn, và thư viện có trách nhiệm lớn để đảm bảo việc có mặt đầy đủ của sách loại này trong kho của mình và phân bố đến các điểm dịch vụ.

     

    Cũng có khi cán bộ thư viện chủ động nỗ lực vận động thu hút bạn đọc dùng sách chữ lớn để mở rộng thị phần dùng loại này. Với nhiều người trẻ tuổi, có nhu cầu tiềm tàng là sách giáo khoa cũng như sách thiếu nhi ở nhiều thể loại.

     

    Nhiều thủ thư bày tỏ thiện chí làm việc này trong khu vực họ quản lý trong các chương trình mục tiêu của khu vực hay quốc gia. Ví dụ như:

     

    a)  tổ chức nhóm khuyến khích đọc;

    b)  điều tra lại nhu cầu của nhóm người thiểu số và chọn tiêu biểu các nhan đề tài liệu  của người thiểu số;

    c)  tìm cách tăng thêm số nhan đề nếu được;

    d)  làm việc với nhà xuất bản để vận động việc sản xuất sách chữ lớn.


    Back to Chapter index
    8.3.5. Báo tạp chí

    Có một số nhan đề báo và tạp chí được sản xuất dạng chữ lớn nhưng rất ít ỏi chủ yếu là tài liệu chuyên đề dành cho người khuyết tật hay do các cơ quan tổ chức của người khuyết tật làm ra.

     

    'Big Print' là nhan đề báo tuần duy nhất ở Anh dạng chữ lớn. Co chữ gấp đôi bình thường, chủ đề tổng hợp kể cả tin quốc tế và trong nước do các cơ quan báo chí, chuyên mục thể thao, tin tức của truyền hình hay phát thanh cung cấp.  


    Back to Chapter index
    8.3.6. Thông tin khách hàng

    Những năm gần đây, với hiệu lực của DDA, thị trường có xu hướng tăng thêm số các nhà sản xuất thông tin bắt đầu chế bản thông tin người tiêu dùng ở dạng thay thế là dạng chữ lớn hay kiểu khác, để tạo thêm sự chọn lựa bên cạnh dạng in thông thường nếu có yêu cầu.

     

    Một vài tổ chức chính phủ như Cơ quan lợi ích xã hội, văn phòng thông tin trung tâm, như thường lệ tất nhiên cũng xuất bản thông tin của họ bằng dạng chữ lớn (và cả bằng một số thứ tiếng dân tộc chính khác).

     

    Điều quan trọng là thông tin thư viện được các phòng ban tổ chức địa phương và tổ chức giáo dục xuất bản phải được yêu cầu xuất bản ở dạng thay thế. Nếu được thì phát hành ấn bản trong địa bàn hay các cơ quan trường học.


    Back to Chapter index
    8.4.1. Băng cassette

    Với những người không còn nhìn thấy hay chỉ còn chút ít thị lực, băng cassette là vật mang tin thông dụng nhất để đọc và lấy thông tin. Vì thế cách này mở rộng cho nhiều người tiếp cận thông tin và tài liệu và nhất là người mà không thể hay thấy đọc chữ Braille hay chữ lớn khó khăn.

     

    Cũng như đối với người khiếm thị, dạng này còn được sử dụng đối với bất cứ người nào bị mắc chứng đọc chữ in khó khăn như chứng dyslexic, hay họ không cầm sách được hay không lật trang được, v.v. Một số trường hợp, ví dụ như người bị thêm nhiều khuyết tật khác, họ khó có thể nhận biết ra giọng nói. Điều này thấy ở người chậm hiểu hay thiểu năng học hay chứng lãng tai. Đối với loại sau, vì chứng khiếm thị gắn liền với tỷ lệ cao tuổi, nên chắc chắn sẽ là một phần khách hàng đáng kể nữa.  


    Back to Chapter index
    8.4.1.1. Hình thức

    Trong dịch vụ sách nói, R.N.I.B dùng cassette 6 rãnh và cần thiết bị chuyên dụng để thu và nghe. Băng này có tiện ích là đơn giản nhờ khả năng lưu trữ cao (1 lần thu đến 12 giờ) có thể thu trọn cuốn chỉ cần một đến hai băng tùy theo độ dài của sách. Nhưng nó cần đến thiết bị chuyên đọc có thể tìm thấy ở nhà phân phối R.N.I.B. Theo luật chơi, nó cũng có thể phải chịu trách nhiệm tuân theo luật bản quyền dựa vào mục đích sản xuất của nó. Tuy nhiên, không thể so với các dịch vụ sách nói khác và yêu cầu ban đầu phải có cả chi phí mua máy đọc.

     

    Cassette 4 rãnh cũng được dùng. Là hình thức thông thường của dịch vụ sách nói của Dịch vụ thư viện quốc gia, Thư viện Quốc hội Mỹ, và cũng được R.N.I.B sử dụng trong  thư viện băng cassette của mình. Một lần nữa, lợi ích cho người dùng phải kể đến là tính đơn giản và số lượng băng cho mỗi nhan đề. Dùng loại băng này cần có máy hát cho cả 2 hay 4 hộc.   Hoặc là nếu chép nhanh cũng có thể chuyển 4 rãnh thành loại 2 rãnh.

     

    Ngoài ra, còn có nhiều băng do các nhà sản xuất chuyên nghiệp tại địa phương và trên toàn quốc làm ra ở dạng 2 rãnh. Sản phẩm của Calibre, Hội báo nói và nhiều băng thông tin khác do các nhà cung ứng dịch vụ tạo ra. Hầu hết các nhà sản xuất chữ lớn cũng cung cấp băng sách (khác với từ “sách nói” chỉ dành cho nhà sản xuất chuyên nghiệp làm ra).

     

    Những sản phẩm này thường thu từ tác giả, hay diễn viên đọc vào băng analog. Băng này do khu vực kinh doanh hay một số tổ chức tình nguyện xuất bản.

     

    Trong kho thư viện, thường băng 2 rãnh là nhiều nhất vì dễ xài nhất được nhiều người chấp nhận dùng nhất nên phân phối dịch vụ cũng thuận tiện nhất.

     

    So với băng nhiều rãnh, bất tiện của băng 2 rãnh là số băng sử dụng và người khiếm thị thường gặp khó khăn khi dò tìm băng kế tiếp. Thu đầy đủ thì có thể hết 14 đến 16 băng và có thể làm cho người khiếm thị gặp khó khăn nếu không có nhãn đánh dấu nổi trên băng để có thể tìm ra được số thứ tự của băng mình cần. Cũng cần nhớ giải quyết vấn đề này bằng cách dán nhãn có số và chữ nổi để biết số thứ tự băng và bên mặt băng nào là thích hợp. Lý tưởng là nên có thông báo ở đầu băng vì có khi người già khó có cảm nhận bằng hình nổi.

     

    Một bất tiện khác của băng analog là khó định vị và truy tìm thông tin theo kiểu trình bày tuyến tính. Để chọn được đọan văn bản nào cần nghe, cần phải nghe băng cho đến khi gặp được đoạn cần nghe. Bằng cách quay nhanh và dừng lại ở những đoạn nào muốn dừng lại. Cũng nên có thông tin về nội dung mục lục đầu băng thì giúp ích được nhiều hơn. Về lâu dài, việc dùng dĩa compact và tiến tới dùng dạng âm thanh số hóa thì sẽ thoát khỏi những khó khăn hạn chế này. 


    Back to Chapter index
    8.4.1.2. Các hình thức âm thanh số hóa

    Hiện nay dịch vụ sách nói của RNIB theo hình thức analog đã xưa rồi và rất tốn tiền để bảo quản. Họ vừa phát triển dạng thức dịch vụ số hoá sẽ tung ra thị trường vào tháng 4 năm. Hệ thống mới này sẽ phát triển trên nền chuyển đổi 12,000 nhan đề analog thành số hóa, di dời các điểm phân phối và các phòng thu đến địa điểm mới. Máy để nghe loại sản phẩm này được thiết kế để cũng có thể đọc được Cd dạng thường và sẽ có thể tiếp tục do RNIB phân phối. Cả dịch vụ số hóa hay tương tự đều đều là những bước đầu để dần dần thay thế toàn bộ hệ thống tương tự tòan bộ vào năm 2005.


    Back to Chapter index
    8.4.1.3. Chất lượng bản sao chép

    Khi chọn mua tài liệu dạng âm thanh, có một yếu tố khác cần phải xem xét đến là chất lượng của bản sao chép. Thường thì nhiều nhà sản xuất băng cho người khiếm thị biết rõ nhu cầu người dùng cần là tài liệu nghe phải đạt chất lượng cao. Nhưng đôi khi cũng khó cho họ giữ đúng chuẩn mực này. Đặc biệt là băng thông tin nơi mà chất lượng sản xuất bị phớt lờ đi để đáp ứng tính kịp thời. Vì lý do đã nêu trên liên quan đến người khuyết tật, thư viện cần phải càng tìm hiểu sâu càng tốt và tìm ra được sản phẩm tốt từ các nhà sản xuất. Kiểm tra chất lượng cũng cần được áp dụng để đảm bảo mọi quy trình đều diễn ra đúng theo quy trình  từ việc theo dõi, thanh lọc, và thay thế các nhan đề nào đã bị hư do được sử dụng nhiều lần.


    Back to Chapter index
    8.4.1.4. Thu trọn hay rút ngắn

    Thư viện cũng cần có chính sách đề cập đến việc chọn mua băng sách thu rút ngắn hay thu đầy đủ. Có nhiều quan điểm khác nhau về chuyện này. Về nguyên tắc, người khiếm thị có quyền muốn có bản sao y như bản gốc đã in. Kết quả của cuộc khảo sát điều tra gần đây nhất trên cả nước (Davies và nh. ng. khác, 2001), để bạn đọc khiếm thị và mù bày tỏ ý muốn sử dụng tài liệu của họ cho biết có 63% trong số người được khảo sát thì thích sách thu đầy đủ, 23 % không bày tỏ ý kiến, và 9% thì thích sách rút ngắn. Tuy nhiên, có thể thấy rằng sản phẩm dạng âm thanh cũng có thể có cái lợi khi được biên tập cẩn thận lại và số lượng băng dùng để thu sách biên tập rút ngắn sẽ giảm xuống. Thư viện cũng nên chú ý đến báo và tạp chí nói, và đây cũng không phải là trường hợp ngoại lệ, chú ý nên quyết định chọn bản đầy đủ hay rút ngắn.


    Back to Chapter index
    8.4.2. Băng sách nói

    Băng sách hay băng thông tin vốn là tài liệu trọng yếu trong dịch vụ thư viện dành cho người khiếm thị.

     

    Việc tăng trưởng của các xuất bản phẩm thương mại đã giúp thư viện có điều kiện tốt để xây dựng và phát triển vốn tài liệu, vì thế người khiếm thị nên được tạo điều kiện chọn lựa tài liệu tốt hơn. Thư viện nên nhắm vào việc mở rộng mua các phiên bản đầy đủ, quản lý tài liệu thì luôn nhớ đến nhu cầu người khiếm thị, chứ đừng nghĩ đến những chuyện này chỉ phát sinh thêm chi phí.  Các nhà sản xuất mới cũng đã chú ý tăng số lượng bản nhưng vẫn còn rất ít so với tổng đầu sách của thị trường ở Anh, chủ yếu chỉ nhắm vào tiểu thuyết phổ thông và truyện thiếu nhi. Để có thể phục vụ tốt hơn, thư viện sẽ cần cung cấp nguồn tài liệu dạng âm thanh của các tổ chức tình nguyện, xuất bản cả nhan đề đọc giải trí và sách khoa học. Các nhà cung ứng và tổ chức tình nguyện sẽ được giới thiệu ở chương 9, và những tổ chức này sẽ cho biết phạm vi nội dung tài liệu họ muốn sản xuất.

     

    Một số nhà sách có vốn tài liệu băng sách như một phần chính trong việc kinh doanh của họ, mặc dù đa số băng dĩa ở dạng rút ngắn.


    Back to Chapter index
    8.4.3. Đĩa Compact (CDs)

    Dạng CD có nhiều ưu thế, ngoài việc có thể lưu trữ nhiều tài liệu chỉ nằm trong 1 đĩa, nó còn giải quyết được các khó khăn khác mà người khiếm thị gặp phải khi đọc tài liệu. Về mặt kỹ thuật có thể dễ dàng định vị và dừng lại đúng chỗ Nhưng đôi khi việc thiết kế các nút điều khiển máy hát CD khiến nhiều người khiếm thị gặp rắc rối khi sử dụng.

     

    Một số nhà xuất bản, như Chivers và Isis, hiện sản xuất sách dạng CD. Các nhà xuất bản khác như Penguin và BBC cũng xuất bản các nhan đề rất hấp dẫn. Tuy vậy hiện hàng năm chỉ có một vài nhan đề được xuất bản tuy nhiên theo yêu cầu sử dụng, mà số lượng ấn bản sẽ tăng lên thêm. 


    Back to Chapter index
    8.4.4. Giọng đọc máy

    Bất kể hình thức nào, chất lượng giọng và các yếu tố thiết kế khac đều mang tính quan trọng như nhau. Bao gồm sự rõ ràng, nhịp điệu giọng và không có tạp âm.

     

    Vì lý do này, giọng đọc nhân tạo nhìn chung không được ưa chuộng đối với nhiều người. Mặc dù đã được cải tiến nhiều trong những năm gần đây, nhưng mức độ đòi hỏi của người nghe cũng đã thay đổi. Tuy vậy, có nhiều người khiếm thị cần phải nghe sách khoa học. Công việc này chỉ cần quét hay số hóa, để dạng văn bản trở thành dạng dữ liệu số hóa.  Giọng đọc tổng hợp vì thế đóng vai trò quan trọng trong dịch vụ thư viện để có thể cung cấp thông tin của những tài liệu thông tin nào chưa có dạng thay thế. 


    Back to Chapter index
    8.4.5. Đọc trực tiếp

    Vì một số lý do mà việc giao tiếp trực tiếp giữa người phục vụ và độc giả là cách hiệu quả nhất nhờ có sự tương tác và phản hồi giúp diễn giải nội dung của thông tin rõ ràng hơn. Thật thế, dịch vụ phục vụ theo yêu cầu cá nhân có thể giúp bạn đọc nghe thủ thư đọc trực tiếp văn bản và đường dây điện thoại trợ giúp cũng thường được sử dụng để làm chuyện này.


    Back to Chapter index
    8.4.6. Báo và tạp chí nói

    Báo và tạp chí nói là những nguồn tài liệu và thông tin quan trọng đối với người khiếm thị và rất có giá trị đối với họ (Marsland, 1992). Chúng cũng được chuyển dạng thành băng cassette 2 rãnh. Quan trọng cần chú ý là chỉ trừ một số trường hợp ngoại lệ, còn lại việc chuyển dạng thường chỉ là một phần nào đó của bản gốc mà thôi, ví dụ chỉ cung cấp những bài đã chọn lọc, mà cũng có thể chúng được biên tập lại để tiết kiệm khoản ghi âm hoặc sửa đổi câu cú cho phù hợp với việc đọc hơn và dễ hiểu hơn.

    Các tờ báo của quốc gia và địa phương đều có ở dạng báo nói. Do nhiều nhà sản xuất làm ra trong đó có cả thư viện (xem phần 9.6). Báo nói địa phương (thường xuất bản hàng tuần) phát hành rộng rãi trên toàn Anh quốc với hơn 40 tổ chức tình nguyện tham gia. Kể cả có tài liệu kiểu “tạp chí” bên cạnh sự chọn lựa báo địa phương cũng mang chung những đặc tính này.  Chúng thường có thông tin chung và thông tin dành riêng cho người khuyết tật được xuất bản bởi nhiều tổ chức khác nhau. Bên cạnh tuần báo, nhiều báo tạp chí phổ thông khác cũng được thu băng.

     

    Hầu hết các nhà cung cấp sử dụng dịch vụ bưu điện trực tiếp để gửi sản phẩm theo chế độ miễn phí cho đối tượng được công nhận là người mù và khiếm thị theo quy định (nếu đối tượng không đủ điều kiện, thì phí bưu điện có thể sẽ bị tính).  Nguồn cung cấp thường theo chế độ “gửi đọc và hoàn trả lại” - đối tượng sẽ trả lại tài liệu đã đọc lần trước và nhận đợt mới. 

     

    Trong khi dịch vụ bưu điện trực tiếp dùng cách thức tiếp cận dễ dàng nhất và tốt nhất để vận chuyển tài liệu định kỳ và thường xuyên, thư viện cần xét đến việc sử dụng chúng trong dịch vụ của họ. Về nguyên tắc, vì báo tạp chí in là những tài liệu thông thường của thư viện nơi mà có trách nhiệm cung cấp tài liệu chuyển dạng thay thế cho các loại  này khi chúng tồn tại. Từ những hiệu quả sử dụng của chúng, có thể thấy rõ là báo và tạp chí có thể đóng vai trò rất quan trọng trong tổng thể các dịch vụ cho người khiếm thị (Craddock, 1996).

     

    Bên cạnh bổ sung các nhan đề cung cấp trực tiếp từ các nhà cung ứng quốc gia, thư viện có thể đáp ứng được những yêu cầu gấp tại địa phương trong suốt thời gian mà thành viên đang chờ đăng ký vào dịch vụ quốc gia. Dịch vụ cũng rất cần cho người gặp khó khăn trong việc đọc nhưng lại chửa đủ điều kiện được chứng nhận theo quy định là người “mù lòa”. Đặc biệt trong trường hợp các cá nhân vừa mới bị khiếm thị.  (Page, 1990).

     

    Phần lớn các thư viện đăng ký vào Dịch vụ Thư viện tài liệu nói để hưởng dịch vụ cung cấp băng báo và tạp chí nói của Hiệp hội báo nói Anh quốc (TNAUK, 1999). Sự giảm giá của các nhà xuất bản này cho phép thư viện phân phối nhiều sản phẩm qua nhiều kênh phục vụ khác nhau kể cả qua kho mở hay thư viện lưu động. Bằng cách này, các sản phẩm này có thể phục vụ được cho cả đối tượng bị “khuyết tật đọc”.

     

    Không giống các nhà phát hành băng, báo và tạp chí nói ít có giá trị lưu trữ (mặc dù một số báo nói địa phương có làm bản sao). Vấn đề chủ yếu là do rất khó để tạo chỉ mục định vị cho nội dung, và tra cứu các đoạn thông tin nào cần nghe trên băng analog. Vì tài liệu này là một dạng thay thế nên một số nhà cung ứng dịch vụ chú ý đến cách đầu tư hiệu quả để có thể đáp ứng chuyển dạng theo yêu cầu bằng cách dùng các tệp tin lưu trữ xuất bản cùng với bản in của chúng.

     

    Bên cạnh lưu trữ báo và tạp chí nói, một số thư viện cũng tham gia làm báo nói, hoặc liên lạc bằng nhiều cách khác nhau với các tổ chức làm báo nói. Có thể cung cấp tại chỗ, hay phân phối (Gateshead, Kirklees), thực hiện danh mục đã đăng ký và cung cấp dịch vụ sao chép băng phân phối cho các tổ chức tình nguyện địa phương (Hội đồng Giáo dục và Thư viện, Northern Ireland) và cung cấp các phương tiện ghi âm tại chỗ cho các nhóm này tiện sử dụng (Tameside). Một số thư viện cũng dùng báo nói địa phương để quảng cáo các dịch vụ mà họ có.

     

    Hiệp hội báo nói Anh quốc là tổ chức sản xuất báo và tạp chí nói lớn nhất, gồm hơn 200 nhan đề báo trên toàn quốc, kể cả báo ngày, và báo cuối tuần chủ nhật, hàng tuần, hàng tháng, hàng quý cho cả những người đọc chữ in khó khăn. Chi tiết đăng ký xem phần 9.6.

    Cue & Review là tổ chức quốc gia chuyên làm báo và tạp chí nói dạng băng. Có nhiều nhan đề hấp dẫn cho lứa tuổi thanh thiếu niên.

     

    ‘Soundings’ là tạp chí quốc gia hàng tháng phát hành trên băng, phát tin và giới thiệu dịch vụ cho người khiếm thị, cũng có nghe qua mạng trực tuyến. (Xem 9.6).

     

    Cũng có nhiều tạp chí và báo địa phương do thư viện và các hội của chính địa phương thực hiện. 


    Back to Chapter index
    8.4.7. Thông tin khách hàng

    Ngày càng có nhiều nhà cung ứng thông tin sẵn lòng sản xuất băng cassette như dạng thay thế ghi âm thông tin khách hàng. Một số tổ chức quốc gia như Benefits Agency, Inland Revenue and Central Office of Information hiện nay  chủ yếu phát hành thông tin của họ trên băng cassette.

     

    Các tổ chức khác cũng thường phát hành tài liệu ở dạng băng cassette như Ofgas, Help the Aged, và BT. Một số cửa hàng lớn như Boots và Tesco phát hành catalog sản phẩm Giáng sinh của họ trên băng cassette.

     

    RNIB sản xuất bảng tin ‘Bạn có biết’ thông tin cho biết việc phát hành băng tại các khu vực tình nguyện, tổ chức tư nhân hay khu vực công cộng. Thông tin này cũng được tạo ở dạng thay thế khác và có thể đăng ký mua từ Dịch vụ khách hàng RNIB.


    Back to Chapter index
    8.5. Thuyết minh hình ảnh cho phim

    RNIB xuất bản một số băng hình có kèm theo phần đọc lời thuyết minh. Nhiều nhan đề trong đó có cả phim cổ điển lẫn hiện đại, mọi lứa tuổi đều có đề tài của mình. Có thể dùng máy hát bình thường để nghe thuyết minh cho tất cả những cảnh vật đang diễn ra trên màn hình. Những lời diễn tả phụ họa điễn đạt thêm cho lời của nhân vật trong phim. Cá nhân có thể thuê trực tiếp từ R.N.I.B, hoặc cá nhân hay tổ chức có thể đăng ký mua. Quan trọng là khi thư viện mua loại tài liệu này, nhớ quảng bá và vận động các đối tượng tham gia sử dụng.


    Back to Chapter index
    8.6.1. Chữ Braille

    Tỷ lệ số người dùng chữ Braille ước tính chỉ chiếm khoảng 3% trong số 19.000 người khiếm thị trên cả nước (Bruce và nh. ng. khác, 1991). Tỷ lệ người dùng chữ Moon thì ít hơn nhiều, trên cả nuớc không vượt hơn con số 500-600.

     

    Chữ Braille là phương tiện đọc bằng cách dùng tay sờ lên, một bộ ký hiệu 6 chấm nổi, tùy theo cách sắp xếp các chấm mà phân định các chữ, số và các dấu khác nhau. Có hai cấp độ chữ Braille cấp 1 phiên ra từng ký tự một ghép thành chữ, kể cả dấu. Braille cấp 2 sử dụng cách ghép từ thành chữ, cho phép đọc nhanh hơn và làm sách chuyển dạng bớt cồng kềnh đi.

     

    Sách và tạp chí Braille có thể đặt mua hay mượn từ R.N.I.B và NLB. NLB có bộ sưu tập chữ Braille lớn nhất cho mượn ở Châu Âu, chủ yếu là các nhan đề tiểu thuyết và phi tiểu thuyết cho mọi lứa tuổi, một vài nhan đề bằng Welsh và một vài ngôn ngữ của xứ Châu Âu khác. Vốn tài liệu của RNIB có nhhiều nhan đề thích hợp cho sinh viên. RNIB và  NLB cùng làm việc với nhau để sản xuất, bán hay cho những người học chữ Braille và chữ Moon mượn dùng, kể cả dùng cho các lớp tập huấn và tài liệu thích hợp cho các  nhóm tuổi học viên.

     

    Thông tin về xuất bản hiện nay có thể tìm thấy trên tờ tin 'Spotlight' của RNIB và tờ 'Read On' do NLB xuất bản hàng quý.


    Back to Chapter index
    8.6.2. Nhạc Braille

    Nhạc nổi Braille tạo ra bởi mã Braille đặc biệt. R.N.I.B là nhà cung cấp chính sản phẩm này tại Anh, và NLB thì có bộ sưu tập lớn nhất, có khoảng 13,000 nhan đề nhạc Braille có nhiều nhan đề mới nhập về đều đặn. Có từ nhạc cổ điển cho đến nhạc pop và cả nhạc cho các đàn bàn phím điện tử. Hiện nay chưa được biên mục hết, nhưng cũng đang trong quá trình biên mục hồi cố nhập máy. Nhạc nổi Braille có thể mua từ R.N.I.B.


    Back to Chapter index
    8.6.3. Moon

    Moon là phương tiện đọc tương tự như Braille đọc bằng cách sờ lên bộ dấu hiệu làm nổi. Bằng Moon, các ký tự, số và dấu được đánh nổi lên theo hình dạng của chúng.  Không được sử dụng rộng rãi như chữ Braille, chữ Moon thường chỉ được những người bị mất thị lực lúc đã lớn tuổi hoặc có nhiều khuyết tật khác mà khó có thể học sử dụng chữ Braille ưa dùng hơn.

     

    Bộ sưu tập Moon ở NLB là duy nhất ở Anh và lớn nhất trên thế giới. R.N.I.B và NLB là nhà cung cấp chính sách chữ Moon.


    Back to Chapter index
    8.6.4. Dịch vụ thư viện

    Chỉ có một số ít người sử dụng, chi phí và độ cồng kềnh của tài liệu chữ Braille và Moon (một cuốn sách thường khi xuất bản theo các dạng này thì lên đến hơn 5 tập sách Braille và Moon) làm nhiều thư viện không chịu lưu trữ dạng tài liệu này. Thay vì thế, thì họ cung cấp dịch vụ chuyển dạng theo yêu cầu, và /hoặc đảm bảo người dùng Braille hay Moon có thể truy cập vốn tài liệu của NLB và R.N.I.B. Vấn đề này có thể thực hiện qua chương trình mượn liên thư viện hoặc giúp bạn đọc đăng ký sử dụng trực tiếp thư viện ở các nơi này. Catalog sách bìa cứng hay danh mục sách bằng chữ Braille, và từ mùa thu năm 2000 NLB có cả mục lục truy cập được qua Internet. Thư viện cũng có thể có phần mềm chuyển đổi chữ Welsh và các ngôn ngữ khác sang Braille. Ví dụ, phần mềm Duxbury D.B.T hiện hỗ trợ được đến 18 thứ tiếng, kể cả Welsh.

     

    Cán bộ thư viện có thể hỗ trợ người sử dụng bằng cách giúp họ tìm chọn và đặt sách hoặc cung cấp trang thiết bị cho người đọc để họ tự phục vụ.


    Back to Chapter index
    8.6.5. Họa đồ/ Bản đồ/ Biểu đồ nổi

    Đó là những bảng biểu được photocopy hay in trên loại giấy”phồng” cảm ứng nhiệt. Khi giấy được đưa qua “máy đọc hình ảnh nổi” các đường kẻ màu tối sẽ hút nhiệt nhanh hơn và bị phồng lên. Hình ảnh nổi cần được bảo quản kỹ để đảm bảo các bề mặt nổi không bị hư hay bị xẹp xuống.

     

    Khả năng sản xuất phục vụ biểu đồ rất quan trọng trong các thư viện trường đại học và trường học, vì thế việc sản xuất tại chỗ rất cần được xét đến (xem phần 13.7.3). Cách khác, một số tổ chức nhận cung cấp dịch vụ, như trường Đại học Hertfordshire, Đại học Queen Alexandra và R.N.I.B, thông qua bộ phận tiếp khách hàng (xem phần 9.8.3).


    Back to Chapter index
    8.7.1. Sách và thông tin

    Dạng tài liệu ngày càng được phổ biến rộng rãi hơn là hình thức điện tử. Hầu hết thông tin khi in ra đều có nguồn gốc là dạng điện tử và tỷ lệ xuất bản phẩm điện tử ngày càng chiếm cao hơn, thông qua các kênh truyền hình số hay qua mạng toàn cầu. Vì thông tin điện tử có thể truy cập từ người khiếm thị mà không cần sản phẩm chuyển dạng thay thế, vì thế cơ hội cho người khiếm thị truy cập được thông tin mà không cần phải chờ đợi xuất bản hay hay phát sinh các tốn kém khác.

     

    Qua phần mềm đọc màn hình hay công nghệ liên quan (xem Chương 13), việc truy cập thông tin và khả năng chọn lựa hình thức tài liệu của người sử dụng ngày càng rộng rãi và tùy biến hơn, có thể truy cập từ nhà, hay công cộng chẳng hạn như từ thư viện. Điều quan trọng là nhu cầu người khiếm thị nên được đưa vào kế hoạch ngay từ đầu khi chuẩn bị mua mới hệ thống thông tin truyền thông cho thư viện.

     

    Trong khi những thực hành tốt nhất phải được thực hiện để đảm bảo nguồn lực điện tử truy cập được (xem Chương 14), có một số mô hình tiên phong rất thú vị đã được thực hiện. Khu vực HE của HERON (www.heron.ac.uk) cung cấp việc truy cập toàn văn vào tài liệu học tập ở trường đại học dưới dạng điện tử; sỡ dĩ thực hiện được là nhờ có theo dõi nhu cầu sử dụng thông tin cụ thể của một số trường. Nhiều dự án thư viện số khác, kể cả những thư viện trong chương trình thư viện điện tử cấp cao học của Anh quốc (eLib), cũng đang tìm hiểu các phương pháp chuyển văn bản điện tử trực tiếp đến người sử dụng.

     

    Dự án Gutenberg (www.gutenberg.net) cơ sở lưu trữ tất cả các tác phẩm đã quá hạn bản quyền, được thu thập từ nhiều cá nhân và tổ chức trên thế giới. Bộ sưu tập Gutenberg hiện có trên 3.500 nhan đề các loại có thể tải xuống mà không bị tính tiền. Bộ sưu tập có cả những tác phẩm cổ điển như từ “Alice lạc vào xứ thần tiên” cho đến tác phẩm của Shakespeare, và các tài liệu tham khảo như từ điển thuật ngữ của Roget, niên giám, từ điển và bách khoa thư. Trang web này có thể tra cứu theo tên tác giả hay nhan đề tài liệu, và thậm chí có thể sử dụng để tìm ra nguồn gốc của các câu trích dẫn trong tác phẩm.

     

    Trong khu vực tình nguyện, tổ chức RNIB đã liên kết với các nhà xuất bản như Penguin để có nhiều nhan đề dạng đĩa như bộ Access Books; và NLB đang xây dựng dịch vụ thư viện số, trong đó có sách điện tử, đối với các tài liệu được phép của quyền tác giả. Bộ sưu tập chính đầu tiên của họ ở dạng sách điện tử có bản quyền hiện đang có trên website của họ.  ‘Unseen history’ đã có đến 50 nhan đề lịch sử địa chí Anh có thể tìm đọc tại www.nlbuk.org/unseenhistory/ebookscontents.html

     

    Khu vực kinh doanh, có dịch vụ thông tin như Chadwyck Healey’s KnowUK (www.knowuk.co.uk), bộ sưu tập của họ có trên 80 nhan đề tài liệu tham khảo từ ‘The Municipal Yearbook’ và ‘Who’s Who’ đến ‘The Which? Guide to Country Pubs’. Dịch vụ này giúp độc giả có thể tìm kiếm đồng thời cả 80 nhan đề này, hoặc tìm theo chủ đề.

     

    NLB đã có dự án thử nghiệm để phục vụ miễn phí dịch vụ thảm khảo trực tuyến KnowUK cho các thành viên khiế thị của NLB. NLB đã làm việc với KnowUK để đảm bảo việc truy cập toàn vẹn để bất cứ thư viện công cộng nào đăng ký vào dịch vụ này thì KnowUK có thể phục vụ độc giả khiếm thị của thư viện đó qua các máy trạm truy cập được.

     

    Ngày càng có nhiều thông tin dạng văn bản hay âm thanh trực tuyến: thơ, niên giám điện thoại, báo, mục tìm việc làm, thậm chí cả tiểu thuyết.

     

    Hiện nay không phải tất cả các thông tin hiện đang có mà người khiếm thị có thể truy cập được hết cả, vấn đề luật pháp và các ràng buộc trách nhiệm đòi hỏi các nhà cung ứng thông tin phải tính đến nhu cầu của người khiếm thị và kết quả là tỷ lệ thông tin truy cập được ngày càng tăng thêm.

     

    Để có được tổng quan các nguồn thông tin hiện truy cập được, hãy tham quan trang web của Thư viện quốc gia cho người mù NLB (www.nlbuk.org)giới thiệu nhiều dịch vụ khác nhau như tham khảo, tiểu thuyết, thơ và âm thanh dành cho người sử dụng.

     

    Hiện nay những xu hướng phát triển mới phục vụ cho cộng đồng người khiếm thị để giúp họ có được những kỹ năng thích hợp và động cơ sử dụng hệ thống thông tin truyền thông. Đa số người khiếm thị không sử dụng công nghệ sẽ lệ thuộc vào dịch vụ chuyển dạng theo yêu cầu như là cách thức của họ để có những tài liệu họ mong muốn đọc. (Xem phần 8.11).

     

    Những hướng phát triển mới như xây dựng thư viện số truy cập qua điện thoại hay truyền hình sẽ hấp dẫn người khiếm thị sử dụng nhiều hơn nữa. Nhà cung ứng dịch vụ truyền hình số được cấp giấy phép thì họ phải đảm bảo một tỷ lệ nào đó của chương trình phát sóng phải có phần thuyết minh hình ảnh. 


    Back to Chapter index
    8.7.2. Báo điện tử

    Một vài tờ báo hiện có trên Internet, ví dụ The Times, Financial Times, Telegraph, Guardian, (Glasgow) Herald.

     

    TNAUK cung cấp dịch vụ thư điện tử hay số cho 200 nhan đề (www.tnauk.org.uk).

    Một số tạp chí chuyên ngành cũng có thể truy cập qua Internet theo các địa chỉ sau:

     

    a) www.shef.ac.uk/library/elec.jnls/introejs.htm

     

    b) www.rylibweb.man.ac.uk/eres/pr/frame.dbinfo/crib.htm.

     

    Trường Đại học Sheffield (www.shef.ac.uk) tạo mục lục chỉ mục cho các nguồn báo và tạp chí điện tử trên.

     

    JISC (Ủy ban Hợp tác Hệ thống Thông tin) tài trợ Trung tâm Dữ liệu Quốc gia cung cấp cho Hội đồng Giáo dục cao học và cán bộ nghiên cứu có thể truy cập vào nội dung, bài trích và toàn văn của hơn 200 nhan đề báo và bản tin hiện hành.

     

    a) BIDS (Bath Information and Data Services)
    www.lib.ed.ac.uk/lib/resources/databases/bids.shtml

     

    b) EDINA (Edinburgh Data and Information Access) www.lib.ed.ac.uk/lib/resources/databases/edina.shtml

     

    c) MIMAS (Manchester Information and Associated Services) www.lib.ed.ac.uk/lib/resources/databases/mimas.shtml

     

    Nhà kinh doanh báo và tạp chí điện tử cũng có trên địa chỉ www.blackwell.co.uk

     


    Back to Chapter index
    8.8. Tài liệu thiếu nhi

    Xem Chương 7 


    Back to Chapter index
    8.9. Tài liệu cho người thiểu số

    Cái khó trong dịch vụ là thiếu tài liệu để đáp ứng nhu cầu ngôn ngữ cho những người thuộc nhóm dân tộc thiểu số mà sự khó khăn của họ luôn bị nhân đôi lên. Một báo cáo nghiên cứu của R.N.I.B cùng với EMERGE đã minh chứng cho vấn đề này từ việc thảo luận với 12 nhóm đối tượng sử dụng từ tháng 11 năm 1997 đến tháng 7 năm 1998. Những điều này lại được khẳng định thêm từ cuộc nghiên cứu thực hiện ở Tây Bắc của nước Anh từ đầu năm 2000.  Những kết luận chính cho tất cả các nhóm người thiểu số là :

    a)  thiếu thông tin tổng quan cập nhật về chính phủ, cộng đồng, kinh doanh, v.v.. vấn đề chính là tài liệu thay thế và ngôn ngữ;

    b)  thiếu tài liệu nói về văn hóa của dân tộc họ;

    c)  thiếu phần mềm công nghệ hỗ trợ để có thể xử lý các ngôn ngữ không phải của Châu Âu.

    d)  Cũng có chứng cớ cho thấy là các số liệu thống kê đã báo không chính xác số người bị khiếm thị trong những cộng đồng này.


    Back to Chapter index
    8.9.1. Sách chữ lớn và băng cassette

    Hai trong số các nhà kinh doanh tài liệu tiếng dân tộc thiểu số cách đây vài năm đã xuất bản một số nhan đề sách chữ lớn và băng cassette, vì sự hạn chế bổ sung của các thư viện mà hiện nay chỉ có rất ít nhan đề được tiếp tục. Việc đóng sách rất kém và sự chất lượng của các băng cassette xúât bản lệ thuộc vào nhà sản xuất. Nên theo dõi thông tin tài liệu xuất bản của các nhà sản xuất theo các địa chỉ trong phần liệt kê ở 9.10.1.

     

    Thư viện sách nói Ấn độ có một bộ sưu tập băng sách bằng tiếng Urdu, Gujarati và Hindi. Dịch vụ này đăng ký sử dụng có trả phí.


    Back to Chapter index
    8.9.2. Báo và tạp chí

    Một danh mục báo dành cho người thiểu số được liệt kê ở phần 9.10.2.


    Back to Chapter index
    8.9.3. Thông tin

    'Talking Eyes Service' là dịch vụ băng do tổ chức Birmingham Focus và các thư viện thành phố Birmingham hợp tác sản xuất (bằng tiếng  Urdu, Bengali, Gujarati, and Punjabi) và thông tin có nhiều chủ đề được bạn đọc quan tâm. Một bản sao của mỗi băng được gửi tới tất cả các thư viện để lấy thông tin hàng năm, kinh phí do chính phủ tài trợ từ cho Ủy Ban Thông tin Thư viện để thúc đẩy dịch vụ dành cho người khiếm thị. Thông tin trên băng có thể được chép và cho mượn trong thư viện. Cơ quan thư viện và các tổ chức khác có thể đăng ký dịch vụ này có tính phí. Liên hệ với Talking Eyes Information Service để biết thêm chi tiết ở số điện thoại 0121 428 5046.

    Hội người mù Châu Á hàng tháng cũng sản xuất băng thông tin bằng tiếng Hindi và tiếng Anh cho tất cả các thành viên để biết thông tin về người khiếm thị, sản phẩm mới và sách băng. Thành viên tham dự được miễn phí.


    Back to Chapter index
    8.10.1. Mục lục truy cập được

    Quan trọng là người khiếm thị có thể tự tra cứu mục lục thư viện. Nhiều mục lục máy tính hiện nay có những tiện ích khác như phóng to màn hình như Libris Envisage, và có thể có thêm chức năng phát âm. Khả năng làm thay đổi màu nền và văn bản như có thể in ra dạng chữ lớn hay Braille hay chép đĩa. Những tính năng này nên được coi là một phần tích hợp trong mục lục điện tử mới.

     

    Thư viện Islington có Libris Envisage với màn hình phóng to, bàn phím có thể điều chỉnh, phát âm, giao diện, kết hợp điều chỉnh phối màu, giao thức phát âm và phóng đại. Những tiện ích này có thể giúp người mù và khiếm thị có cơ hội bình đẳng truy cập vào mọi thông tin trên mục lục thư viện, mà không cần phải qua sự giúp đỡ của người trung gian và hòa nhập hẳn với cộng đồng độc giả trong thư viện.


    Người khiếm thị cũng cần mục lục có phần mô tả bằng giọng nói và đó cũng sẽ là một tiện ích nữa cho mục lục liên hợp quốc gia (Xem chương 10).


    Back to Chapter index
    8.10.2. Danh mục

    Thư viện đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp độc giả mù chọn được tài liệu, thông qua mục lục hay danh mục tài liệu dạng thay thế như danh mục chữ lớn của vốn tài liệu chữ lớn trong thư viện, và thông qua sự hỗ trợ của cán bộ thư viện hay các nguồn liên lạc giữa thư viện và người sử dụng. Danh mục in chữ lớn hay những bản đính kèm mô tả, tóm tắt nội dung tài liệu sẽ có tác dụng khuyến khích đọc là điều rất quan trọng phải làm và phải nằm trong chương trình xuất bản của thư viện. Thư viện hòa nhập cũng sẽ phải đảm bảo nếu bất kỳ khi nào lập danh mục nào để quảng cáo các sự kiện hay trưng bày triển lãm thì sẽ có một số nhan đề hay phiên bản tài liệu dưới dạng thay thế.

     

    Cũng sẽ rất có ích nếu có bản sao danh mục của các nhà xuất bản cho những tài liệu sắp xuất bản mà ở dạng thay thế, có tại thư viện hay qua dịch vụ giao tận nhà hay thư viện lưu động. Tuy nhiên chưa có một nhà kinh doanh sách nào kể cả sách chữ lớn hay sách nói in danh mục của họ bằng dạng thay thế, chỉ có  Chivers đã thực hiện danh mục đọc một số mẫu trích ra từ các xuất bản phẩm của họ.


    Back to Chapter index
    8.10.3. Mượn liên thư viện

    Không một thư viện nào có thể đảm bảo được hết, tất cả những tài liệu mà người khiếm thị có thể cần đến từ vốn tài liệu của riêng mình. Vì thế cần thiết là mọi nhà chức trách ngành thư viện, đặc biệt là tại mỗi điểm dịch vụ có thể truy cập vào được Mục lục Liên hợp quốc gia tài liệu chuyển dạng, mà trước đây là NUCAF và bây giờ gọi là REVEAL. (Xem Chương 10).

     

    Một dự án cho mượn liên thư viện (Hội đồng cộng đồng Châu Âu, 1997/8, Dự án TESTLAB) được điều hành ở khu vực Tây Bắc. Chương trình này được tạo ra để tạo sự thuận tiện cho việc xây dựng hệ thống truy cập độc lập vào mục lục thư viện và có thể giúp người khiếm thị mượn tài liệu chuyển dạng thông qua chương trình hợp tác giữa các thư viện. Thủ tục này hiện đang được chỉnh sửa trong tất cả dịch vụ thư viện trong khu vực, và có thể dịch vụ mượn tài liệu chuyển dạng giữa các thư viện sẽ xuất hiện lần đầu tiên. (Xem chương 11).


    Back to Chapter index
    8.11. Dịch vụ chuyển dạng

    Để đáp ứng các yêu cầu đặc biệt của độc giả thư viện, thư viện phải có dịch vụ chuyển dạng theo yêu cầu để có thể cung cấp cho độc giả bất kỳ thông tin nào họ cần ở dạng mà họ thích đọc và có đủ thời gian để đọc thì dịch vụ mới gọi là đạt hiệu quả. Với sự xuất hiện của các hình thức truy cập trực tuyến điện tử vào các nguồn thông tin thì hẳn nhiên việc này phải được coi là dịch vụ thiết yếu.


    Back to Chapter index
    8.11.1. Tiện ích tại chỗ

    Có một số dịch vụ chuyển dạng ký kết theo hợp đồng trong thư viện nhưng tùy theo mức độ những nguồn này được sử dụng như thế nào thì mới được quyết định giữa thư vệin và các cơ quan thực hiện.

     

    Các yếu tố cần xem xét đến gồm:

     

    a) các trang thiết bị chuyển dạng tại chỗ mà người khiếm thị có thể sử dụng;

    b) trang thiết bị chuyển dạng sử dụng công cộng;

    c) chính sách thư viện trong việc truy cập văn bản điện tử hay truy cập mở vào mạng trực tuyến kể cả trang web;

    d) xác suất yêu cầu và hiệu quả của dịch vụ chuyển dạng theo hợp đồng bên ngoài;

    e) loại xuất bản phẩm chuyển dạng và hoặc trọn bộ hay rút ngắn tác phẩm.

     

    Những loại này gồm tờ rời, báo, tạp chí, tài liệu học tập của sinh viên, văn bản của cá nhân, tờ rơi hay cẩm nang hướng dẫn sử dụng, danh mục kinh doanh, niên giám, minh họa, bản đồ, mẫu thêu đan, bản nhạc, thơ/kịch, chủ đề khoa học kỹ thuật, tài liệu ngoại ngữ.

    Các hình thức yêu cầu: Braille, dạng nổi, Moon, chữ lớn, dạng đọc hay văn bản điện.

     

    Đối với thư viện mong muốn xây dựng kiến thức và kỹ năng trong việc chuyển dạng tài liệu có một số xuất bản phẩm có thể hỗ trợ và kèm theo các danh mục tài liệu tham khảo. Chẳng hạn, COTIS (Hiệp hội Dịch vụ chuyển dạng tài liệu) cung cấp nhiều hướng dẫn chuyên sâu và mở rộng mà đó là những cẩm nang thực hành rất tốt và đáng tin cậy.

     

    Được coi là địa chỉ cung cấp dịch vụ chuyển dạng tài liệu, các thư viện sẽ thấy rất có ích khi tham khảo ý kiến của các thư viện đã có kinh nghiệm trong các dịch vụ này. (Xem Chương  17).

    Một số thư viện điều chỉnh cách tiếp cận với dịch vụ chuyển dạng. Trong đó có thư viện đại học và khu vực công cộng, dịch vụ AIRS của Gatehead và chương trình ‘Access to Print’  của tổ chức Bradford. Một số thư viện cung cấp dịch vụ theo hợp đồng trên toàn quốc UK như Gateshead (AIRS), Bradford (Access to Print), Leeds (Braille and Large Print Services) và Kirklees.


    Back to Chapter index
    8.11.2. Các dịch vụ chuyển dạng khác

    Có ít nhất 176 tổ chức kể cả thư viện cung cấp dịch vụ chuyển dạng tài liệu. Chúng bao gồm các hội người mù, nhà tù, dịch vụ xã hội, trường học, tổ chức tình nguyện như các dịch vụ hợp đồng tư nhân và báo nói (có nhiều dịch vụ do chính người khiếm thị thực hiện). Khoảng một nửa tổ chức cung cấp dịch vụ tại địa phương/ khu vực và một phần ba phục vụ cho bất cứ ai sống trên đất Anh.

     

    R.N.I.B có mạng toàn quốc gồm 5 trung tâm chuyển dạng cung cấp dịch vụ chuyển dạng đa truyền thông như bằng chữ lớn, chữ Braille, Moon, băng cassette và dạng điện tử, kể cả văn bản hay biểu đồ. Những dịch vụ này có cả cho người khiếm thị hay các tổ chức có liên quan.

    Tại Anh, hiện tại có một số vấn đề đáng kể đến như trường hợp cấp phép để xuất bản tài liệu chuyển dạng theo yêu cầu. Các nhà xuất bản hiện nay không tuân thủ việc nộp tập trung các bản điện tử các xuất bản phẩm của họ, những phương tiện mà có thể sử dụng để chuyển dạng nhanh theo yêu cầu.  Hiện nay vấn đề này vẫn tiếp tục được bàn cãi  trên các diễn đàn. 

     

    Mặc dù R.N.I.B là nhà cung cấp chính trong lĩnh vực này, nhưng thư viện vẫn có vai trò quan trọng để thực hiện dịch vụ này vì họ luôn lưu giữ những tài liệu mà những nơi khác không có được.  


    Back to Chapter index
    8.11.3. Bản quyền

    Một thư viện cung cấp dịch vụ chuyển dạng tại chỗ dĩ nhiên cũng phải chấp thuận theo luật bản quyền. Tuy nhiên, tình trạng này sẽ được khắc phục, với việc xây dựng “Hướng dẫn thực hiện Luật bản quyền đối với người khiếm thị” (Hội cấp giấy phép xuất bản, 2001) cho từng bản sao tác phẩm. Việc cải thiện sau này là nhờ vào đề án thông qua Luật bản quyền (người khiếm thị) hiện đang trình Quốc hội xem xét phê chuẩn. Chi tiết xin tham khảo phần 6.8.

     

    Dưới tiêu đề “Đối xử công bằng” một phần của của Luật bản quyền cho phép một cá nhân chuyển tài liệu của họ đã trả tiền bản quyền hoặc khi nó đã được chuyển dạng. Không cần xin phép trong trường hợp này. Những gì không được phép là sao chụp nhiều bản và cung cấp cho người khác.

     

    Trước khi thực hiện việc chuyển dạng cho bất kỳ một nhan đề nào, cần kiểm tra với RNIB, có biểu mẫu đăng ký thông báo chuyển dạng tài liệu (NITS), để xem có tổ chức nào vừa mới sản xuất cùng nhan đề và có cùng hình thức đã yêu cầu chuyển dạng chưa.

     

    Việc chuyển dạng chữ lớn, Tổ chức Cấp phép Bản quyền cho phép trường phổ thông và đại học phóng to tài liệu giảng dạy và học tập cái mà đã được nhà trường mua về để chuyển dạng cho sinh viên và cán bộ mà không cần thỏa thuận trước.


    Back to Chapter index
    8.12.1. Vận động đọc

    Độc giả sử dụng tài liệu thay thế thường gặp kó khăn trong việc tìm tài liệu. Nhiều thư viện và cửa hàng sách không có tài liệu ở dạng mà họ cần. Những người sáng được vận động khuyến khích đọc bằng tranh quảng cáo, trưng bày sách tại cửa hiệu sách, những bìa sách sặc sỡ, những đánh giá, điểm sách, trưng bày triển lãm tại thư viện,…Những phương tiện và cách thức trên đều chỉ phát huy được tác dụng khi đối tượng được vận động còn nhìn thấy được và đọc được. Việc vận động đọc sách vì thế còn quan trọng đối với người khiếm thị còn hơn cả đối với người sáng. Cán bộ thư viện đang thực hiện nhiệm vụ xây dựng thói quen đọc sách cho công dân thì phải luôn tâm niệm rằng nhu cầu của người không thể đọc được chữ in luôn được tính đến như tài liệu chữ lớn hay dạng âm thanh trong chương trình cổ động của họ bất cứ khi nào có thể cũng như nhắm đến đối tượng cụ thể là người khiếm thị...

     

    Một số thư viện (kể cả nhóm North West Time to Read cho cán bộ thư viện) người đang làm việc để xây dựng phong trào đọc đã sản xuất băng sách nói cho người khiếm thị trong đó có cả phần điểm sách được ghi âm.

     

    NLB đang kết hợp với Hội phát triển việc đọc sách trong dự án 'Branching Out' để xây dựng những yêu cầu thực hành tốt nhất trong lĩnh vực này. Nếu muốn biết thêm chi tiết, liên hệ
    Linda Corrigan, NLB's Reader Advice Manager
    (email:
    linda.corrigan@nlbuk.org).

     

    Quan trọng là xây dựng hàng loạt thông tin cổ động cho độc giả khiếm thị. Trong đó có bảng tin, nhóm thảo luận sách, nói chuyện sách trên băng, ngày trưng bày, và các sự kiện liên quan đến ngày cổ động đọc toàn quốc (Cũng xem  Chương 15 về quảng cáo dịch vụ thư viện).


    Back to Chapter index
    8.12.2. Thư viện lưu động

    Thư viện lưu động nên tiếp cận được, và phải có tài liệu chuyển dạng cho người khiếm thị sử dụng. Cũng nên có mục lục có thể truy cập được qua máy tính xách tay, cùng với bản sao danh mục và thông tin dưới dạng truy cập được.


    Back to Chapter index
    8.12.3. Dịch vụ giao tài liệu tận nhà

    Cần cân nhắc đến nhu cầu của người không đi đứng bị khó khăn hay không tiện khi di chuyển ra khỏi nhà, để đảm bảo là họ cần có tài liệu ở dạng thức thích hợp. Phần lớn người có vấn đề về thị lực là những người chỉ quanh quẩn trong nhà. Số người chỉ ở nhà bị khiếm thị có thể lấy số liệu từ các ban dịch vụ xã hội. 

     

    Nhu cầu từng cá nhân có thể được xét qua các chuyến khảo sát của cán bộ thư viện. Cũng như việc hình thành từ loại tài liệu cần đọc, họ phải biết tài liệu dạng nào và cần có sự hỗ trợ nào được yêu cầu. Nó có thể là các hình thức khác nhau thích hợp cho từng thể loại tài liệu đọc. Truy cập vào nguồn lực thường thông qua mục lục phích đòi hỏi cả sự tham khảo ý kiến của cả bên sử dụng để diễn giải rõ thêm nếu họ cần.  

     

    Cán bộ thư viện cũng phải đảm bảo là công nghệ thích hợp và công nghệ hỗ trợ là thích hợp cho từng nhu cầu của mỗi cá nhân. Ví dụ, nhiều thư viện cho bạn đọc mượn các thiết bị cơ bản như kính lúp, máy thu băng, v.v.

     

    Essex Libraries như là một phần trong chương trình Năm quốc gia đọc thử nghiệm dự án Thư viện không tường. Bằng cách sử dụng máy tính xách tay, những người độc giả ở nhà có thể truy cập mục lục thư viện ngay tại nhà của họ. Bạn đọc có thể chọn và yêu cầu bất cứ tài liệu nào từ mục lục. Điều này cho phép bạn đọc chọn những gì họ muốn đọc từ toàn bộ kho sách của thư viện.


    Back to Chapter index
    8.12.4. Chương trình bưu điện dành cho người mù và dịch vụ bưu điện

    Nhu cầu chuyển bưu phẩm miễn phí cho người khiếm thị đã được giao ước trên toàn thế giới. Một số nước còn mở rộng ra cả cho toàn bộ người khuyết tật như Mỹ và các nước Bắc Âu, nhưng ở Anh chỉ giới hạn cho người mù và khiếm thị ví dụ những người gặp khó khăn trong việc đọc hoặc có thị lực chỉ ở độ N 12 hoặc ít hơn thế. Có thể kiểm tra từ các bác sĩ, các chuyên gia khoa mắt hay các nhà bán kính thuốc. Những người đăng ký là người mù đương nhiên là đủ điều kiện được hưởng. Có sự phụ thuộc lớn vào điều kiện giao ước này cho cả người mù và khiếm thị và các nhà cung ứng dịch vụ vì nó cam kết cho tất cả các dịch vụ báo nói hay sách nói và cả dịch vụ do thư viện cung cấp. Vì thế rất quan trọng để đề cập đến quy định luật lệ để thực hiện giao ước này và thúc đẩy mọc sự việc diễn ra theo luật định.Thường là việc này cho phép bưu phẩm hạng một được phép như sách nói, sách chữ Braille, các ấn phẩm in nổi khác cần được dán nhãn và đóng gói cho phù hợp. Luật này bao gồm cả Hướng dẫn hiện hành của Bưu điện. (Thư viện thực hiện giao ước chuyển bưu phẩm miễn phí được yêu cầu làm hợp đồng với bưu điện địa phương về việc nhận và phân phối hàng hóa theo đúng điều kiện giao kèo). Quan trọng là thư viện đăng ký với Bưu điện để có thể sử gửi tài liệu miễn phí đến người sử dụng.

     

    Chương trình này không bao gồm tài liệu chữ lớn. Có nhu cầu phát triển thêm cả dịch vụ bưu phẩm gửi tài liệu chữ lớn đến người khiếm thị, để đảm bảo mọi tài liệu đều có thể được hưởng điều kiện như nhau do các tổ chức quốc gia và thư viện cung cấp.


    Back to Chapter index
    8.12.5. Cho mượn trang thiết bị

    Một số thư viện, làm việc cùng với các tổ chức đại học hay dịch vụ xã hội tại địa phương cho mượn các trang thiết bị hỗ trợ nhược thị và các thiết bị khác như băng cassette, kính lúp, v.v. Việc cho mượn này có thể trong một thời gian ngắn để người sử dụng thử sử dụng tại nhà để đánh giá hiệu quả sử dụng của chúng trước khi quyết định mua dụng cụ cho riêng mình, hoặc mượn trong một thời gian dài cho đến khi họ yêu cầu vật dụng nào cụ thể cần dùng. Đối với sinh viên những việc mượn thế này sẽ được yêu cầu trong suốt khóa học của họ.


    Back to Chapter index
    8.13. Tài liệu tham khảo

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (May 1999). The integrated, accessible library: a model of service development for the 21st century. Report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired Users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation Report 168. Manchester: CERLIM, Manchester Metropolitan University.

     

    Bruce, Ian and Baker, Mark. (2001). Access to written information: the views of 1,000 people with sight problems. London: RNIB.

     

    Bruce, I., McKennell, A. and Walker, E. (1991). Blind and partially sighted adults in Britain: the RNIB survey. Volume 1. London: HMSO

     

    Capital Planning Information Ltd (CPI). (2000). Co-ordinating alternative format title selection. Final report to the Library and Information Commission and Share the Vision. CPI.

     

    Chartres, Stephen. (October 1998 unpublished). The leisure reading needs of visually impaired people from ethnic minority communities. RNIB.

     

    Commission of the European Communities. (1997/8).
    TESTLAB (Testing systems using telematics for library access for blind and visually handicapped readers). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv.htm

     

    Confederation of Transcribed Information Services (COTIS).
    Guidance notes (a series of guidelines for those involved in tape production.)
    General recording technique : Tips on positioning and using the equipment.
    General presentation: Tips on presenting text verbally.
    Reading skills: Tips on enhancing the sound of your voice on tape.
    Publicity: Tips on publicising your service.
    Reading computer material: Tips on reading computer-related material.
    How to deal with tables, graphs, diagrams etc: Tips on presenting visually complicated material.
    Labelling and packaging audio cassettes: Tips on all aspects of labelling and packaging cassettes for producers and users.
    www.cotis.org.uk

     

    Confederation of Transcribed Information Services (COTIS). Reading Masterclass: join Edward Kelsey, "Joe Grundy" of The Archers and master of the spoken word, for tips on how to sound good on tape. COTIS.
    (A 70-minute instructional tape and booklet providing guidance for people involved in reading information on to tape.)

     

    Cornish, Graham P. (1997). Copyright: interpreting the law for libraries, archives and information services. 2nd ed. Library Association Publishing.

     

    Craddock, Peter. (1996). Project Libra: the provision and use of reading aids for visually impaired and other print handicapped people in UK public libraries.
    British Library, Library and Information Research Report, 91.

     

    Davies, J. Eric, Wisdom, Stella and Creaser, Claire. (2001).
    Out of sight but not out of mind. Visually impaired people’s perspectives of library and information services. Report to Resource and Share the Vision. Loughborough: Library and Information Statistics Unit.

     

    eLIB: A brief history to, and background of, the eLib programme. www.ukoln.ac.uk/services/elib/background/history.html

     

    Gloucestershire County Council, Library, Arts and Museum Service. (1998). The Gloucestershire VIP Project: library services for visually impaired people. Gloucestershire County Library.

     

    Gregory, Wendy. (1966). Informability manual: making information accessible in the light of the Disability Discrimination Act. London: Central Office of Information.

     

    Hall, Caroline. (1998). See it and hear it: Islington Library and Information Service. Library Technology, February 1998. Library Association.

     

    Henderson, Dorothy. (2000). Large print - is that all there is? STV News. Issue 33, Summer 2000.

     

    HERON on-line services on demand
    www.heron.ac.uk

     

    Jahoda, Gerald. (1993). How do I do this when I can't see what I'm doing? Information processing for the visually disabled.
    Library of Congress, National Library Service for the Blind and Physically Handicapped.

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi, and Creaser, Claire. (2000). Public library services for visually impaired people. Report to the Library and Information Commission. Loughborough: Library and Information Statistics Unit.

     

    Library Association. (2000). Copyright and the digital environment position paper. www.cilip.org.uk/committees/laca/laca4.html

     

    Machell, Jean. (1996). Library and information services for visually impaired people: national guidelines. Library Association.

     

    Marsland, David. (1992). Read all about it: newspapers for blind people. West London Institute, Centre for Evaluation and Research.

     

    Page, Geraldine. (1990). The public library service and the visually impaired person not yet registered blind: a study submitted in partial fulfilment of the requirements for the degree of Master of Arts in Librarianship. Sheffield University.

     

    RNIB. Read all about it, in any media...your regional RNIB centre. RNIB factsheet.

     

    Talking Newspaper Association UK. (1996). Good practice for talking newspapers. TNAUK.

    Talking Newspaper Association UK. (1999). Guide to tape services for visually impaired and disabled people. TNAUK (annual).

     

    White, P.J. (2001). The deafblind helpbook: practical advice and information for those who support deafblind people. Peterborough: Deafblind UK.
    Deafblind UK also operate a 24 hour helpline (voice and text) for deafblind people on 0800 13 23 20


    Back to Chapter index
    10.1.1. Vấn đề

    Người khiếm thị có nhu cầu thông tin và học tập như bao người khác trong cộng đồng nhưng phải tiếp cận với nguồn lực này bằng những hình thức tài liệu ở dạng thay thế cho tài liệu in. Tuy nhiên số tài liệu ở dạng mà họ có thể chọn đọc rất giới hạn. Trong khoảng 100,000 tài liệu ở Anh được xuất bản mới hàng năm, chỉ có 55 đơn vị tài liệu được chuyển qua dạng thay thế cho in ấn. Những tài liệu này được xuất bản và phát hành từ một số ít các cơ quan tổ chức. Các chuyên gia lĩnh vực này thường là tổ chức có phạm vi nhỏ, ở Anh như là Calibre, Clear Vision chuyên  xuất bản các tài liệu đặc biệt cho người khiếm thị. Sản xuất sách cỡ lớn của khu vực thương mại tập trung cung cấp cho thư viện công cộng và số lượng rất giới hạn và chỉ dành cho đối tượng độc giả người khiếm thị cao tuổi. Tài liệu sách báo nói được xuất bản nhiều hơn nhằm để đáp ứng sự quan tâm về nhu cầu giải trí hay thông tin của cả người lớn lẫn trẻ em loại hình tài liệu mà có thể sử dụng trên xe ô tô hay máy cassette cầm tay và hiện nay được xuất bản ở dạng CD cũng như ở dạng băng cassette.

     

    Ở Việt Nam thì con số tài liệu chuyển dạng quá ít đến nỗi không thể tính được được số tỷ lệ phần trăm so với số đầu tài liệu được phát hành hằng năm. Hiện các trường đặc biệt  hội người mù, câu lạc bộ, tổ chức từ thiện, thư viện tham gia sản xuất sách chữ nổi, sách nói analog, sách nói kỹ thuật số…Nhưng tất cả đều chưa đáp ứng được nhu cầu học tập, giải trí, thông tin và văn hoá của người khiếm thị Việt Nam 


    Back to Chapter index
    10.1.2. Công cụ chủ yếu

    Biên mục các tài liệu này vào mục lục quốc gia, mục lục liên hợp của khu vực và cơ sở dữ liệu giới thiệu sách, kể cả  các xuất bản phẩm thương mại cũng như phi thương mại chưa được giới thiệu cho công chúng. Vì các nguồn lực giới hạn về số lượng, chỉ được một số tổ chức nhỏ xuất bản và lưu giữ các tài liệu đó. Việc tạo mục lục liên hợp cho những tài liệu này là công cụ chủ yếu để xác định những nhan đề đã được chuyển dạng bằng nhiều hình thức để người quan tâm có thông tin về hình thức tài liệu và cách thức để mượn tài liệu đó. Mục lục liên hợp có thể tạo công cụ có giá trị kiểm soát thư mục, mượn giữa các thư viện, chọn lựa tài liệu và thuận lợi cho các hoạt động khuyến khích vận động người dân đọc sách.


    Back to Chapter index
    10.1.3. NUCAF

    Mục lục liên hợp quốc gia các nguồn tài liệu trong khu vực phi thương mại được Viện Hoàng gia Anh cho người mù (RNIB) xây dựng. Là một nhà sản xuất tài liệu chuyển dạng, RNIB tự xây dựng mục lục cho kho tài liệu nội bộ của mình. Năm 1984, RNIB bắt đầu thu thập thông tin tài liệu của các nhà xuất bản chữ Braille hay tài liệu nói trong các tổ chức tình nguyện, để có thêm nguồn thông tin tư liệu. Tuy nhiên, việc thu thập thông tin không có hệ thống và như thế thì làm cho một số kho tài liệu chỉ được thể hiện phần nào đó và một số thì không được phản ánh. Vào năm 1989, RNIB bắt đầu quá trình máy tính hoá mục lục phích, vì thế NUCAF- Mục lục liên hợp quốc gia được xây dựng.


    Back to Chapter index
    10.1.4. Đánh giá NUCAF

    Là một phần trong chương trình được Bộ văn hoá, Thông tin và Thể thao tài trợ để cải tiến dịch vụ thông tin và thư viện cho người khiếm thị, vai trò của NUCAF được đánh giá vào năm 1999 (Chapman, 1999). Bảng đánh giá kết luận mục lục liên hợp quốc gia của các tài liệu chuyển dạng là công cụ cần thiết để cung cấp dịch vụ và trong khi NUCAF có phần hạn chế trong hình thức trình bày, đặc biệt là mặt truy cập, thì nó cũng đã tạo được bước cơ bản tốt cho việc xây dựng một cơ sở dữ liệu toàn diện hơn


    Back to Chapter index
    10.1.5. Tương lai

    Bảng đánh giá đề nghị Thư viện Anh phải chịu trách nhiệm về cơ sở dữ liệu như là một phần của thư mục quốc gia, nhưng nó phải do một ban hợp tác giữa Thư viện quốc gia của người mù và Viện Hoàng gia của người mù chủ trì và xây dựng. Bảng đánh giá cũng đề nghị cơ sở dữ liệu mới này phải chủ yếu chứa các nhan đề xuất bản và lưu trữ của khu vực thương mại và là hợp đồng hợp tác của giữa cơ sở dữ liệu đã có sẵn và mục lục liên hợp phải được phát triển để chứa cả xuất bản phẩm của khu vực thương mại.


    Back to Chapter index
    10.1.6. Truy cập

    Nhiều người sẽ có ích lợi từ khả năng truy cập vào cơ sở dữ liệu. Người khiếm thị từ trẻ em đến người lớn, với nhiều trình độ khả năng, cần thông tin tài liệu đề làm việc, nghiên cứu, tiêu khiển, và cũng có thể chịu từ một hay nhiều khuyết tật. Có cả những người làm việc trong môi trường gần gũi với người khiếm thị (giáo viên và phụ huynh của người khiếm thị, trẻ em là con cái của ba mẹ bị khiếm thị và người chăm sóc người bị nhiều khuyết tật. Bên cạnh thư viện, nhiều cơ quan (bác sĩ, nha sĩ, và cán bộ y tế, ngân hàng, trung tâm tư vấn, ngành điện lực, khí đốt, và nước, văn phòng du lịch, tổ chức giáo dục và trường học, văn phòng chính phủ, và người cung cấp dịch vụ khác) sẽ hoặc sử dụng cơ sở dữ liệu hay chỉ dẫn giới thiệu nó cho người sử dụng khác). Hiện nay người khiếm thị và những người đang làm việc để hỗ trợ họ bị hạn chế ở một số bước tiếp cận NUCAF. Cơ sở dữ liệu mới sẽ được thiết kế để có thể truy cập rộng rãi hơn cho người sử dụng và nhân viên thư viện. Để đạt được điều đó, cần đề nghị việc xây dựng cơ sở dữ liệu phải được tổ chức trên hệ thống dựa trên web, có cả phiên bản CD và tệp điện tử khác.


    Back to Chapter index
    10.1.6.1. Hệ thống dựa trên Web

    Đây là sự lựa chọn linh hoạt nhất của cơ sở dữ liệu, và cho phép truy cập tuỳ chọn đối với nhiều đối tượng sử dụng kể cả khu vực của nhân viên thư viện và bản thân người sử dụng trực tiếp. Hàng loạt chức năng trình bày dữ liệu sẽ sẵn sàng phục vụ nhiều thành phần người dùng. Tuy nhiên, vệc cung cấp Internet thì đa dạng, cá nhân và một số tổ chức nhỏ hiện truy cập rất ít và nhiều nơi trong số đó, tình trạng này không dễ gì thay đổi trong thời gian gần đây. Cơ sở dữ liệu vì thế mà cần đến các con đường tiếp cận khác nữa.


    Back to Chapter index
    10.1.6.2. Phiên bản CD_ROM

    Hình thức này nên được dùng khi việc cung cấp Internet không có hay không thể (ví dụ các nhà chung cư, dịch vụ thư viện lưu động, thư viện bệnh viện cho bệnh nhân, nhà cung cấp dịch vụ tình nguyện cở nhỏ xuất bản tài liệu chuyển dạng và cá nhân người sử dụng) và để làm giảm áp lực các điểm truy cập dịch vụ trực tuyến.


    Back to Chapter index
    10.1.6.3. Tệp điện tử

    Là một phần tích hợp trong cơ cấu mượn liên thư viện quốc gia, tệp CSDL phải nên đưa vào mục lục liên hợp của hệ thống thư viện khu vực thông qua Unity và V.3 Online (trước đây là Viscount) và vào thư mục quốc gia


    Back to Chapter index
    10.1.7. Tiến trình

    Những đề nghị này được Ban hợp tác giữa Uỷ ban Thông tin thư viện và tổ chức Share The Vision (LIC/STV) quyết định ưu tiên việc xây dựng CSDL trong kế hoạch chương trình. Những đề nghị này hiện cũng được bàn bạc bởi các tổ chức đã xem qua các đề nghị trong bảng đánh giá về việc hỗ trợ, quản lý và bảo trì CSDL: Thư viện Anh, NLB và RNIB. Ban hợp tác LIC/STV đã chọn Reveal làm tên của CSDL nâng cao. Chương trnh phối hợp và cộng tác của Thư viện Anh tài trợ nghiên cứu tính khả thi (Chapman, 1999), để đưa ra những đề nghị cụ thể để tiến hành dự án xa hơn. Dựa vào những đề nghị này, nguồn lực cần phải được giao phó cho chuyên trách đặc tính kỹ thuật của hệ thống quản lý thư viện cho Reveal, trong khi đó BLCPP cung cấp tài trợ cho người quản lý dự án Reveal trong thời hạn quy định có giới hạn.


    Back to Chapter index
    10.2.1. Độ lớn

    NUCAF hiện đang có khoảng chín mươi ngàn biểu ghi từ hơn 260 tổ chức. Trong số này, hơn sáu mươi ba ngàn biểu ghi từ RNIB, khoảng mười một ngàn bốn trăm biểu ghi của NLB và khoảng năm ngàn tám trăm của Cablire. Các tổ chức còn lại có ít hơn một ngàn biểu ghi trên CSDL, nhiều nơi khác thì có ít hơn một trăm biểu ghi.


    Back to Chapter index
    10.2.2. Hình thức

    Các nhan đề liệt kê trong CSDL nhiều nhất là hình thức truyền thống dưới dạng nổi và tài liệu nói từ các nhà xuất bản có tổ chức phục vụ người khiếm thị. Số lớn nhất là tài liệu chữ Braille, hơn bốn mươi ngàn biểu ghi. Cũng có hơn một ngàn biểu ghi của tài liệu Moon và các dạng nổi khác. Tài liệu nói được chia thành băng cassette, có hai hay bốn track (hơn hai mươi bốn ngàn biểu ghi) và sách nói, có 6 track và đòi hỏi có thiết bị nghe đọc đặc biệt (hơn mười một ngàn biểu ghi). Còn nữa, có khoảng năm trăm biểu ghi tài liệu chữ lớn và khoảng bảy mươi biểu ghi văn bản điện tử. Dịch vụ sách nói kỹ thuật số mới từ RNIB dự định sẽ ra đời vào ngày 22 tháng 4 năm 2002 và biểu ghi cho các nhan đề dạng đó sẽ xuất hiện trên NUCAF kể từ say ngày đó.


    Back to Chapter index
    10.2.3. Tài liệu ngoại lệ

    Đó là một số tài liệu không được liệt kê trong NUCAF. Hiện nay, NUCAF không chứa tài liệu nói và cỡ lớn, vốn tài liệu thư viện công cộng của tài liệu nói và cỡ lớn, hay báo tạp chí nói địa phương. Khác với tài liệu truy cập ở RNIB, nó không có văn bản điện tử.


    Back to Chapter index
    10.2.4. Dạng tài liệu

    Tài liệu liệt kê trên NUCAF rất đa dạng. Về tiểu thuyết có nhan đề cổ điển lẫn hiện đại, kể cả tài liệu cho từng nhóm đi tượng, cho cả người lớn và trẻ em. Tài liệu phi tiểu thuyết từ sách dạy nấu ăn đến cẩm nang máy tính; kể cả nhan đề học thuật chuyên ngành, tài liệu ở ngôn ngữ khác và sách nhạc Braille. Còn có các tài liệu không thường có mặt trong mục lục của thư viện (ví dụ, tờ rời hướng dẫn sử dụng máy giặt).


    Back to Chapter index
    10.3.1. Truy cập NUCAF

    Hiện NUCAF được lưu trên CSDL của RNIB; vì những giới hạn của hệ thống mà nó không truy cập trực tiếp được, Tuy nhiên, hồ sơ của NUCAF hiện sẵn sàng trên CSDL UnityWeb do Talis và CSDL V3.Web (trước đây là V.3 Online) nhằm phục vụ mượn liên thư viện. Truy cập UnityWeb và V3.Web thường là chỉ qua bộ phận mượn liên thư viện của các thư viện. Các cán bộ thư viện dựa vào các bộ phận nơi họ cần tư vấn cho những người sử dụng trực tiếp – ví dụ, bàn thông tin, bàn lưu hành, khu vực thiếu nhi, thư viện chi nhánh, dịch vụ lưu động và phân phối tài liệu về nhà dân, và dịch vụ thư viện trường học yêu cầu bộ phận mượn liên thư viện cung cấp thông tin tư liệu chi tiết


    Back to Chapter index
    10.3.2. Truy cập qua UnityWeb

    CSDL UnityWeb (www.unityweb.org) ở dưới dạng mục lục liên hợp, CSDL thư mục Quốc gia Anh và CSDL của các bộ sưu tập chính của Thư viện Anh. Mục lục liên hợp có nhiều thư viện cộng cộng ở Vương quốc Anh và Ireland, Trung tâm cung cấp tài liệu thư viện của Anh, và vài trường đại học và thư viện chuyên ngành, và NUCAF

     

    Người đăng ký có thể truy cập Unityweb từ bất kỳ máy tính đơn nào có trình duyệt Web nối Internet. Nó được cập nhật thường xuyên. Các loại tra cứu theo tên tác giả, nhan đề, chủ đề, ngày tháng, số (ví dụ, ISBN, ISSN), hình thức, ngôn ngữ, và địa điểm lưu giữ. Hình thức của tài liệu có thể được ghi cụ thể trong lúc tìm kiếm gồm có:

    • Sách cỡ lớn
    • Tài liệu nói
    • Braille NUCAF
    • Sách Nói của NUCAF
    • Băng cassette của NUCAF
    • Moon của NUCAF
    • Tài liệu in của NUCAF (ví dụ, in chữ lớn)

    Sử dụng các chức năng tìm kiếm nâng cao, kết quả tra cứu có thể được chọn lọc tốt hơn. Kết quả có thể được lưu và phối hợp với nhau. Ví dụ, tài liệu có thể truy cập bằng các cách tìm sau:

    • Tài liệu nói và Casstte của NUCAF
    • Tài liệu nói và Casstte của NUCAF và Braille của NUCAF
    • Chữ lớn và tài liệu in của NUCAF

     


    Back to Chapter index
    10.3.3. Truy cập qua V3.Web

    V3.Web (www.v3web.com) là bước kế thừa dạng web của hệ thống mượn liên thư viện V.3 online. CSDL có chứa mục lục liên hợp khu vực của các thành viên của nó (Luân đôn, và khu vực Đông nam, tây Midlans và Nam xứ Wales) và một số hồ sơ của nơi khác nữa, (trong đó có hồ sơ của NUCAF). Vào tháng giêng của năm 2000, tất cả thư viện thành viên truy cập trực tuyến trực tiếp đến CSDL thư mục chính cũng như vào CILLA (Hợp tác lưu giữ tài liệu thư viện ngôn ngữ Indic), tài liệu của NUCAF và tài liệu nhiều kỳ của Thư viện Anh. Hồ sơ của NUCAF được cập nhật theo quý.

     

    CSDL có thể tra tìm theo nhiều cách chi tiết như tác giả, nhan đề, từ khoá, và số (như ISBN) và một phép tra cứu có thể được giới hạn trong CSDL NUCAF để đảm bảo nhiều biểu ghi trong phép tra cứu được trình bày. Trong hồ sơ của NUCAF, có thể giới hạn phép tra cứu ở hình thức cụ thể. Hình thức đó là:

    -          Tài liệu nói

    -          Braille

    -          Moon

    -          Băng hình

     

    Hình thức cũng có thể kết hợp, ví dụ tìm cả hai dạng Braille, và tài liệu nói, và tra tìm có thể chọn cả khu vực và tài liệu của NUCAF. Hiện nay các chỉ mục hình thức không có dạng chữ lớn. Kết quả tra tìm được trình bày trên từng dòng truy xuất riêng, và có đường dẫn liên kết đến biểu ghi trình bày đầy đủ.

     

    Yêu cầu bất cứ tài liệu nào có thể trực tiếp đến NLB, và khi yêu cầu mượn liên thư viện tương thích với mã liên thư viện thì tự động biểu ghi đưa vào nơi đưa yêu cầu. V3.Web có thể tạo yêu cầu liên thư viện quản lý hoàn toàn theo quy trình điện tử.

     

    NLB truy cập trực tiếp đến V3.Web và quan sát hệ thống hàng ngày để theo dõi yêu cầu gửi đến. Hiện tại thì NLB sau khi nhận yêu cầu sẽ gửi nhan đề yêu cầu trực tiếp đến cơ quan lưu giữ chúng (như RNIB, Calibre,v.v) có thể dự đoán  trước khi nhiệm vụ hợp nhất CSDL của NLB và RNIB hoàn thành và chỉ còn có một CSDL, thì thông tin tư liệu sẽ được chuyển qua V3.Web để có địa chỉ lưu giữ tài liệu cụ thể, tất cả sau đó sẽ được chỉ ra trực tiếp theo con đường truy xuất  điện tử.


    Back to Chapter index
    10.3.4. Tình trạng tài liệu

    Biểu ghi trên CSDL liên quan đến tài liệu được lưu trữ do nhiều tổ chức chuyên nghiệp phi thương mại, và trạng thái sẵn sàng của tài liệu sẽ do các tổ chức đó xác định. Yêu cầu tài liệu được liệt kê trên NUCAF qua thủ tục mượn liên thư viện (Xem chương 11)


    Back to Chapter index
    10.3.5. Các tệp máy tính được truy xuất

    Ngoài các tệp truy xuất hoàn toàn qua Unity và V.3Web, có hai hồ sơ phụ của NUCAF có thể phục vụ từ RNIB. Những hồ sơ này truy xuất theo hình thức mã ASCII để tải về hệ thống. Hồ sơ này cũng có mặt trong CSDL tài liệu gíao khoa cho người khiếm thị (VIDE) phục vụ cho trường học và Hệ thống thư viện trường đại học (ALP) để trao đổi mượn tài liệu học tập ở cổng 16. Dịch vụ thư viện của trường học quan tâm đến việc sử dụng các hồ sơ phụ này sẽ liên hệ với RNIB để biết thêm chi tiết


    Back to Chapter index
    10.4.1. Mở rộng pham vi hoạt động sang các khu vực chuyên ngành

    Vì thiếu việc bổ sung có hệ thống các dữ liệu từ tổ chức khác ngoài bản thân RNIB, sự thiếu hụt xảy ra từ bộ sưu tập của NUCAF. Khi CSDL REVEAL được xây dựng, cơ hội này sẽ đảm bảo lấp được sự thiếu hụt trong CSDL và các dữ liệu của tài liệu hiện không có trên CSDL thì sẽ được thêm vào. Công việc hiện nay (Brazier, Dane và Leeves, 1999) xác định có hơn tám mươi lăm ngàn biểu ghi cần đưa vào CSDL. Một số công việc biên mục hồi cố được tài trợ qua chương trình DCMS. Kết quả của công việc này có thêm tám trăm năm mươi ngàn biểu ghi cho các nhan đề của Cablire lưu trữ. Biểu ghi biên mục cũng được xuất bản cho vốn tài liệu của Dịch vụ Giáo dục Leeds, trường Linden Lodge và những nhan đề NLB bỏ sót không được đưa vào NUCAF, nó được tính là tất cả những nhan đề trên sẽ đưa vào mục lục liên hợp Reveal như một phần của quá trình hoà nhập của NUCAF. Một số kế hoạch biên mục hồi cố sẽ được lên kế hoạch thực hiện


    Back to Chapter index
    10.4.2. Mở rộng phạm vi hoạt động sang các khu vực thương mại

    Bên cạnh việc nâng cao hồ sơ thống nhất của khu vực phi thương mại, về sau Reveal sẽ tiếp tục mở rộng sang dữ liệu sách thương mại của các nhà cung cấp và hệ thống thư viện khu vực nhằm tạo ra Hồ sơ sách xuất bản và hồ sơ tài liệu thư viện cho sách nói và chữ lớn thương mại.


    Back to Chapter index
    10.4.3. Mở rộng truy cập

    CSDL REVEAL sẽ cung cấp hàng loạt các con đường truy cập khác nhau:

    a)  thống trên web sẵn sàng cho tất cả mọi người truy cập Internet;

    b)  có trên UnityWeb và V3.Web và các CSDL khác thông qua hồ sơ truy xuất;

    c)  có trên dạng CD Rom (rất có ích cho dịch vụ thư viện lưu động, dịch vụ phát chuyển tài liệu về nhà, trường học,v.v.)


    Back to Chapter index
    10.4.4. Khi nào REVEAL sẵn sàng

    Việc phát triển NUCAF thành REVEAL hiện là thứ hạng ưu tiên trong kế hoạch của Ban hợp tác nguồn lực của Share The Vision, với nhiều công việc dự định yêu cầu hoàn thành trong 18 tháng. Cac đặc tính kỹ thuật đã được đưa ra và quy trình tìm hệ thống thích hợp như nền chạy CSDL đã được bắt đầu. Nhiều công việc hơn cũng được cần thiết để định ra và thực hiện cơ cấu hỗ trợ quản lý và hình thành quỹ cho dịch vụ; một nghiên cứu được báo cáo vào tháng 3 năm 2002. Hệ thống được hợp đồng sẽ xây dựng bất cứ các yêu cầu bổ sung được yêu cầu và cài đặt hệ thống. Biểu ghi sẽ được truy xuất từ hồ sơ NUCAF hiện nay vào hệ thống mới và hồ sơ này sau đó được tăng thêm nhờ việc bổ sung biểu ghi qua chương trình chuyển đổi hồi cố. Khi việc hoà nhập biểu ghi được hoàn thành, REVEAL sẽ khai trương dịch vụ vo đầu năm 2003; dự án hợp tác sẽ được phát triển cả hồ sơ lưu trữ thư viện và tài liệu xuất bản sẽ được tính vào giai đoạn hai.

     

    Để hỗ trợ cộng đồng người khiếm thị việc khám páh nguồn lực sớm như có thể, Ban hợp tác nguồn lực của STV sẽ tài trợ cho việc phát triển Hồ sơ đăng ký bộ sưu tập REVEAL . Ghi nhận chi tiết của bộ sưu tập của các tài liệu truy cập trên nước Anh, điều đó sẽ cho phép người sử dụng định ra vốn tài liệu của các nhan đề theo hình thức, ngôn ngữ và chủ đề cụ thể. Dự tính sẽ thực hiện chương trình này vào mùa xuân năm 2002.


    Back to Chapter index
    References. Tham khảo

    Brazier, Helen, Dnae, Karen và Leeves, Juliet.(1999). Dự án chuyển đổi hồi cố NUCAF, giai đoạn 1- Điều tra. Báo cáo gửi Ban hợp tác LIC/STV giai đoạn 1

     

    Chapman, Ann(1999). Dự án 1: xây dựng và phát triển mục lục liên hợp quốc gia cho tài liệu chuyển dạng. Phần A: Vai trò tương lai của NUCAF và đặc tính kỹ thuật của yêu cầu siêu dữ liệu. Báo cáo gửi Ban hợp tác LIC/STV của Dự án 1

     

    Cả hai báo cáo này hiện có trên website của UKOLN tại địa chỉ www.ukoln.ac.uk

     

    Chapman, Ann (2000) Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia nguồn lực tài liệu chuyển dạng : nghiên cứu tính khả thi

     

    Báo cáo cho chương trình hợp tác và phối hợp Thư viện Anh từ Ban điều hành phát triển Reveal của STV www.revealweb.org.uk/about/suppliers.htm#content


    Back to Chapter index
    11.1. Giới thiệu

    Mặc dù hệ thống mượn liên thư viện đã được hình thành từ nhiều thập niên qua đối với tài liệu in ấn thông thường, nhưng mảng tài liệu chuyển dạng đã bị mạng hợp tác này bỏ quên. Người khiếm thị được cung cấp những dịch vụ sử dụng tài liệu thông tin và đọc ở hình thức thích hợp cho việc sử dụng của họ mà vốn đã bị cắt xén hay giảm bớt đi. Dưới đạo luật DDA, một thư viện bị coi là vi phạm luật nếu từ chối yêu cầu cho mượn tài liệu chuyển dạng, và hệ thống mượn liên thư viện vì thế phải có nhiệm vụ để giải quyết được những yêu cầu như thế.   

     

    Để đáp ứng yêu cầu này, hệ thống mượn liên thư viện đã có sẵn nhưng cần được mở rộng không chỉ để hỗ trợ truy cập rộng hơn vào vốn tài liệu thư viện mà còn cung cấp một cổng thông tin chung cho nguồn lực của tất cả tổ chức quốc gia đang hoạt động, như  RNIB, NLB, TNAUK và CALIBRE đáp ứng được cùng lúc cho một yêu cầu tra tìm để mượn. Quy trình thủ tục được thiết lập để phản ánh đúng những thực hành hiện nay. Chúng sẽ tiếp tục được đánh giá để đảm bảo có thể thích ứng với bất kỳ xu hướng phát triển mới nào.

     

    Chủ trương mới này có nghĩa là cá nhân có thể giao dịch với thư viện địa phương bất kể họ là người khiếm thị, mù lòa hay có khuyết tật về đọc với nhận thức được là họ có thể truy cập dễ dàng vào nhiều loại tài liệu chứ không chỉ là chỉ vỏn vẹn tài liệu hiện diện tại thư viện đó mà thôi.

     

    Trong khi hình thành khuôn mẫu chương trình này cần nhớ bước quan trọng tiếp theo, tỷ lệ đáp ứng yêu cầu mượn trong hệ thống còn phụ thuộc nhiều vào sự hiểu biết về vốn tài liệu của các tổ chức này. Các yêu cầu sau này có thể được phân bổ theo hệ thống hóa hơn là đáp ứng từng cái một – vừa mất thời gian lại vừa phí nguồn lực và thường dẫn đến những kết quả không thỏa mãn. Các thư viện hiện nay là thành viên của Hệ thống thư viện khu vực được khuyến khích nắm thông tin vốn tài liệu để thêm nhiều công cụ tìm kiếm tài liệu thích hợp. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó, thường chỉ có một số thư viện báo cáo thường xuyên bao quát toàn diện và đều đặn.  Để đảm bảo thực hiện mượn liên thư viện hiệu quả, cần thiết các thư viện đảm bảo là tất cả tài liệu biên mục được ghi nhận trong cơ sở dữ liệu; điều này bao gồm cả tài liệu chuyển dạng và loại in ấn cỡ lớn.

     

    Mô hình tương tự được thiết lập cho cơ quan tổ chức nào là nhà cung ứng hay sản xuất tài liệu chuyển dạng. Được dự tính đơn giản là chỉ cần họ báo cáo các nhan đề họ có cho REVEAL- CSDL quốc gia các nguồn lực có thể truy cập được. Việc thu thập thông tin trên cả hai kênh cuối cùng sẽ tập trung trở thành một nguồn lực chung mà có thể điều hành chung để phân phối trên nhiều hệ thống khác nhau.

     


    Back to Chapter index
    11.2.1. Tiếp nhận yêu cầu

    Một số người yêu cầu tài liệu là người trước đây chưa sử dụng thư viện, vì thế mà bạn nên cố gắng đáp ứng những yêu cầu của họ và điều đó giúp họ định hướng thái độ của họ đối với chúng ta cũng như dịch vụ mà chúng ta đang thực hiện. Bạn nên chào đón niềm nở thân thiện và giúp đỡ họ được càng nhiều càng tốt.   


    Back to Chapter index
    11.2.2. Đăng ký dịch vụ

    Nếu một người yêu cầu không phải là độc giả thư viện, thì thủ tục đăng ký nên diễn ra theo cách bình thường. Nếu thư viện bạn theo hệ thống tự điền mẫu, điều cần coi lại là hình thức của mẫu đăng ký. Nhiều người khiếm thị sẽ có thể tự điền mẫu đăng ký nếu mẫu ở dạng chữ lớn hay các hình thức dễ truy cập khác như dạng đăng ký điện tử.


    Tuy nhiên, một số độc giả có thể cần nhân viên thư viện giúp đỡ. Việc này cần được giải quyết một cách tế nhị để tránh gây lúng túng cho người yêu cầu và cả người được yêu cầu. Những cuộc tập huấn thích hợp sẽ trang bị cho nhân viên thư viện kỹ năng cần thiết để có thể trợ giúp độc giả trong những tình huống như thế này, vì thế nên khuyến khích toàn thể nhân viên tham gia tập huấn để nâng cao nhận thức về công tác phục vụ người khuyết tật qua chương trình thử việc thực tập và phải nên tổ chức đều đặn các khóa tập huấn lại.

     

    Để đảm bảo việc sử dụng các dịch vụ được thực hiện đầy đủ, các thông tin sau đây nên được yêu cầu thêm:

     

    a) xác định người nộp đơn có phải là thành viên của một trong bốn tổ chức Calibre, NLB, RNIB hay TNAUK; hay là người hội viên mới.

    b) cần đề nghị thư viện theo dõi chi tiết việc mượn tài liệu của họ.

    c) Nếu họ không là thành viên của bốn tổ chức trên thì đề nghị điền phiếu đăng ký (xem 11.2.3) và phiếu nên được một nhân viên công tác xã hội hay bên chăm sóc sức khỏe y tế xác nhận.

    Xin nhớ là Sách nói RNIB phải có máy đọc chuyên dụng mà chỉ cấp cho thành viên của dịch vụ này. Tuy nhiên, có thể dùng chương trình mượn tài liệu của RNIB Cassette thì có thể nghe bằng các thiết bị thông thường.  


    Back to Chapter index
    11.2.3. Mẫu đăng ký

    Bốn tổ chức đều đồng ý chấp nhận cùng một mẫu khai báo dùng chung như là giấyc hứng minh của một độc giả  khiếm thị từ bất cứ thư viện nào nếu họ chưa phải là thành viên của bất cứ ai trong số các tổ chức đó.

     

    Thư viện mà người khiếm thị sử dụng nên yêu cầu họ điền mẫu khai báo này, và phải có xác nhận của một nhân viên bên dịch vụ xã hội hay y tế, đề cập đấn một số ý sau:

     

    a) làm rõ trách nhiệm bảo vệ bản quyền;

    b) nhu cầu sử dụng tài liệu của họ là chính đáng;

    c) yêu cầu cần được chấp nhận, phải xem xét rồi mới quyết định, và có phần đăng ký chuyển tài liệu miễn phí.

     

    Hệ thống thư viện trong khu vực nên có một bản chính của mẫu này: và khi có yêu cầu thì sao ra cho khách hàng đăng ký.  Mẫu đăng ký sau đó sẽ được gửi đến Văn phòng mượn liên thư viện hay giải quyết như quy trình mượn liên thư viện thông thường. Nhiều thư viện có những chính sách và hướng dẫn cho người khiếm thị tôn trọng tuân theo các khoản phí trong thư viện như phí đặt sách, …Tuy nhiên, khuyến khích là nên bỏ qua các phí này. 

     

    Tổ chức mượn liên thư viện quốc gia tài liệu chuyển dạng cho người mù, người giảm thị thị lực và người có khuyết tật đọc.


    Back to Chapter index
    11.2.4. Phiếu yêu cầu/ Phiếu đặt sách

    Có thể theo mẫu chung nhưng cần thêm vào:

     

    a) đầy đủ chi tiết về yêu cầu của độc giả và luôn chú ý ghi hình thức tài liệu là sách nói, chữ Braille cấp 1 hay cấp 2, chữ Moon,…

    b) Gửi yêu cầu đó đến phòng mượn liên thư viện kèm theo tên độc giả cùng với tên tổ chức quốc gia mà họ vừa mới đăng ký là thành viên hoặc nếu không là thành viên thì kèm theo mẫu khai báo lần đầu tiên đăng ký mượn.

    c) Bất kỳ những yêu cầu mượn tiếp theo chỉ cần yêu cầu đánh dấu tên của độc giả trên mẫu đăng ký bằng từ viết tắt VIP – người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    11.2.5. Gửi nhận tài liệu

    a) Thông báo cho bạn đọc biết là tài liệu có thể cho mượn được.


    b) Nếu tài liệu của một trong các tổ chức quốc gia thì nó sẽ được đóng gói bằng bao vật liệu đặc biệt mà có thể sử dụng lại được và có thể sẽ được miễn phí bưu điện. Gói này đừng tháo bỏ đi vì hy vọng là tài liệu sẽ gửi trả lại thư viện; tuy nhiên, nếu người yêu cầu là thành viên của một trong các tổ chức này thì họ sẽ sử dụng gói đó để trả lại trực tiếp (cũng có khi họ có thể nhầm những tài liệu gửi trực tiếp với tài liệu mượn trực tiếp từ thư viện). Nếu chuyện này xảy ra thì nên càng khéo càng tốt để nhắc họ bằng cách gửi thư nhắc về tài liệu quá hạn m
    ượn. Thư viện cũng có thể gọi cho tổ chức cho mượn để xem coi tài liệu có được trả về bằng đường gửi trực tiếp chưa? (xem phần 17.1 để biết thêm chi tiết).


    Back to Chapter index
    11.3.1. Thông tin về nguồn và nơi lưu trữ tài liệu

    Dùng công cụ kiểm soát thư mục thông thường có thể kiểm tra ngay từ đầu về thông tin tư liệu độc già cần mượn. Cả UnityWeb và V3.Web hiện giữ một phần CSDL NUCAF (Mục lục liên hợp quốc gia về tài liệu chuyển dạng). Một phân hệ mới được đổi tên là REVEAL sẽ ra mắt vào đầu năm 2003. Chi tiết xem kỹ Chương 10: Từ NUCAF đến REVEAL.


    Back to Chapter index
    11.3.2. Mượn tài liệu của các thư viện trong khu vực

    Tài liệu ở hình thức chuyển dạng như tài liệu nói, Moon, Braille v.v. nên được trình bày trong mẫu đăng ký mượn chính thức của thư viện trong khu vực(theo quy trình thủ tục mượn liên thư viện có sẵn).

     

    Cần thiết là nên có chi tiết đề cập rõ ràng về người yêu cầu tài liệu là người khiếm thị (VIP).

    Luôn có chi tiết kèm theo về hình thức tài liệu muốn mượn.

     

    Nếu không có trong khu vực, thì nộp sang khu vực khác (xem phần 11.3.3) hoặc nếu khu vực khác cũng không có nữa thì nộp thẳng về các tổ chức quốc gia nói trên (xem phần 11.3.4).


    Back to Chapter index
    11.3.3. Đăng ký cho độc giả không phải là thành viên và ở khu vực khác

    Tất cả phiếu đến thư viện không thuộc khu vực hay ở các khu vực khác phải dùng mẫu mượn ngân hàng thư viện Anh quốc (theo thủ tục mượn liên thư viện đã có sẵn).


    Cần thiết là tất cả các yêu cầu phải nêu rõ người yêu cầu mượn là người khiếm thị (VIP).
    Luôn có chi tiết đầy đủ về các yêu cầu tài liệu như hình thức tài liệu chuyển dạng.


    Back to Chapter index
    11.3.4. Đăng ký mượn ở tổ chức quốc gia (Calibre, NLB, RNIB và TNAUK) thông qua hệ thống mượn liên thư viện

    a) Phiếu mượn gửi đến các tổ chức quốc gia bằng mẫu mượn ngân hàng thư viện Anh quốc (theo thủ tục mượn liên thư viện đã có sẵn). Có thể lấy mẫu từ:
    Trung tâm cung cấp tài liệu thư viện Anh quốc (BLDSC)
    Boston Spa, Wetherby, West Yorkshire, LS27 7BQ
    Tel: 01937 546060 Fax: 01937 546333.
    b) Nếu độc giả không tham gia bất kỳ tổ chức nào trong bốn tổ chức quốc gia, một mẫu xác nhận phải đính kèm với phiếu mượn.

    c) Đề nghị nhân viên thư viện giữ một bản photo mẫu xác nhận của độc giả đó để có khi các độc giả đó lại mượn các lần sau.

    d) Nêu rõ người đăng ký mượn là người khiếm thị cùng với thông tin chi tiết về tài liệu cần mượn.

    e) Một yêu cầu không cần mẫu xác nhận khi độc giả đã là thành viên của một trong bốn tổ chức hoặc vừa mới đăng ký gia nhập xong nhưng nhớ bao giờ cũng kèm theo tên bạn đọc.

    f) Thư viện yêu cầu nộp phiếu mượn như thường lệ dùng mẫu BL (và có mẫu xác nhận nếu có thể) và gửi đến một tổ chức có thể có tài liệu.

    g) Giả sử tổ chức quốc gia có thể cho mượn tài liệu, họ sẽ gửi miễn phí đến thư viện đặt mượn tài liệu kèm theo bản sao của phiếu yêu cầu, và giữ lại một bản sao cho tổ chức đó để làm biên nhận thu hồi tài liệu lại.


    Back to Chapter index
    11.3.5. Đăng ký mượn quốc tế

    a) Yêu cầu mượn tài liệu chữ Braille (kể cả tài liệu nhạc) nên được chuyển đển NLB, mới có hợp đồng hợp tác với Viện Quốc gia Canada cho người mù, Thư viện Quốc hội Mỹ (LoC) (chỉ dành cho tài liệu nhạc) và các thư viện quốc tế khác. (Tư vấn bạn đọc/NLB: 0161 355 2053).

    b) Đăng ký mượn tài liệu không phải là nhạc từ Thư viện Quốc hội Mỹ (LoC) thì nên thông qua RNIB đại diện cho LoC ở Anh quốc. (Dịch vụ khách hàng/RNIB: 0845 702 3153).


    Back to Chapter index
    11.3.6. Thư viện gửi yêu cầu

    a) Thông báo cho bạn đọc biết để đến nhận tài liệu. Bạn nên nhớ nhắc bạn đọc đem trả tài liệu đó cho thư viện chứ không phải gửi trực tiếp trả về cho các tổ chức quốc gia.

    b) Có trách nhiệm đem tài liệu trả tại văn phòng mượn liên thư viện và bộ phận này sẽ trả tài liệu cho các tổ chức quốc gia thông qua đường bưu điện miễn phí.


    Back to Chapter index
    11.3.7. Vận chuyển và đóng gói

    Một trong những chuyện cho thấy bưu điện có tuân theo các quy định phục vụ người khiếm thị là cho phép tài liệu băng tiếng gửi miễn phí đến người sử dụng. Vì thế tên độc giả phải đính kèm trên gói hàng mặc dù kiện hàng sẽ được gửi đến thư viện.

    Bất kỳ tài liệu nào của các tổ chức quốc gia phải được đựng trong loại bao tái sử dụng được.


    Back to Chapter index
    11.3.8. Tài liệu mất/ hư hỏng

    Thư viện mượn sẽ có trách nhiệm nếu có xảy ra chuyện mất hay hư hỏng tài liệu và sẽ bị nộp phạt theo yêu cầu của tổ chức cho mượn.


    Back to Chapter index
    11.3.9. Giám sát việc mượn liên thư viện tài liệu chuyển dạng

    Nên thống kê số liệu giao dịch hàng tháng trong khu vực và ghi lại ở phần 5, Tài liệu chuyển dạng.


    Back to Chapter index
    11.4. Tổ chức quốc gia

    Các tổ chức quốc gia sau là nơi có thể hỗ trợ tốt trong việc tổ chức hệ thống mượn liên thư viện: Calibre, NLB, RNIB, và TNAUK.

    Chi tiết đầy đủ về các dịch vụ của họ và thông tin liên lạc ở Chương 17, phần 17.1.

     

    Đề nghị là thư viện nên gia nhập vào các tổ chức này, nếu chưa làm thế, qua cách sử dụng mẫu xác nhận cũng có hiệu lực như một mẫu khai báo đăng ký vì thế sẽ làm giảm số lượng thủ tục hành chính mà người khiếm thị phải thực hiện.

     

    Một số thư viện đăng ký trực tiếp vào các tổ chức như Sách nói RNIB và Báo nói TNAUK, để đảm bảo cho độc giả địa phương sử dụng được các dịch vụ này. Cũng khuyến nghị nơi nào dịch vụ thư viện có thể thì nên đại diện địa phương quản lý hay tài trợ việc đăng ký thành viên cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    11.5.1. Ấn bản Bee Aware

    Tất cả các điểm dịch vụ thư viện mở cửa hơn 10 giờ/ ngày sẽ nhận được gói “Bee Aware”  có tài liệu hướng dẫn cho nhân viên phục vụ và một số tài liệu phát hành khác gồm  một cái thiệp và bộ hình dán. Ghé thăm trang web  Bee Aware.


    Back to Chapter index
    11.5.2. Nhận thức của nhân viên

    Chủ yếu là nhân viên thư viện nhận ra được nên tăng cường việc mượn liên thư viện và nên giới thiệu cho độc giả biết thông qua các đợt tham quan của họ để họ biết những dịch vụ này cũng như giới thiệu trong các văn bản quảng bá dịch vụ.


    Back to Chapter index
    11.5.3. Chương trình vận động

    Các thư viện cần biết chương trình mượn liên thư viện tổ chức cho cộng đồng người khiếm thị và các tổ chức cung cấp dịch vụ cho họ. (Xem Quảng bá dịch vụ ở Chương 15).


    Back to Chapter index
    12.1. Giới thiệu

    Những thư viện mà có thể tiếp cận và nhạy cảm với nhu cầu của người khiếm thị cũng sẽ nơi dễ truy cập và dễ sử dụng hơn đối với mọi người khác. Hơn nữa, người có vấn đề thị lực nghiêm trọng thích đến thư viện truy cập được nơi mà họ cảm thấy có cơ hội được tự mình chọn lựa tài liệu hơn là phải lệ thuộc vào người khác.


    Back to Chapter index
    12.1.1.

    Mặc dù chương này nhắc lại tổng quan tóm tắt những gì cần thiết mà Cẩm nang Thực hành tốt nhất đã chỉ ra khi một thư viện phục vụ người khiếm thị, điều quan trọng là phải chỉ ra được nhiều nội dung trong đó tương đối tương đương với vấn đề đáp ứng nhu cầu của người khiếm khuyết về khả năng vận động và nghe. Tương tự, nó cũng được thiết kế để đáp ứng nhu cầu người sử dụng thư viện, nhưng nhiều nội dung trong đó cũng tương đối thích hợp cho cả vấn đề thiết kế vốn tư liệu có thể truy cập được ở các viện lưu trữ, hay phòng triển lãm trưng bày nghệ thuật và bảo tàng.


    Back to Chapter index
    12.1.2.

    Mỗi một vấn đề trình bày dưới đây thích hợp cho việc tiếp cận đối với có khiếm khuyết vận động hay nghe, trừ một số chỗ có sự mâu thuẫn được ghi chú ở phần 12.7.1. Nhiều vấn đề trình bày ở chương này có thể thực hiện được mà không phải tốn kém thêm gì cả, và tất cả chúng cần được xét đến như một phần của kế hoạch điều chỉnh xây dựng trước thời điểm trình dự án và chú ý đến những gì mà tiêu chuẩn xây dựng của Việt Nam cho các công trình công cộng tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận quy định. Có những độ tương phản màu sắc thích hợp (không cần phải lòe loẹt mà cũng đừng quá xấu) là cách dễ dàng và ít tốn kém để làm tăng khả năng tiếp cận của người có vấn đề về thị lực. Những điểm dưới đây cũng nên sử dụng khi trình bày tóm lược cho kiến trúc sư hay nhà thiết kế biết chú ý, người cần được thuyết phục (nếu họ không sẵn sang) là việc tiếp cận được và vấn đề thẩm mỹ đều có vai trò như nhau trong một thiết kế tốt.


    Back to Chapter index
    12.1.3.

    Khi có kế hoạch tu bổ lớn thì nên cố gằng thực hiện một cuộc kiểm tra đánh gái khả năng tiếp cận thư viện qua một tổ chức tư vấn hay chuyên gia trong lĩnh vực phục vụ người khuyết tật, và người cũng sẽ làm việc với các nhà thiết kế và kiến trúc sư để đảm bảo đạt được những thực hành tốt nhất cho việc tiếp cận tòa nhà.


    Back to Chapter index
    12.1.4.

    Khi có kế hoạch tu bổ lớn thì nên cố gằng thực hiện một cuộc kiểm tra đánh gái khả năng tiếp cận thư viện qua một tổ chức tư vấn hay chuyên gia trong lĩnh vực phục vụ người khuyết tật, và người cũng sẽ làm việc với các nhà thiết kế và kiến trúc sư để đảm bảo đạt được những thực hành tốt nhất cho việc tiếp cận tòa nhà


    Back to Chapter index
    12.2. Đường đến thư viện

    Back to Chapter index
    12.2.1.

    Nơi xuống xe, đậu xe, hay trạm xe buýt v.v. chỉ nên cách thư viện khoảng 50 mét (lý tưởng nhất là không quá 20 mét) từ cổng chính vào. Nên có những bảng chỉ dẫn màu tương phản mạnh đặt ở cổng vào hay các bến đậu đỗ xe.


    Back to Chapter index
    12.2.2.

    Lối đi bao giờ cũng bằng phẳng, ở tình trạng tốt và cần được chiếu sáng. Các khỏang trống rộng phải được lối tráng lát để hướng dẫn như quy định xây dựng.

     

     

     Điều 52, Luật Xây dựng (có hiệu lực từ ngày 1/7/2004):

     

    1. Thiết kế xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu chung sau đây:

    ...

    đ) An toàn, tiết kiệm, phù hợp với quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; các tiêu chuẩn về phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ môi trường và những tiêu chuẩn liên quan; đối với những công trình công cộng phải đảm bảo thiết kế theo tiêu chuẩn cho người tàn tật;

     

    Thực trạng về vấn đề này tại Việt Nam

     

    Ðể người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng


    Phần lớn các công trình đang xây dựng và sử dụng hầu hết thiếu phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội.

     

    Hiện nay nước ta có khoảng 6,5-7 triệu người khuyết tật. Họ đang gặp trở ngại trong việc sử dụng các công trình xây dựng và giao thông. Bởi lẽ các công trình đang xây dựng và sử dụng hầu hết thiếu các phương tiện và trang thiết bị, cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật. Ðây là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội.

     

    Ðiều 26, Pháp lệnh về người khuyết tật đã quy định: "Việc đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo công trình nhà ở, các công trình công cộng và thiết kế, chế tạo các dụng cụ sinh hoạt, các phương tiện giao thông liên lạc phải tính đến nhu cầu sử dụng thuận tiện của người khuyết tật, trước hết là người khuyết tật các dạng thị giác, đồng thời phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành". Ngày 10-7-1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 55/1999/NÐ-CP, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh về người khuyết tật. Trong đó, có quy định các bộ, ngành phải có kế hoạch triển khai pháp lệnh trên.

     

    Thực hiện Pháp lệnh về người khuyết tật và Nghị định của Chính phủ, năm 2002, Bộ Xây dựng đã chính thức ban hành Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng. Ðây là hệ thống các văn bản pháp quy và hướng dẫn về kỹ thuật bảo đảm việc thiết kế xây dựng mới và cải tạo các công trình công cộng, nhà ở chung cư, đường và hè phố tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, đồng thời cũng sử dụng cho các cơ quan có chức năng khi xem xét, thẩm định cấp phép các dự án đầu tư xây dựng.

     

    Ngày 1-7-2004, Luật Xây dựng cũng đã chính thức có hiệu lực thi hành, trong đó tại Ðiều 52 ghi rõ: "Ðối với các công trình công cộng, phải bảo đảm thiết kế theo tiêu chuẩn cho người khuyết tật".

     

    Ðể bảo đảm mọi hoạt động xây dựng tuân thủ theo quy chuẩn xây dựng đã được ban hành và thực hiện theo quy định của Luật Xây dựng, các cơ quan chức năng phải thực hiện chặt chẽ khâu kiểm tra, giám sát và thẩm định thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng công trình công cộng và các công trình giao thông, tạo điều kiện cho người khuyết tật tiếp cận sử dụng dễ dàng.

     

    Kiều Linh
    (Hà Nội)

    http://www.nhandan.com.vn/tinbai/?top=37&sub=54&article=24376

    Việt Nam thiếu không gian cho người khuyết tật

     http://www.vtv.vn/vi-vn/VTV3/sacmau/2004/9/25775.vtv
    3:22, 08/09/2004
    Thành Lưu - Lương Huệ thực hiện

    "Người khuyết tật ở Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc đi lại, đến trường, đến các công sở để làm việc, hoặc tới những nơi giải trí..., bởi thiết kế của các công trình xây dựng hầu như không dành cho họ. Vì vậy, họ không được giáo dục đầy đủ, không có cơ hội tìm việc làm - và trở thành gánh nặng của xã hội", ông John Lancaster, nguyên Giám đốc Văn phòng hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, nói với VTV như vậy.

     

    Việc đi lại là rất khó khăn đối với người khuyết tật Việt Nam, và với tôi cũng thế. Rất nhiều toà nhà của Chính phủ mà tôi không thể vào được, nếu không có sự hỗ trợ của những người khoẻ mạnh. Tôi đã làm việc với một số dự án và ngay cả với Bộ Xây dựng, nhưng những toà nhà của các cơ quan này, tôi không thể tự mình vào được. Nếu các toà nhà này có một chiếc thang máy phù hợp, có lẽ tôi có thể đi lại dễ dàng hơn. Ngay cả những đường dốc làm tạm dành cho người khuyết tật ở một số nơi, thiết kế cũng không được phù hợp lắm - thường quá dốc và chúng tôi không thể tự lên được. Còn nhiều nơi công cộng khác như ngân hàng, siêu thị... thì chỉ có bậc thang, mà bậc thang thì những người khuyết tật như tôi không thể sử dụng được - dường như những nơi này không dành cho người khuyết tật vậy

    Mấy năm gần đây thì Chính phủ Việt Nam cũng đã bắt đầu chú ý hơn tới không gian dành cho người khuyết tật, và đã có một số công trình xây dựng được thiết kế để người khuyết tật có thể tiếp cận được. Nhưng điều đáng tiếc là những nỗ lực như vậy đã không tiếp tục được thực hiện, và hầu hết các địa phương đều lờ đi những chi tiết này. Việt Nam đang có một nền kinh tế tăng trưởng mạnh, và ngày càng có nhiều các toà nhà cao tầng được xây dựng, nhưng không ai qua tâm xem người khuyết tật cần gì để có thể tiếp cận những toà nhà mới đó. Chính những điều đó cũng khiến đất nước này chịu thiệt hại, bởi trong tương lai, những người khuyết tật sẽ không thể đến trường, không thể tham gia vào các hoạt động kinh tế, thương mại, không thể đến các trung tâm giải trí... và sẽ trở thành gánh nặng thực sự cho xã hội. Đây là một vấn đề rất lớn đối với Việt Nam. Tôi thực sự mong muốn Chính phủ sẽ quan tâm hơn tới những vấn đề này.

    Ở các nước phát triển, từ vài thập kỷ trở lại đây, Chính phủ đã quy định tất cả các toà nhà phải có thiết kế sao cho người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng thì mới được xây dựng. Ở nước tôi, thậm chí người ta còn tổ chức những cơ quan chuyên theo dõi việc thực thi những quy định này. Chúng tôi kiểm tra tất cả các toà nhà trên khắp đất nước, xem chúng có thể khiến người khuyết tật tiếp cận dễ dàng hay không. Chính phủ nước tôi không bao giờ cho phép xây dựng một công trình mà người khuyết tật không thể tiếp cận được. Ngoài công việc kiểm tra chất lượng công trình như đường dây điện, nền móng... như các bạn đang làm, chúng tôi còn kiểm tra để chắc chắn rằng, người khuyết tật sẽ không gặp khó khăn gì khi tiếp cận công trình này. Chính phủ rất kiên quyết thực hiện các quy định này. Ngoài ra, đối với những toà nhà xây dựng từ trước khi có quy định này, chính quyền địa phương sẽ đến kiểm tra và đề nghị chủ toà nhà khắc phục, sao cho người khuyết tật có thể tiếp cận dễ dàng. Chúng tôi đã có những tiến bộ vượt bậc, không chỉ bởi có luật pháp tốt, mà còn bởi Chính phủ kiên quyết thực hiện các điều luật đó. Kết quả là người khuyết tật có cơ hội được học hành, nhiều người khuyết tật có việc làm, họ có thể vui chơi cùng bạn bè... Đơn giản bởi tất cả mọi không gian họ đều tiếp cận được, và sử dụng được, kể từ tàu điện ngầm, tàu hoả, rồi taxi, xe buýt, máy bay...

     

    Tôi không nói chỉ có hai điều kiện trên. Tôi nghĩ, các bạn còn phải chú trọng tới vấn đề nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về sự cần thiết trong việc tạo dựng môi trường có thể tiếp cận đối với người khuyết tật. Bên cạnh đó, các bạn cũng cần có những kiến trúc sư được đào tạo căn bản để có thể thiết kế những toà nhà dành cho người bình thường và khuyết tật. Trên thực tế ở đất nước chúng tôi, chúng tôi không có thiết kế riêng cho những người khuyết tật, mà là những thiết kế chung cho các toà nhà, hệ thống giao thông, để làm sao, tất cả mọi người đều có thể tiếp cận và sử dụng được một cách thuận tiện nhất, bất kể họ là người bình thường hay người khuyết tật.

    Ông đang nói về việc hỗ trợ thiết kế môi trường cho người khuyết tật ở Việt Nam, ông nghĩ gì về những tác động của thực tế hiện nay ở Việt Nam đối với cuộc sống, tương lai của những người khuyết tật ?

     

    Có hai hướng ảnh hưởng. Hiện nay, ở Việt Nam, có rất, rất ít trẻ em khuyết tật có thể đến trường. Tôi đã cùng với UNICEF thực hiện một nghiên cứu về vấn đề này, và một kết quả đáng ngạc nhiên, và cũng đáng buồn là có tới trên 80% trẻ khuyết tật ở Việt Nam không thể tới trường. Đơn giản bởi trẻ khuyết tật không làm sao để đến trường được, bởi trường học không được thiết kế phù hợp với chúng. Thực ra, không tốn quá nhiều tiền bạc để làm một đường dốc vừa phải bên cạnh các cầu thang, thiết kế bàn ghế thấp hơn, toilet thuận tiện hơn cho người khuyết tật... Và đặc biệt là khi người ta xây dựng một ngôi trường mới, thì việc thiết kế phải đảm bảo tất cả trẻ em, kể cả trẻ khuyết tật, có thể tiếp cận và sử dụng là điều không phải bàn cãi. Nếu cứ xây dựng như hiện nay, trẻ khuyết tật không thể được học hành. Và nếu chúng không thể được học hành, tương lai của chúng sẽ ra sao, liệu chúng có thể ra ngoài, làm việc như tôi và bạn không? Không đến được các toà nhà, các trung tâm thương mại, không sử dụng được các phương tiện giao thông... họ không thể làm việc. Từ đó, sẽ dẫn tới hướng ảnh hưởng thứ hai, đó là chất lượng cuộc sống, là khả năng tài chính của người khuyết tật sẽ rất kém.

    Ông có thể nói một vài yêu cầu đối với các kiến trúc sư thiết kế đường riêng cho người khuyết tật?

     

    Tôi nghĩ rằng kiến trúc sư nên ngồi cùng những người khuyết tật khi thiết kế toà nhà để biết chắc toà nhà đó phù hợp với người khuyết tật. Việt Nam có một đội ngũ kiến trúc sư tài năng. Họ cần phải tiếp xúc thật nhiều với người khuyết tật, để biết phải thiết kế như thế nào để những người khuyết tật có thể tiếp cận và sử dụng các công trình của họ. Tôi không nghĩ rằng bất cứ kiến trúc sư nào cũng có thể thiết kế các toà nhà mà người khuyết tật sử dụng được, nếu không tiếp xúc với họ, nói chuyện với họ. Chỉ những người khuyết tật mới biết họ cần dốc lên với độ nghiêng thế nào, cần cửa rộng ra sao để có thể đi lại bằng xe lăn.... Bên cạnh đó, Bộ Xây dựng cần phải ban hành và kiên quyết thực hiện các quy định, các tiêu chuẩn trong xây dựng để các toà nhà, các công trình giao thông... đều hữu dụng với tất cả mọi người, trong đó có người khuyết tật.

     


    Back to Chapter index
    12.2.3. Đường dốc

    Đường dốc sẽ có ích cho người khiếm thị và cho cả người khuyết tật vận động. BS 8300 cho biết thông tin chi tiết về đòi hỏi kỹ thuật của các đường dốc có chiều dài và kiểu cách khác nhau. Đặc thù chủ yếu như sau:


    Back to Chapter index
    12.2.3.1.

    Đa số đường dốc cần có tay vịn hai bên, cao tối thiểu là 900 mm và tối đa là 1000 mm. Phải có lề an tòan 100mm trên gờ đường dốc


    Back to Chapter index
    12.2.3.2.

    Hầu hết các dường dốc cần có tay vịn cả hai bên thấp nhất là 900mm và cao nhất là 1000mm. Cũng nên có bờ kè khỏang 100mm bên các gờ của ray, để mà các đầu gậy hay bánh xe không bị trượt ra khỏi. Một tay cầm phụ khoảng 600mm cũng nên có để đảm bảo an toàn cho các em bé. Tay vịn nên có màu sắc tương phản với xung quanh, và phải chìa ra ngoài ít nhất là 300mm cả hai điểm đầu và cuối đường dốc. Tay vịn cũng nên tạo ra cảm giác thoải mái và dễ nắm .


    Back to Chapter index
    12.2.3.3.

    Đường dốc vừa đủ cạn để dễ bước xuống hay lên  có đầu đỉnh và đáy chân rộng băng chiều ngang đường đốc và dài tối thiểu 1200mm không vướng việc mở cửa hay để vật cản. Đọan đường dốc không được dài quá 10 mét cho từng đạon và và cao quá 500mm. Các nơi dừng nghỉ phải dài 1500mm, độ dốc cho phép tối đa từ 1/12, cứ cách 2 mét thì có 1 chỗ dừng.


    Back to Chapter index
    12.2.3.4.

    Chiều rộng bề mặt tối thiểu của đường dốc là 1200mm. Bề mặt không được dễ bị trơn trượt, bám tốt và thóat nước tốt

    h12a.gif 

    Hình minh họa 12a: Ray

     

    Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.


    Back to Chapter index
    12.3. Bước vào thư viện

    Back to Chapter index
    12.3.1.

    Cửa vào nên dễ nhận ra và có khỏang mở ra vào khỏang 1500x1500mm ở mỗi bên, nên phân biệt rõ với môi trường xung quanh. Ở mỗi bên có cửa sơn một màu và màu sơn tương phản với khung và nền xung quanh. Cửa kính nên có khung sơn một màu và dãi khắc phía   trên với môi trừơng xung quanh dễ nhận ra từ 900 đến 1500mm kể từ bề mặt sàn. Dãi dưới thấp khỏang 600mm để dành cho trẻ bị khiếm thị


    Back to Chapter index
    12.3.2.

    Nếu cửa vào không tự động mở chúng nên dán nhãn “đẩy vào” hay “đẩy ra” có tương phản màu cao với xung quanh. Tay nắm cửa cũng nên có màu tương phản với màu cửa chính. Cửa cũng nên cân bằng để dễ dàng mở. Nếu cửa được gắn với thiết bị đóng tự động, không nên để chế độ quá mạnh có thể gây nguy hiểm cho người khiếm thị hoặc đối với người di chuyển chậm


    Back to Chapter index
    12.3.3.

    Cửa tự động điều khiển có hai lọai:

    a. Cửa tự mở bằng cách nhận vào nút điều khiển. Nếu những cửa này được dùng thì bảng điều khiển nên có màu tương phản với xung quanh để dễ nhận biết

    b. Cửa cảm ứng theo nhiệt độ hay do sự di chuyển. Nên có âm thanh báo hiệu để biết chúng đang mở hay đóng


    Back to Chapter index
    12.3.4.

    Cửa xoay- thậm chí với lọai điều khiển mạnh – cũng không hề thích hợp cho người khiếm thị cũng như đối với người đi xe lăn, vì thế nên đổi hay có cửa phụ kế bên dùng để thay thế


    Back to Chapter index
    12.3.5.

    Nơi mà ngưỡng cửa bảo vệ chống lại thời tiết là điều cần có, nên thấp hơn có màu tương phản với đường đi

    new_of_h12b.gif

    Hình minh họa 12b: Cửa ra vào 

     

    Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.

     

     

     


    Back to Chapter index
    12.4. Bên trong thư viện

    Back to Chapter index
    12.4.1.

    Quầy tiếp tân nên đặt nơi giúp người kiếm thị dễ nhận ra, gần cửa ra vào hay được dán tên rõ


    Back to Chapter index
    12.4.2.

    Ánh sáng thì cần cho tất cả mọi người nhưng có đến 4% người khiếm thị không có khái niệm về ánh sáng. Sự phản chiếu ánh sáng cho những màu chủ lực chung quanh càng mạnh, hiệu quả ánh sáng càng được phát huy. Những điểm chính về ánh sáng có thể nhận thấy:

     


    Back to Chapter index
    12.4.2.1.

    Sự phân bố ánh sáng đồng đều sẽ rất hữu ích đối người già và khiếm thị. Bóng đèn dài cho ánh sáng sáng khuếch tán hay bóng đèn tròn (không nên chiểu thẳng vào mắt người sử dụng) nên bố trí để phủ sáng được đồng đều và làm cho mọi người có vấn đề về thị lực cảm thấy bằng lòng. Nên tránh làm cho một số thì quá sáng và nơi thì sáng mờ mờ, vì vậy những chỗ bóng đèn bị thiếu hay hư thì cần thay bóng ngay. [nên nhớ là bóng đèn dài có thể gây phiền việc sử dụng thiết bị nghe. RNID có tư vấn về chuyện này]


    Back to Chapter index
    12.4.2.2.

    Bố trí ánh sáng thêm cho những khu vực đặc biệt thì nên trực tiếp rọi vào tài liệu (ví dụ như khu vực trưng bày) mà không đựơc chiếu vào mắt người khác. Ánh sáng bên trong các kệ trưng bày thì nên rọi xuống phía dưới và đèn bàn thì nên che đi.


    Back to Chapter index
    12.5. Độ tương phản màu sắc

    Màu sắc và tương phản màu là các yếu tố chính khi thiết kế môi trường có ích đối với người khiếm thị. Đừng để sự tương phản trở nên lòe lọet quá. Phải dựa trên gam màu và độ phân giải của màu. Người khiếm thị sử dụng màu sắc như là phương tiện để định hướng. Vì thế tạo sự tương phản cũng là yếu tố an tòan quan trọng.  

     

    Hướng dẫn thiết kế ICI về việc sử dụng màu sắc và độ tương phản (ICI, 1997) cho thông tin chi tiết về cách sử dụng màu, cung cấp một bảng màu và bảng phối màu dựa trên bảng màu của Dulux. Những gì mà mắt nhìn thấy màu là sự kết hợp tỷ lệ màu, giá trị phản chiếu ánh sáng, và sắc độ hay độ phẩn giải. Vì thế cũng có thể có sự tương phản màu rõ ràng do độ bóng màu khác nhau hay từ độ sâu của cùng một màu.


    Back to Chapter index
    12.6.1.

    Thảm chùi chân ở cửa ra vào nên ngang bằng với bề mặt sàn để không gây trở ngại (hay gây cản trở cho người đi xe lăn, những người này cần có thêm yêu cầu khác nữa về việc bố trí và sử dụng thảm). Nên sử dụng các loại thảm vải giả nhung


    Back to Chapter index
    12.6.2.

    Thảm phủ sàn nhà không được để trơn trượt và có độ bám. Đối với người khuyết tật về vận động, người khiếm thính và cả người khiếm thị là vật liệu thảm tốt nhất là loại sợi ít mịn, và dệt khít và dệt theo nhiều chiều hướng


    Back to Chapter index
    12.6.3.

    Tấm thảm trải sàn phải được giữ ở tình trạng tốt. Nếu có những chỗ rách nhỏ và chỗ nối không đều có thể gây rủi ro cho người mắt kém.

    Trở về chỉ mục chương


    Back to Chapter index
    12.6.4.

    Lối đi có chiếu sáng để định hướng phải có màu tương phản với thảm trãi sàn và với các cả vật liệu cấu thành   

     


    Back to Chapter index
    12.6.5. Phải dẹp bỏ các trủi ro thường trực hay tạm thời trênn tất cả các lối đi như chậu hoa, thùng rác hay những chồng sách v.v.Cũng đừng để những vật cản như thế kế bên đường ra cổng, thang máy hay cầu thang.

    Back to Chapter index
    12.7. Nội thất

    Màu sắc của đồ đạc nên tương phản với màu sàn và tường nhà. Nội thất nên chắc và vững và tay vịn nên cách bề mặt sàn nhà khỏang từ 75-100mm, khiến ngừoi sử dụng gậy cũng định vị được. Những tay vịn thế này không nên sử dụng ở các bàn vì thế sẽ cản trở cho người đi xe lăn. Phải dẹp đồ đạc tránh ra khỏi đường đi trong tòa nhà.

    new_of_h12c.gif 

     

    Hình minh họa 12c: Kệ sách và màu sắc

    (Hình : Hội đồng Quận Somerset) 

     

    Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.

     


    Back to Chapter index
    12.7.1.

    Tốt nhất, theo các khuyến cáo mới đây, đặt giá sách trong tầm nhìn  tối đa từ 850-1750mm FFL để thuận tiện là cho mọi người khuyết tật. Tuy nhiên, điều này mâu thuẫn với nhu cầu người đi xe lăn thường chỉ sử dụng kệ cao từ 650-1150 mm. Vì thế điều quan trọng hơn là phải có hướng dẫn rõ ràng (xem 12.9.2), và nhân viên phải dành thời gian để trợ giúp khi cần thiết.


    Back to Chapter index
    12.7.2.

    Trang thiết  bị gắn vào tường như các miếng kim lọai nằm bên ngòai của một số máy như máy photocopy thì quy định không được nhô ra ngoài quá 100mm và phải có vật cảnh báo rủi ro như một miếng chắn để kế bên lối đi hay đặt sát trong hành lang khiến người sử dụng gậy cũng có thể dò được mà tránh đi.


    Back to Chapter index
    12.8. Trưng bày

    Các quầy trưng bày tương ứng với bề mặt tường, hoặc chúng nên là những kệ trưng bày dễ nhìn thấy có độ tương phản màu sắc với tường và nền. Nếu được lắp kính thì nên là kính không phản quang 


    Back to Chapter index
    12.9. Hướng dẫn và bảng hiệu

    Nên kết hợp các hai kiểu viết vì chúng rất khó đọc viết chỉ bằng chữ in, cho phép người không nhìn rõ nhìn ra hình dạng các từ, thậm chí cả khi người đó khó nhận ra từng ký tự một. Kiểu chữ chân phương như Arial thì dễ đọc hơn những loại kiểu cọ như Times New Roman. Helvetica medium, Futura và Avant Garde cũng được khuyến khích dùng. Cũng nên tạo tương phản tốt so với màu nền. Cũng nên tạo tương phản tốt so với màu nền, kích thước và độ dày chữ vừa đủ, không dùng các vật liệu phản quang. Bảng chú thích và bảng hiệu tạo sự phản chiếu do đèn và ánh sáng là cho mọi người khó nhìn thấy.


    Back to Chapter index
    12.9.1.

    Ở các tòa nhà lớn, nên có bản đồ nổi của tòa nhà gần cửa ra vào, Hãy tìm hiểu các các trng tâm hỗ trợ người khuyết tật hay hội người mù để biết dấu hiệu nào cần thiết và nên đặt ở vị trí nào để phát huy hết hiệu quả.


    Back to Chapter index
    12.9.2.

    Hứơng dẫn về cuối phòng nên có khoảng từ 1200 đến 1700 FFL. BS 8300 cho là nên có chiều cao “x” ít nhất là 30mm. Hướng dẫn đầu trên nên có chiều cao “x” ít nhất là 49mm. Hướng dẫn của kệ có 1200 mm trên FFL được khuyến khích nên dùng cho người khiếm thị cũng như người đi xe lăn, nên có màu tương phản với màu nền chung quanh và có điểm hướng dẫn

     

    h12d.gif

    Hình minh họa 12d: Bảng chữ 

    (Hình ảnh: Hội đồng Quận Somerset) 

     

    Quyền tác giả Burrington Partnership 2000.

     


    Back to Chapter index
    12.10.1.

    Thang máy là phương tiện di chuyển theo trục thẳng đứng an tòan và tốt nhất. Thang máy phải dừng ở mặt phẳng ngang bằng với mức sàn nhà. Các nút điều khiển phải đặt hàng ngang ở độ cao khỏang 900-1100mm so với mức sàn nhà. Số ttầng lầu ghi bằng chữ số Ả rập bằng chữ Braille. Nên có tín hiệu âm thanh hay đọc số thứ tự tầng lầu khi đến. Hướng dẫn quy định di chuyển trong tòa nhà cho xe lăn cũng giúp ích cho người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    12.10.2.

    Gương soi phía sau buồng thang máy phải có vạch khắc rõ và từng phần có khung bao quanh màu sắc tương phản để những người kém mắt nặng không nhầm bóng của họ trong gương với người khác đang rời khỏi thang máy và biết đứng lui trở lại khi khi cửa đóng lại.


    Back to Chapter index
    12.10.3.

    Cửa thang máy nên định giờ mở khoảng 20-25 giây


    Back to Chapter index
    12.10.4.

    Cầu thang nghiêng ở góc 90 độ so với lối đi chính. Gầm cầu thang nên được bít kín để không gây nguy hiểm cho người khiếm thị

    Trở về chỉ mục chương


    Back to Chapter index
    12.10.5.

    Chân cầu thang và đỉnh cầu thang phải có khoảng trống để di chuyển rộng khoảng 1500x1500 mm trên đỉnh và dưới chân cầu thang. Khoảng trống này phải được che bởi một đường viền hình gây chẻ đôi làm bằng vải giả nhung hay bằng các vật liệu chắc như quy định xây dựng phần M.

     


    Back to Chapter index
    12.10.6. Bậc thang

    Bậc thang để ngỏ gây nguy hiểm nên phải được bao che lại. Cũng vì lý do này, phần nhô ra ngoài giữa hai bậc kế tiếp nhau phải là 25mm. Bậc thang phải rộng tối thiểu là 1000 mm và sâu tính từ ngoài vào trong là ít nhất là 280mm. Chiều cao lý tưởng của nấc thang khoảng từ 150-170 mm, cao nhất cho phép là 170 mm. Mép bậc thang phải có mép bo và có màu tương phản thì sẽ an toàn hơn cho mọi người; miếng bo này phải bằng phẳng với phần còn lại của bậc thang.


    Back to Chapter index
    12.10.7.

    Nhất thiết phải có tay vịn, phải gắn hai bên cầu thang chiều cao là 900-1000mm. Bề dày tay vịn là 45-50 mm. tay vịn phải làm liên tục theo chiều đi lên cầu thang tay vịn sẽ chấm dứt sau khi ra ngoài nấc thang cuối ở dưới và nâc thang cuối ở trên 300mm, lý tưởng là nhô ra khỏang 500mm. Cầu thang rộng hơn 1800mm cần có tay vịn ở giữa nữa. Tay vịn phải tương phản màu với thảm và tường bên cạnh. Nêu cầu thang không có khung bao quanh thì gắn tấm chắn trong suốt ở bên hông để bảo vệ là tốt nhất. Nên có thêm tay vịn cao 450-500 mm trên mức bằng ngang sàn nhà thì sẽ có ích cho các em khiếm thị.


    Back to Chapter index
    12.10.8.

    Đường dốc bên trong giúp ích co người kém thị lực- Dường dốc lên cao hơn 600 mm phải có rào bảo vệ. Đường dốc dài phải có rào bảo vệ bên cạnh như thể đường dốc ngòai, các đường dốc giúp ích cho người ngồi xe lăn nên hai bên bảo vệ phải trong suốt với các vệt gạch cho dễ nhìn thấy.

    h12e.gif


    Back to Chapter index
    12.10.9. Thư viện lưu động cũng nên dễ tiếp cận. Nhiều người già khiếm thị thích dùng thang nâng hơn là bậc thang bước lên. Ánh sáng, trang thiết bị và màu sắc trong thư viện cũng theo chỉ dẫn như các nguyên tắc nêu trên

    Back to Chapter index
    12.11. Công nghệ hỗ trợ

    Nhiều công nghệ hỗ trợ được bàn đến ở chương 13


    Back to Chapter index
    12.12.

    Vị trí của những thiết bị chuyên dụng cũng có thể hỗ trợ hay cản trở việc tiếp cận. Những thư viện nhỏ bất kỳ thiết bị chuyên dụng nào như máy phóng đại CCTV, hay máy quét sẽ dễ truy cập nhất (và sử dụng nhiều nhất) ở các khu vực có dịch vụ chính. Ở các thư viện lớn hơn có các bộ phận chuyên biệt có nhân sự đảm trách khâu phục vụ cho người khiếm thị là hiệu quả nhất. Vị trí riêng biệt cũng giúp tránh được chuyện thiết bị đọc làm ảnh hưởng đến người khiếm thính đang sử dụng thư viện


    Back to Chapter index
    12.12.1.

    Nhân viên nên được tập huấn để sử dụng tất cả những công cụ chuyển dạng vàv các thiết bị hỗ trợ khác. Nếu họ không chắc về cách sử dụng thì họ không sẵn sàng trợ giúp cho độc giả khiếm thị được, và cũng không thúc đẩy được việc sử dụng các dịch vụ hay các trang thiết bị này.


    Back to Chapter index
    12.12.2.

    Hướng dẫn cách sử dụng các loại máy móc cần được ghi ra cho nhân viên vốn là  những người ít khi sử dụng, và nên có bảng chuyển dạng hay phóng to ở hình thức và kích cỡ thích hợp cho người khiếm thị đọc được. Ví dụ nếu máy quét và chuyển sang dạng đọc máy thì nên cung cấp cùng với phương tiện nghe, chẳng hạn nếu thu trên vật mang tin là băng cassette thì cần phải có máy cassette để giúp họ biết cách sử dụng cá thiết bị này mà không lệ thuộc nhiều vào người thủ thư phục vụ. Các hứơng dẫn này nên viết bằng ngôn ngữ đơn giản và chỉ đưa vào những điểm cơ bản như nút tắt/ mở ở chỗ nào.


    Back to Chapter index
    12.13. Tài liệu in ấn

    Tài liệu dạng in mà thư viện xuất bản nên theo cẩm nang “Hướng dẫn cách in ấn rõ” của RNIB (1997). Tài liệu này có ích cho mọi người chứ không chỉ cho riêng người khiếm thị


    Back to Chapter index
    12.13.1.

    Các mẫu hay tờ rời nên dùng loại giấy loại trắng ngà  hay kem hơn là dùng lọai trắng quá, và bề mặt không nên quá bóng, để tránh sự chói lòa  phản quang lại. Văn bản in trên nền trơn không in trên nền có logo hay có hình ảnh minh họa, để tạo độ tương phản rõ nét. Canh lề bên phải thì dễ đọc hơn là canh lề cả hai bên, vì canh lề cả hai bên có khi tạo ra khỏang cách giữa các chữ và các ký tự.  Kích cở chữ thường không nên nhỏ hơn 12 và nên dùng cở chữ 14


    Back to Chapter index
    12.13.2.

    Một số thư viện có mẫu đăng ký thẻ bạn đọc in chữ lớn cho mọi người, và đây là cách giúp đỡ kín đáo cho bất cứ ai bị khiếm thị. Các yêu cầu hay mẫu mượn liên thư viện, cũng như bất cứ tờ rời nào, cũng nên in chữ lớn, trưng bày bên cạnh nhưng loại in ấn thông thường. Điều này cho phép hơn 1/3 người khiếm thị chọn được lọai mà họ thích dùng giống như cách của người khác. Nên có tất cả tờ rơi, mẫu trên trang web của thư viện, như một số thư viện trường đại học đã làm, cũng là một cách tốt trong ứng dụng thực hành nghiệp vụ đặc biệt này.


    Back to Chapter index
    12.14. Thư viện tiếp cận được

    Thư viện tiếp cận được phải luôn đi kèm với các dịch vụ truy cập được. Người khiếm thị nên được đưa vào trong hàng lọat các dịch vụ có trong thư viện từ kể chuyện đến triển lãm.


    Back to Chapter index
    12.14.1.

    Sử dụng sách có hai hình thức in ấn dạng Moon hay Braille và dạng in ấn thông thường trong các giờ kể chuyện giúp cho trẻ khiếm thị chia sẻ niềm vui thú đọc sách với các em khác. Nó cũng cho các em bình thường khác thấy rằng có rất nhiều cách để đọc, và trẻ khiếm thị có một kỹ năng mà chúng không có. Người kể chuyện nên tránh dùng ngôn ngữ mà đối với trẻ khiếm thị không thể hình dung được. Họ phải tìm ra được những từ ngữ khác để diễn đạt, chẳng hạn thay vì “các em hãy nhìn xem” thì là “các em hãy sờ vào đây”


    Back to Chapter index
    12.14.2.

    Trưng bày và triển lãm nên có cả người khiếm thị nếu như chúng được tổ chức đằng sau kính phản quang, và các nhãn mô tả có kiểu chữ Arial cở 14. Nếu danh mục kèm theo thì nên in chữ lớn hay kèm với một băng ghi âm  sẽ giúp cho NKT hòa nhập với không khí chung của cuộc triển lãm. Những nhóm địa phương hay tổ chức thương mại thường thuê một số vị trí trưng bày trong thư viện, nên hỏi họ cuộc trưng bày của họ


    Back to Chapter index
    12.14.3.

    Quảng bá các sự kiện chung này qau báo nói cũng như những nơi chọn làm khu trưng bày. Thông báo cho các hội người mù biết rõ trước, vì thế họ có thể truyền tin tức đó trong các cuộc họp hay trên bảng tin của họ. Thủ thư phục vụ  ở các đơn vị địa phương cũng nên được thông báo. Và nên có chi tiết về các cuộc này có mời cả sự tham gia của NKT qua các dịch vụ truy cập được, bạn bè, gia đình của người khiếm thị sẽ loan báo các tin tức đó. (Xem thêm thông tin về quảng bá và thúc đẩy ở Chương 15)


    Back to Chapter index
    12.15.1.

    Quan trọng là nhớ rằng bất cứ dịch vụ phân phối thay thế nào cũng không được có chuẩn thấp hơn những chuẩn chung. Dịch vụ chuyển phát tới nhà hay viếng thăm khu dân cư cũng nên tổ chức ở các hình thức có thể truy cập như truy cập thông tin về tài liệu của thư viện, cơ hội đặt mượn tài liệu, cũng như cơ hội tham quan thư viện. Máy tính xách tay có thể sử dụng để ta cứu mục lục. Hay điện thọai di động có thể đảm bảo trả lời nhanh chóng các câu hỏi.Nhân viên phân phối tài liệu nên được tập huấn để có thể đáp ứng nhu cầu của người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    12.15.2.

    Nếu thư viện không thể thực hiện dịch vụ này thì nên có dịch vụ gửi bưu phẩm. Tốt nhất là cung cấp sách chữ lớn cho người khiếm thị nào có thể đọc dạng này, cũng như sách nói, vì dạng ấn phẩm này so với tài liệu in ấn thông thường là rất ít. Cũng nên nghĩ đến cung cấp dịch vụ hỗ trợ vệic đặt mượng thông qua danh mục các tài liệu có thể mượn được và danh mục sách mới, để bạn đọc có thể lướt qua trên kệ hay trên mục lục thư viện  


    Back to Chapter index
    12.15.3.

    Truy cập từ xa vào thư viện là lựa chọn phổ biến đối với nhiều người khiếm thị nếu họ có trang thiết bị công nghệ phù hợp, họ có thể tự tạo máy của riêng họ sử dụng màu sắc hay kích cở chữ phù hợp với nhu cầu của mình, và chọn đúng giọng đọc mà họ thích nghe. Truy cập từ xa thông qua trang web hay email thì phát triển rất tốt ở các thư viện trường đại học mà từ đó bạn đọc có thể tra tìm mục lục hay gửi các yêu cầu hay câu hỏi. Tốt nhất, tất cả các trang web truy cập có thể dùng phần mềm đọc màn hình để nghe được. (Xem thông tin thêm trong phần thiết kế trang web truy cập được ở chương 14)


    Back to Chapter index
    12.16. Tập huấn nhân viên

    Tập huấn nhân viên là phần rất cần thiết trong môi trường truy cập được. Tất cả nhân viên, không tùy thuộc vào vị trí nơi họ làm, nên có sự hiểu biết cơ bản về việc mở rộng dịch vụ cho ngừơi khiếm thị, những cách trong chừng mực điều kiện khác nhau sẽ làm  ảnh hưởng đến khả năng đọc và phải xem xét lại môi trừơng chung của thư viện. Mục đích của việc tập huấn cơ bản là đảm bảo cho các quyết định về mọi lĩnh vực của dịch vụ thư viện từ mục lục, mẫu của trang web, tất cả quy trình đều xét tới nhu cầu của người khiếm thị. Những cuộc tập huấn như thế sẽ trang bị cho nhân viên ý thức nhận ra các vấn đề, ví dụ trong thiết kế các mẫu, và đảm bảo rằng họ biết chỗ để có lời tư vấn hướng dẫn.


    Back to Chapter index
    12.16.1.

    Nhân viên làm việc ở dịch vụ đọc, cho dù có phục vụ NKT hay không, vần được tập huấn thêm với nhiều cách thích hợp để tạo sự giúp đỡ cho ngừơi có thị lực kém (thỉnh thỏang cũng đề cập đến phong cách hay yêu cầu phục vụ người khuyết tật). Những điểm chính có thể nhận thấy:

    a.  Chú trọng vào việc đáp ứng nhu cầu tri thức;

    b. Sự hỗ trợ nên theo cách để cho người sử dụng nói về cách họ muốn được nhận trợ giúp thế nào là tốt nhất

    c. Quan trọng là để nhân viên nhận biết bản thân họ và công việc họ đang làm cho NKT;

    d. Việc hướng dẫn cho phép NKT nắm lấy tay người trợ giúp đặt lên vai họ để việc hướng dẫn này luôn sẵn sàng với bất cứ ai cần đến nó;

    e. Chỉ dẫn cách mô tả môi trường (cửa, thay đổi nền nhà, cầu thang, hay cac thanh ray đi lên xuống,v.v) và kể cả việc tươi cười và nói chuyện với NKT như họ làm với độc giả khác

    f. Chó dẫn đường thì nên có chỗ riêng nếu không sẽ gây nguy hiểm hay làm phân tâm họ.  

     

    Tập huấn nhận thức nên thực hiện bởi tổ chức tâp huấn chuyên nghiệp, như RNIB. Ở một số địa phương, các hội người mù ở địa phương cũng nên được tập huấn

     


    Back to Chapter index
    Tham khảo

    Visit the Discussion Board

    Các tổ chức chuyên gia kiểm định tính dễ tiếp cận của thư viện

    ADAPT Trust. 8 Hampton Terrace, Edinburgh EH12 5JD.
    Tel: 0131 346 1999 Fax: 0131 346 1991
    website: www.adapttrust.co.uk
    Specialises in arts, galleries, libraries, museums and heritage venues.

    Burrington Partnership. 33 Green Courts, Bowdon,
    Cheshire WA14 2SR. Tel/Fax: 0161 928 6240,
    email: BurringtonandCo@aol.com

    Centre for Accessible Environments. Nutmeg House,
    60 Gainsford Street, London SE1 2NY. Tel/Minicom: 020 7357 8182,
    Fax: 020 7357 8183 website: www.cae.org.uk
    Can be contacted for details of independent auditors.

    Tài liệu tham khảo

    Barker, Peter. (1988). Building sight: handbook of building and design solutions to include the needs of visually impaired people. HMSO,RNIB.

    BS 8300. (2001). Design of buildings and their approaches to meet the needs of disabled people. British Standards Institute.

    Burrington, Gillian. (2002). Audit your access for 2004: a comprehensive CD-ROM toolkit for libraries. Burrington Partnership.

    Department of the Environment, Transport and the Regions. (1999). The Building Regulations 1991. Approved Document M: access and facilities for disabled people. Stationery Office. 1999 edition. (The government has indicated that the next edition of Part M will incorporate the standards set out in BS 8300).

    ICI. (1997). Design guide to the use of colour and contrast to improve the built environment for visually impaired people. ICI.

    RNIB. (1997). Clearprint guidelines. London: RNIB.

    Further information can also be found on The Reading University website, including:
    Colour selection in the UK - a design guide for building refurbishment. Project Rainbow, by Keith Bright, Geoff Cook, Yvonne Howard, Trish Allens; Dept. of Construction Management Engineering, University of Reading
    www.rdg.ac.uk/~keswrims/rbw.html

    Back to Chapter index
    13.1. Giới thiệu

    "Tất cả bạn đọc của thư viện là người khiếm thị phải có quyền truy cập toàn bộ mục lục, cơ sở dữ liệu, vốn thông tin tài liệu cả dạng in lẫn điện tử bằng các phương tiện, công cụ và  thiết bị đọc (Machell, 1996). Những trang thiết bị và công cụ sử dụng qua máy tính dành cho người khuyết tật  thường được gọi là công nghệ “hỗ trợ”, “thích ứng”, “truy cập” hay “thay thế”. Theo dòng chảy của công nghệ, mọi sự thay đổi về trang thiết bị đó diễn ra rất nhanh và giá cả cũng như đặc trưng kỹ thuật của chúng thường xuyên bị thay đổi.

     

    Bên cạnh đó, thực tế là hệ thống truy cập và giao diện máy tính không dễ dàng để học cách sử dụng thông thạo, rào cản đối với những người cần dùng đến các phương tiện hỗ trợ này vẫn còn là điều đáng nói.

     

    Công nghệ hỗ trợ bao gồm kính phóng đại, máy chụp hình phóng to và máy tính thiết bị đọc tài liệu in. Với những cách này người khiếm thị có thể đọc những tài liệu mà bằng những cách khác họ không thể đọc được hoặc khi thị lực họ không còn đủ để cho phép họ có thể đọc tài liệu in chữ lớn một cách thoải mái nữa. 

     

    “Công nghệ có thể cung cấp phương tiện cho người mù hay khiếm thị vượt qua những rào cản như nhu cầu đọc chữ in, sử dụng máy tính, ghi chú và giao dịch trên giấy tờ hay qua phương thức điện tử. Máy phóng đại chữ hay máy đọc, phần mềm nhận dạng chữ, phần mềm phóng đại, đọc màn hình và các thiết bị chữ nổi điện tử đều đóng góp phần nào để giải quyết nhu cầu nào đó của từng cá nhân.  Máy ghi chú và khả năng in chữ Braille trên giấy bổ sung thêm cho việc sử dụng máy tính thông thường thuận lợi cho người khiếm thị sử dụng” (Cain, 2001).

     

    Điều này nghe có vẻ hay nhưng với công nghệ phát triển nhanh thì cán bộ thư viện làm thế nào để biết được trang thiết bị nào tốt nhất để mua phục vụ cho khách hàng của họ? Cũng rất hữu ích nếu để nhân viên kiểm tra xem hệ thống trường học, hội người mù hay tổ chức từ thiện có nhận xét gì về hệ thống máy móc họ đang sử dụng, ngoài  ra còn biết được người khiếm thị đã quen sử dụng loại nào rồi. Cũng rất có lợi khi nói chuyện với các cán bộ thư viện nơi khác để biết họ có những loại thiết bị nào để đánh giá độ hữu ích của những máy móc đó, có vấn đề trục trặc nào không. Người sử dụng thư viện muốn có dịch vụ nào? Họ thường hay hỏi chuyện gì? Công nghệ thay đổi nhanh chóng, và thực tế có nhiều quan điểm và thị hiếu khác nhau giữa những người khiếm thị, nghĩa là không có giải pháp nào đơn giản và chung nhất nào cho các hoạt động của thư viện trong bất cứ lĩnh vực nào. Chương này thảo luận về những chọn lựa phương tiện nhưng việc quyết định chọn mua còn tùy thuộc vào hoàn cảnh điều kiện từng nơi. Thông tin thường xuyên cập nhật từ RNIB trên các bộ hướng dẫn trong phần nội dung về các hình thức công nghệ hỗ trợ/ thích ứng hiện có tại Vương quốc Anh. Những tờ hướng dẫn này bằng chữ in, băng tiếng, chữ Braille, đĩa hay email từ  RNIB TiLE (RNIB Công nghệ dùng trong học tập và công sở) hoặc có thể tìm thấy trên website của RNIB
    www.rnib.org.uk/technology/factsheets/factsheets.htm


    Back to Chapter index
    13.1.1. Môi trường thư viện

    Cửa vào thư viện nên có bảng chào và bảng biển chỉ dẫn rõ ràng, lọai bỏ chướng ngại vật đối với người khiếm thị. Có bảng hướng dẫn rõ ràng chỉ chỗ nơi có thiết bị sử dụng cho NKT sử dụng. Hướng dẫn thêm nên đọc ở Chương 12.

     

    Việc đặt để trang thiết bị là quan trọng. Nên chọn chỗ gần khu vực của nhân viên phục vụ để tiện cho việc nhân viên thư viện liên hệ nếu người sử dụng cần sự giúp đỡ nhưng cũng cần giữ khoảng cách đủ để có không gian riêng biệt cho họ. Cũng rất quan trọng để có chỗ làm việc dành riêng bên cạnh máy tính để đặt thêm các trang thiết bị như máy in chữ Braille, máy thu băng,…để tiện sử dụng. Khoảng không gian để máy phục vụ cũng nên để trống để tiện cho việc giữ chó dẫn đường. 

     

    Độ chói sáng có thể làm cho màn hình máy tính trở nên khó đọc. Điều này xảy ra đối với bất kỳ người sử dụng máy tính nào nhưng đặc biệt cần lưu ý đối với người có thị lực bị hạn chế. Ánh sáng mặt trời trực tiếp có thể làm giảm khả năng nhìn màn hình – màn hình nên có kính che chắn tránh ánh nắng mặt trời và các nguồn sáng khác. Các nguồn sáng phụ khác như đèn ở các góc cũng nên có cho một số người yêu cầu trong khi đó, những người khác vẫn nhìn tốt bằng nguồn sáng mức độ thấp hơn. Ở các chỗ đặt máy tính cũng cần chú ý đến trang bị ghế ngồi có thể điều chỉnh được. 

     

    Nhiều người bị khiếm thị có thể xem được hình ảnh nếu chúng được phối màu tốt hơn. Chọn lựa màu phổ biến nhất thường theo cách pha màu sáng/tối, trắng trên đen, hay ngược lại, vàng trên đen và ngược lại. Không có hai người sử dụng nào muốn cùng một độ tượng phản màu, kích cỡ chữ hay kiểu chữ giống nhau. Nên rất có ích nếu cho phép lựa chọn màu trong bất kỳ máy tính nào.


    Back to Chapter index
    13.1.2. Tiếng ồn

    Điều quan trọng là nhớ đặt trang thiết bị ở khu vực nào trong thư viện tránh xa những tiếng ồn ào từ phía bên ngoài. Để đảm bảo NKT không bị phân tán trong khi sử dụng trang thiết bị này. Cũng rất quan trọng nên cung cấp tai nghe kèm với máy tính có bộ phận phát âm để đảm bảo người nghe có góc riêng tư trong khi sử dụng dịch vụ và cũng không làm phân tán các bạn đọc khác sử dụng thư viện.


    Back to Chapter index
    13.1.3. Dịch vụ cơ bản

    Do tài chính eo hẹp, thư viện không thể cung cấp đủ các công nghệ hỗ trợ cho tất các các điểm phục vụ nhưng có một số trang thiết bị cơ bản thì nên trang bị cho tất cả thư viện như máy photo phóng to. Máy này có thể giúp một số NKT phóng lớn một số văn bản hay tài liệu cá nhân của họ đến một kích cỡ nào đó mà họ thấy dễ đọc hơn.

     

    Tất cả các thư viện cũng nên cung cấp nhiều loại kính lúp cầm tay khác nhau về kích cỡ và độ nặng (xem phần 13.3) cho cả việc sử dụng tại thư viện và mang về nhà. Điều này cho phép người sử dụng thử trong thời gian ngắn, thấy hiệu quả thì mua để sử dụng ngay tại nhà, về dùng trong thời gian dài cho đến khi họ không cần phương tiện đó nữa. Dịch vụ này có thể phối hợp với Dịch vụ xã hội hay các phòng khám mắt nhược thị. Việc chọn các bệ đọc sách cũng nên chú ý đến. 

     

    Trong hầu hết các thư viện cỡ vừa và lớn, máy phóng hình CCTV cũng nên có. Các thiết bị khác cũng nên trang bị như máy tính màn hình lớn với phần đọc hay phần mềm đọc, phần mềm phóng to chữ hay các trình duyệt web nói chung.

     

    Nghiên cứu gần đây được HumanITy (HumanITy, 2000) thực hiện do yêu cầu của Ủy ban Thông tin Thư viện để kiểm tra xem những phương tiện được đánh giá là tốt nhất trong việc tăng cường khả năng truy cập thư viện dựa vào dịch vụ cho NKT bằng công nghệ thông tin truyền thông, đặc biệt trong môi trường nối mạng. Báo cáo này cho biết những đặc điểm kỹ thuật tối thiểu cần có cho phần cứng máy tính; và bảng đánh giá kết quả hệ thống vận hành các phần mềm cho biết là Windows NT hiện nay cung cấp chức năng hỗ trợ truy cập tốt nhất cho NKT. Mặc dù viết bằng ngôn ngữ chuyên ngành, các đặc trưng kỹ thuật khuyến nghị cũng rất có giá trị cho nhân viên Tin học thư viện, và nó được kèm theo trong bảng Phụ lục A3


    Back to Chapter index
    13.1.4. Tập huấn

    Chọn hệ thống nào là tốt nhất cho thư viện thì cũng phải tập huấn nhân viên cách sử dụng các trang thiết bị đó.Tất cả nhân viên nên được tập huấn và bất cứ lúc nào có thể thì mời cả NKT cùng tham gia những đợt tập huấn này. 

     

    "Nhiều người khiếm thị khi vào thư viện sẽ cần đến sự hỗ trợ nhiều, đặc biệt khi họ là độc giả mới. Họ cần cảm thấy tự tin để mạnh dạn yêu cầu sự hỗ trợ và đến lượt nhân viên cũng cần cảm thấy tự tin để phục vụ cho người sử dụng. Nhân viên cần nhận thức những khó khăn mà NKT gặp phải. Sự hiểu lầm đôi khi xảy ra do thiếu kiến thức hiểu biết dễ dàng làm cản tr người sử dụng yêu cầu sự giúp đỡ thêm lần nữa” (Brophy và Craven, 1999).

     

    Phương tiện và trang thiết bị thường không phải là dễ điều khiển và thiết kế hợp lý cho người khiếm thị trừ phi nhân viên thư viện có thể hỗ trợ người sử dụng khi họ đến thư viện, nên chuẩn bị câu trả lời và hướng dẫn trực tiếp cho từng cá nhân về việc sử dụng từng loại phương tiện nếu không có đợt tập huấn chung. Thông tin thêm về khả năng tập huấn có thể đọc ở phần 13.6.2 và tài liệu hướng dẫn của TiLE.

     

    Tập huấn bao gồm:

    a) Nhận thức về khuyết tật về thị lực;

    b) Kỹ năng thực hành và cách giao tiếp thích hợp  như làm thế nào hướng dẫn NKT;

    c) Nhu cầu thông tin và thư viện của NKT;

    d) Chức năng sử dụng từng loại thiết bị;

    e) Quy trình cơ bản để vận hành máy;
    f) Chức năng của từng loại;

    g) thiết bị nào là tốt nhất cho nhu cầu thông tin cụ thể nào;
    h) kỹ năng tập huấn cơ bản.

     

    Một số hệ thống truy cập máy tính không dễ gì để học cách sử dụng nhưng cần thiết đảm bảo cho tất cả nhân viên có thể thực hành các động tác cơ bản như tắt mở thiết bị, hướng dẫn cơ bản cho người dùng máy, chỉnh sửa cơ bản hay điều chỉnh một số chức năng của trang thiết bị khi người sử dụng có yêu cầu.

     

    Nhiều nhà cung ứng cung cấp một số chương trình tập huấn như một phần của chương trình mua bán trọn gói và dịch vụ này cũng có thể có thêm một phần là tập huấn cho nhân viên. Cũng có những đợt tập huấn ở các trường đại học hay hội người mù ở địa phương. Chi phí tập huấn nên lồng ghép vào bất kỳ nguồn kinh phí nào dùng để mua trang thiết bị công nghệ hỗ trợ và chỉnh sửa. 

     

    Đối với người sử dụng mới, thủ thư nên khuyến khích tư vấn họ nhắm vào mục đích đáp ứng nhu cầu cụ thể của độc giả hơn là biểu diễn hết tât cả các tính năng kỹ thuật mà các máy móc có được.

     

    Hướng dẫn sử dụng máy tính nên được trình bày chi tiết. Câu viết nên ngắn gọn xúc tích đơn giản. Các thông tin hướng dẫn quy trình nên nói rõ khi nào và thực hiện bước kế tiếp thế nào cho rõ ràng. Các văn bản hướng dẫn cũng nên viết bằng nhiều hình thức chữ chuyển dạng.


    Back to Chapter index
    13.1.5. Hỗ trợ của địa phương

    Rất quan trọng để tìm ra các tổ chức từ thiện, trường học nào dành cho người mù và sinh viên mù để hợp tác và làm việc với họ. Nhân viên thư viện làm việc gần gũi với các trung tâm dịch vụ bảo trợ xã hội hay trung tâm mắt là điều cần thiết. Các tổ chức từ thiện có thể tổ chức tập huấn và thường là họ cũng không muốn biết ai làm việc gì.


    Back to Chapter index
    13.1.6. Hệ thống nào?

    Cũng nên khuyến khích thư viện nên đi tìm hiểu kỹ càng thông tin về các nhà cung ứng lớn các trang thiết bị hỗ trợ. Có rất ít người đủ kiến thức để có thể giải quyết được đầy đủ mọi vấn đề và nhiều loại trang thiết bị khi mua đòi hỏi phải tương thích nhau.

     

    Một số câu hỏi cần thiết trước khi quyết định mua:

    - Tôi muốn mua cái đó để làm việc gì?

    - Nó vận động thế nào?

    - Chúng có cần thiết bị hỗ trợ không?

    - Có tập huấn không?

    - Bảo trì thế nào?

     

    Ban Công nghệ Học tập và Việc làm của RNIB thường có những tờ thông tin cập nhật thường xuyên để giới thiệu những dịch vụ thông tin công nghệ qua điện thoại hay email. Thường có những thông tin cơ bản về các trang thiết bị mới và giá cả của chúng. Thông tin chi tiết về dịch vụ này đang ở cuối chương và những tờ tin cũng được đề cập đến ở các phần liên quan trong chương tiếp theo.


    Back to Chapter index
    13.2. Người nhược thị cần gì?

    RNIB xuất bản bốn tờ tin 'See for Yourself', để cho những lời khuyên về cách bảo vệ và sử dụng mắt bạn một cách tốt nhất. Có thể đặt qua Dịch vụ Khách hàng của RNIB 0845 702 3153. Có một số cách rất đơn giản hỗ trợ cho việc đọc dễ dàng hơn cho người vẫn còn chút ít thị lực mà không phải tốn tiền nhiều hay phải sử dụng các loại máy móc quá phức tạp.


    Back to Chapter index
    13.2.1. Kính và khoảng cách

    Các loại kính khác nhau được dùng trong nhiều mục đích sử dụng khác nhau như để đọc hay để chạy xe hay sử dụng ở nhiều khoảng cách khác nhau. Để đọc chữ, kính cận hay kính đọc thường luôn được sử dụng. Màn hình máy tính, tuy nhiên, thường là có khoảng cách trung gian xa hơn việc cầm sách đọc nhưng không đến nỗi quá xa đến nỗi phải dùng kính viễn thị. Những kính đặc biệt dùng cho thiết bị hiển thị đôi khi cũng được yêu cầu, trong các trường hợp nhìn xa để thấy rõ nhất.  Chuyện này hầu như là có thể làm được một cách dễ dàng với các loại màn hình hay máy trạm mà có thể điều chỉnh độ cao hay độ xa. Những loại này có thể tìm mua ở các nhà cung ứng thiết bị văn phòng loại mà có thể gắn trên tường hay bàn và thường rất nặng. Một giá đỡ có thể cần có để đỡ được sức nặng của màn hình lớn. Một giá điều khiển có thể trị giá lên đến 150 bảng Anh.


    Back to Chapter index
    13.2.2. Ánh sáng

    Mức độ sáng thường là yếu tố chính để giúp nhìn rõ và tùy thuộc vào sở thích từng cá nhân. Một số người đọc dễ dàng nhất đối với loại ánh sáng mạnh chiếu trực tiếp vào trang sách, người khác thì lại ưa dùng ánh sáng yếu hơn nhưng lan tỏa rộng hơn. Đèn phụ là cách tốt nhất để điều chỉnh được nhu cầu sử dụng và thường là đèn huỳnh quang tỏa ánh sáng đồng đều được ưa sử dụng hơn (Wright, 1999). Một cái đèn như vậy có thể có tại các nhà cung ứng thiết bị văn phòng thông thường với giá ít hơn 50 bảng. Một trong số các bộ hướng dẫn 'See for Yourself' cũng đề cập đến chuyện ánh sáng.


    Back to Chapter index
    13.2.3. Độ chói và phản xạ

    Một yếu tố liên quan đến ánh sáng là sự chói: giấy trắng có thể làm người đọc bị phản quang nhiều hơn và làm cho khó đọc hơn. Để ngăn chặn hiện tượng này, một số người phủ một tấm nhựa màu trong suốt hoặc loại giấy acetate để giảm bớt độ sáng. Có thể tìm được các loại giấy này tại các cửa hàng bán văn phòng phẩm hay dưới dạng các túi đựng tài liệu. Màu nào là tốt nhất thì chỉ có thể dựa trên kinh nghiệm cá nhân mà thôi.

     

    Màn hình máy tính chống chói và phản quang thì có thể chuyển vị trí đặt máy để tránh sáng từ cửa sổ hay từ bóng đèn tròn hay dài phản chiếu lại người xem, hoặc dời những người mù hoàn toàn đến khu vực cửa sổ. Những màn hình lọc chất lượng cao cũng có thể giúp ích được nhưng không giảm độ tương phản màu hay tránh chói được nhiều. Màn hình lọc 21 inch có thể tốn đến 120 bảng. Loại rẻ hơn thì không nên dùng vì có thể có chất lượng không cao.


    Back to Chapter index
    13.2.4. Màu sắc

    Nhiều người (có thể coi là bị mù màu) thường thấy được một màu số phối hợp tốt với nhau nên đọc được dễ hơn.  Điều này có thể xảy ra vì độ tương phản cao nhất hay độ chói giảm xuống thấp nhất (được mô tả ở phần 13.2.3 ở trên) Khung màu chỉnh sẵn trên màn hình máy tính có thể được áp dụng, điều chỉnh, và lưu lại để có thể sử dụng lại cho những các nhân vật thường hay sử dụng máy tính trong thư viện.


    Back to Chapter index
    13.2.5. Định dạng ký tự

    Loại chữ in (kiểu chữ) có thể ảnh hưởng đến tính dễ đọc của văn bản. Theo nghiên cứu của RNIB về loại chữ nào tốt nhất cho người khiếm thị (cả trên màn hình hay trên giấy), những chữ chân phương và ít kiểu cọ sẽ dễ đọc hơn như Arial, Universal hay Helvetica thì dễ đọc hơn là kiểu chữ có nét sổ nhiều như kiểu Times hay những kiểu mà khoảng  cách chữ không đổi như Courier. Văn bản không canh lề thì dễ lướt theo hơn là loại canh lề đều hai bên, dùng cả chữ in và hoa phối hợp hơn là chỉ dùng mỗi loại chữ hoa vì chiều cao hay hình dạng chữ dễ nhận ra hơn.

     

    Các tờ tin của RNIB cho biết cách làm sao để dễ tiếp cận thông tin hơn qua các bộ ‘The See it Right Pack’ (RNIB, 2001). 'Clear print hints and tips' có thể tìm thấy trên website của RNIB (www.rnib.org.uk/seeitright/whyaccess.htm). Rất tốt để tham khảo các hướng dẫn này để biết cách in tài liệu cho người sử dụng, và để chọn chế độ mặc định thích hợp trên máy tính cho tất cả mọi người chứ không chỉ riêng cho người có vấn đề về thị lực


    Back to Chapter index
    13.3. Một số cách để phóng đại chữ

    Hầu hết những người nhược thị đọc được chữ phóng to ra, nhưng với hầu hết các trường hợp khiếm thị, chuyện này không phải luôn là như vậy! Tuy nhiên, cứ tạm nghĩ là nghĩ là chữ càng to hơn thì càng nhìn rõ hơn.


    Back to Chapter index
    13.3.1. Không dùng công nghệ hay dùng công nghệ cấp thô sơ

    Làm giảm khoảng cách từ mắt đến chữ đọc có thể giúp cho chữ phóng to hơn, vì thế việc cầm sách gần hơn cũng là một cách hữu hiệu để phóng to chữ. Nếu một người cúi xuống để đọc trên bề mặt nằm ngang, có lẽ do cuốn sách nặng quá và khó có thể giữ sách trong một thời gian, hay là lúc cần dùng tay để ghi chú. Thao tác này làm mỏi lưng và cổ và nếu lâu dài sẽ gây thêm nhiều triệu chứng xấu khác nữa. Nâng sách bằng các giá bệ đỡ, hay dùng các kẹp giữ sách có thể là cách hiệu quả để đọc rõ hơn mà không bị các phản ứng phụ đáng tiếc xảy ra. Những thiết bị này có ở các nhà cung ứng thông thường với giá dưới 100 bảng Anh. 

     

    Sách khoa học bằng chữ lớn thì thường hay có, nhưng nếu  sách in chữ thông thường thì cũng có thể phóng to các đoạn cần đọc bằng máy photo, mà không sợ bị phạm luật bản quyền.

     

    Có thể khó khăn trong việc dùng giấy khổ lớn, vì thế hãy xem xét các dạng thay thế được, hay photo khổ giấy A4 chiều dọc thành hai khổ A4 chiều ngang hơn là vừa với khổ cỡ của tờ A3.


    Back to Chapter index
    13.3.2. Kính quang optical

    Có nhiều loại kính phóng đại mà thường đó là phương tiện đầu tiên mà những người có vấn đề về mắt sẽ nghĩ đến trước tiên. Có nhiều loại phù hợp với nhiều độ thị lực khác nhau, trong đó có một số rất tốt cho người nhược thị, thường là do trung tâm mắt hay khoa mắt bệnh viện chỉ định.

     

    Có khá nhiều loại rất phổ biến. Kính lúp cầm tay để sử dụng và dễ đem theo. Kính phóng đại đặt một chỗ cũng tương tự như vậy để mà người sử dụng thuận tiện cho việc ghi chép  . Máy phóng đại chiếu sáng có thêm nguồn sáng (có pin) nhưng cần phải cầm để nó tựa trên bề mặt giấy. Thanh và vòm kính phóng đại còn tùy thuộc vào loại giấy, và nếu phóng to một khu vực hay theo dòng thì rất đơn giản. Một số cửa hàng bán đồ trang trí và lưu niệm cũng bán kính lúp có tròng kính thích hợp cho từng người sử dụng, và có thể có vòng ánh sáng huỳnh quang để chiếu sáng chỗ cần làm rõ. Một số người ngồi và dùng kính hiển vi loại ống kính đôi hay đơn. Đọc trên màn hình máy tính cũng nhằm mục đích để giữ tầm mắt xa ra. Tròng kính phóng đại loại này hay loại khác có thể tìm thấy ở các trung tâm mắt nhược thị như Partially Sighted Society, hoặc công ty như Horizon và Optima Low Vision Services.

     

    Vấn đề chính của tất cả loại kính này là độ mạnh của tròng kính, đường kính càng nhỏ, thì giảm lượng vật thể có thể nhìn được mà không cần di chuyển kính. Dùng kính mạnh nhất thì có ít hơn một chữ thấy được.


    Back to Chapter index
    13.3.3. Kính quang Fresnel

    Ống kính Fresnel thường dùng dạng tờ nhựa với các vòng để hội tụ ánh sáng. Và cho mức độ phóng đại thấp nhưng sẽ phủ được khu vực rộng. Chất lượng nhìn được khá kém, và việc phóng to tương tự thế thì có thể thực hiện bằng cách xê dịch ống kính cho gần hơn. Ống kính loại này có thể dùng cho tivi và màn hình máy tính, và có giá lên tới £100 (phụ thuộc vào kích thước màn hình).


    Back to Chapter index
    13.3.4. CCTV_ Máy trợ thị

    Máy trợ thị cũng thường gọi là CCTVs gồm máy chụp và màn hình, và được thiết kế để trình bày hình ảnh phóng to của chữ hay vật trên màn hình. Máy chụp có thể cầm tay hay nằm trên giấy (giống như con chuột máy tính), hay dạng có bệ đứng và màn hình có thể là màn hình tivi hay màn hình máy tính. Có rất nhiều kiểu khác nhau để chọn lựa, nhưng tất cả đều có tính năng chung như khả năng thay đổi kích cỡ chữ hay chuyển đổi màn hình để chữ trắng xuất hiện trên nền đen hơn là chữ đen trên nền trắng.

     

    Tính năng quan trọng nhất để xem xét khi chọn mô hình cho môi trường thư viện như tính linh hoạt để thích ứng với hàng loạt nhu cầu khác nhau của người sử dụng:

    a)  khả năng thay đổi độ cao của màn hình;

    b)  khả năng thay đổi màu sắc phối hợp được sử dụng để hiển thị chữ (đôi khi gọi chế độ nửa màu);

    c)  tự động chú ý, mà không cần người sử dụng phải chú ý nhìn vào màn hình nếu khoảng cách từ họ đến chữ xa hơn đáng kể (ví dụ tương tự như khi đang đọc 1 trang giấy mỏng chuyển qua đọc 1 cuốn sách dày);

    d)  nhu cầu cần điều chỉnh màu đầy đủ cũng như chế độ một gam màu hay độ hiển thị sáng/ bóng.

     

    Có sự chênh lệch giá lớn giữa chương trình mua dùng ở nhà (ít hơn £300) và mua để dùng trong công sở hay trường học (hơn £1,000). Chất lượng hình ảnh, tính dễ sử dụng, và một số tính năng khác có thể làm tăng giá thành sản phẩm.  RNIB TiLE cũng đã cho thông tin chi tiết về phần mềm phóng đại hình ảnh có trên thị trường của Vương quốc Anh.


    Back to Chapter index
    13.4. Đọc chữ khi bị mù hoàn toàn

    Máy đọc đã có mặt trong thư viện từ lâu, một số công nghệ mà chúng tuân thủ là quét và dùng bộ nhận dạng chữ - hiện nay gần như hoàn toàn hòa vào dòng công nghệ chung, và hiện cho phép giảm giá thành chi phí xuống đáng kể. Người đọc đặt tài liệu lên bàn kính của máy quét, nó sẽ chụp hình đó như máy photocopy. Hình ảnh này được chuyển qua phần mềm nhận dạng chữ, và sau đó phát âm thanh lớn ra từ hệ thống đọc mà người sử dụng có thể điều chỉnh được.

     

    Máy quét hiện nay rất rẻ, và phần mềm nhận dạng chữ hiện nay đạt độ chính xác cao. Thậm chí còn có thể chỉnh sửa kiểu cỡ chữ, chuyển đổi dạng văn bản. Tuy nhiên một số hạn chế vẫn còn gặp phải như chữ viết tay thì vẫn không nhận ra, nền màu, giấy bị nhăn, bảng fax không rõ, bảng biểu và văn bản in ở một góc có thể cũng  không nhận dạng được.  Chữ rõ thì có thể nhận dạng chính xác đạt đến 99%, mặc dù lỗi có thể vẫn có và lỗi đó đôi khi làm người nghe cảm thấy bực bội.

     

    TiLE đã có một bản thông tin chi tiết về tất cả các dạng máy đọc và phần mềm OCR hiện có trên thị trường.


    Back to Chapter index
    13.4.1. Máy đọc chuyên dụng

    Có nhiều loại máy đọc chuyên dụng, mà hệ thống điều khiển được thiết kế càng đơn giản càng tốt. Nhấn một nút để bắt đầu và ngừng  để thực hiện việc quét tài liệu và đọc, và các phím khác cho phép người đọc đọc từng từ hay thậm chí từng chữ.  Một số đặc tính khác mà người sử dụng yêu cầu tệp tin quét xong lưu vào đĩa hoặc chép ra băng. Những máy này giá thành từ 1000 bảng đến 2700 bảng nếu so với các bộ phận cấu thành cũng tương đương như gồm máy tính, máy quét, phần mềm OCR và hệ thống đọc  thì máy chuyên dụng này khá đắt nhưng rất tiện lợi vì việc sử dụng đơn giản hơn nhiều. Chúng không đòi hỏi phải biết nhiều về máy tính, nếu cách sử dụng giống như máy cassette thì tiện lợi hơn là máy tính. Hiệu của các loại này là  Pronto (Modern World Data), Galileo (Modern World Data), Aladdin Ambassador (PulseData, Telesensory), Lesefix 2000 (Professional Vision Services) và Portset Reader (Techno-Vision and Concept Systems).


    Back to Chapter index
    13.4.2. Đọc tài liệu in bằng công nghệ máy tính

    Một máy tính thông thường có thể chuyển thành máy đọc có máy quét, phần mềm OCR và bộ phận phát âm. Một máy quét đầy đủ với gói phần mềm OCR có thể bỏ ra 50 bảng để mua, nhưng độ chính xác, tốc độ hay độ ồn có thể trả giá thành sẽ cao hơn nhiều. Theo quan điểm công nghệ, có khi dùng máy chuyên dụng thì đơn giản hơn vì nếu không người sử dụng phải cần có kiến thức về máy tính cơ bản như cách sử dụng phần mềm đọc màn hình để điều khiển đầu ra của âm thanh. Cũng có thể kết nối với màn hình chữ nổi điện tử vào máy tính, tạo thành máy đọc cho một người vừa câm vừa điếc. Cách sử dụng thiết bị đọc và chữ Braille điện tử trong máy tính được mô tả ở phần 13.6.

     

    Phần mềm OCR thường biết đến là TextBridge ClassicOmniPage Lite thường kèm với hợp đồng mua máy quét. Chúng được thiết kế cho người sáng và có cả tính năng mà không phù hợp với người không nhìn thấy được ví dụ phải cầm giữ trang giấy và chỉnh sửa các trang đồ họa. Cũng có loại giá thành cao hơn như phải có đầy đủ tính năng TextBridge (Action Computer Supplies, Concept Systems, RNIB) và OmniPage (Action Computer Supplies), và các gói OCR đầy đủ khác như Kurzweil 1000 (RNIB, Sight and Sound), Cicero (Concept Systems, Dolphin, Pulsedata), Open Book (RNIB, Blazie), Scan and Read Pro (Modern World Data) và Recognita (Professional Vision Services), chuyên biệt thiết kế dành cho người khiếm thị. Trong nhiều trường hợp, các gói chuyên dụng cũng có chung tính năng với máy đọc chuyên dụng và giá của phần mềm từ 100 đến 800 bảng. Những phần mềm này loại ra các tính năng không thích hợp với nhóm đối tựơng sử dụng và có thể xuất hiện dạng văn bản cho người sử dụng nào vẫn còn nhìn được chút ít.

     

    Sự lựa chọn phần mềm giữa OCR chuyên dụng và thông thường thì thường có sự mâu thuẫn giữa giá cả và độ tiện dụng. So với ứng dụng chung, phần mềm chuyên dụng:

    a)  đảm bảo làm việc như máy đọc dành cho người mù, ví dụ như bộ phận đọc sẽ được thử với phần mềm;

    b)  sẽ loại đi những tính năng không phù hợp, ví dụ vấn đề xử lý đồ họa;

    c)  không nhận ra chi tiết đồ họa trên trang giấy;

    d) loại bỏ tính năng thiết kế cho người nhược thị ví dụ việc chỉnh sửa độ tương phản màu sắc của dạng văn bản;

    e)  tự động định dạng văn bản để trình bày thành một hình thức trình bày liên tục mà không có cột, v.v.;

    f)  đắt tiền hơn nhiều so với phần mềm thông thường.


    Back to Chapter index
    13.5. Truy cập tài liệu qua máy tính

    Máy tính hiện nay rất phổ biến ở các khu vực phục vụ của thư viện để bạn đọc có thể tự tra cứu mục lục điện tử, lướt web hay sử dụng thư điện tử. Ngày càng có nhiều thư viện muốn có mô hình dịch vụ dùng công nghệ truy cập phục vụ người khuyết tật những người vốn là đối tượng hay bị loại khỏi cuộc cách mạng điện tử. 

     

    Có nhiều loại trang thiết bị có thể thích hợp cho đối tượng này với chức năng tương tự như một máy tính, một số thì rẻ và đơn giản, và một số khác thì cao cấp và cũng đắt tiền hơn nhiều.


    Back to Chapter index
    13.5.1. Không dùng công nghệ hay dùng công nghệ cấp thô sơ

    Khá nhiều ý tưởng đơn giản để cải thiện màn hình được giới thiệu ở phần 13.213.3 như trên. Những điều này gồm:

    a)  dùng kính thích hợp để đọc

    b)  đặt màn hình gần hơn bằng cách dùng tay đỡ dễ điều khiển di chuyển màn hình và giúp giảm chói và phản chiếu sáng lại từ cửa sổ hay ánh sáng từ phía trên;

    c)  dùng màn lọc màn hình chống chói chất lượng cao;

    d)  chọn khung màu màn hình tối đa để tự cá nhân người sử dụng quyết định chọn các giá trị màu mà họ thấy dễ coi nhất cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ chọn riêng cho ngừơi khiếm thị;

    e)  ứng dụng kính Fresnel (xem phần  13.3.3 ở trên ).


    Back to Chapter index
    13.5.2. Cải tiến bàn phím máy tính

    Một phương tiện rẻ và đơn giản hơn cho người còn nhìn thấy chút ít nhưng không quen dùng bàn phím thông thường là cải tiến các ký tự trên bàn phím. Cách dễ làm là dán một loại nhãn dính vào các ký tự rõ và lớn hơn hay phủ lên toàn bộ nguyên một bộ găng mà đã có các ký tự đã in trên đó. Nếu dùng nhãn dính thì toàn bộ bàn phím của máy tính khác cũng cần làm cho chỗ khác nếu có yêu cầu. Với bộ găng, có thể lấy ra dễ dàng để chuyển qua bộ máy tính khác khi có yêu cầu. Giá thành từ 10 đến 25 bảng Anh, nhãn dính có thể tìm thấy ở Dolphin Systems and Concept Systems, và KidGlove bán các bộ găng bàn phím.

     

    Cũng quan trọng là nên có bàn phím thông thường. Rất có ích tham khảo ở cơ quan kiểm định về bộ phận thiết bị đầu ra là những thiết bị có lợi cho người còn nhìn được chút ánh sáng.


    Back to Chapter index
    13.5.3. Cải tiến chuột máy tính

    Điểm chuột hay con trỏ thông thường rất khó định vị trên màn hình, và có rất nhiều cách để cải thiện nó. Tùy thuộc vào đĩa cài đặt chuột mà có số lớn các tính năng khác nhau. Hộp thoại xuất hiện khi chức năng chuột được chọn từ hộp điều khiển (control panel) của Windows sẽ cho biết các chức năng có thể có cho một đĩa cài đặt chuột cụ thể. Bao gồm các điều sau:

    a)  điểm trỏ của chuột lớn hơn;

    b)  điểm trỏ chuột có màu ;

    c)  hình dạng di động của con trỏ;

    d)  dấu vết con trỏ chuột dễ nhận ra bằng cách cách xếp chồng nhiều lần lên nhau hình ảnh con trỏ và sáng lên mỗi khi chuột di chuyển;

    e)  một bộ phận định vị để thông báo vị trí con chuột trên màn hình;

    f)  một tính năng tự động di chuyển con trỏ chuột trên màn hình bằng một nút mặc định.

     

    Có nhiều tiện ích của con chuột máy tính như phần mềm, cho đủ các loại tính năng. Nên nhớ nếu có phần mềm điều chỉnh được thì cần nhớ đến điều chỉnh chuột, kết hợp tiện ích giữa hai bên cho hài hòa tương thích để không bị trường hợp xung đột do không chúng tương thích nhau.


    Back to Chapter index
    13.5.4. Màn hình lớn

    Rất dễ dàng để thay thế màn hình máy tính thông thường với loại lớn hơn. Màn hình thông thường như dùng công nghệ Cathode Ray Tube (CRT), tương tự như loại dùng trong TV. Đơn vị dùng để đo màn hình là inch, nhưng thực ra khu vực diện tích nhìn thấy thường ít hơn 1 inch. Thông thường chúng ta hay thấy màn hình 14 inch nhưng kích thuớc nhà sán xuất ghi là màn hình 15 inch. Hiện loại 17 inch rất phổ biến và thậm chí 21 inch cũng không phải là hàng hiếm như trước đây nữa.

     

    Màn hình phẳng RT rất có ích cho việc giảm chói và phản chiếu lại và một số có chất phủ chống chói. “Màn hình phẳng” có nhiều loại khác nhau, dùng loại LCD với công nghệ bộ bóng bán dẫn màn hình mỏng như thường thấy ở máy tính xách tay. Không cần phải chiếu sáng thêm và nó chiếm khỏang không gian rất nhỏ, màn hình TFT có nhiều thuận tiện là nó cho hình ảnh hoàn toàn đều đặn mà không bị triệu chứng bị nhấp nháy. So với màn hình CRT thì nó đắt tiền hơn nhiều nhưng so với công nghệ phát triển hiện nay thì giá thành LCD thực ra đã giảm đi rất nhiều so với lúc mới xuất hiện trên thị trường. Một màn hình CRT 19 inch và một LCD TFT khoảng 15 inch gần 300 bảng Anh nếu đặt hàng từ cửa hàng trực tiếp bán sản phẩm của nhà máy.

     

    Nếu màn hình lớn hơn 24 inch thì giá cả rất đắt, và màn hình lớn như vậy thì cồng kềnh, nặng nề, và khó bố trí. Chúng ít khi thích hợp với người khiếm thị vì mặc dù có màn hình lớn, khoảng cách từ mắt đến góc của màn hình thì thường quá xa để có thể nhìn thuận tiện. Những người còn có thể nhìn được chút ít thì có thể ngồi cao lên để nhìn lên phía trên màn hình rõ hơn và như thế thì rõ ràng là không tiện lợi chút nào.


    Back to Chapter index
    13.5.5. Cải tiến màn hình bằng tính năng điều chỉnh của Windows

    Có thể dùng chức năng của Windows để thay đổi sự xuất hiện của màn hình kể từ phiên bản 3.1, nhưng với những version mới đây thì việc điều chỉnh dễ dàng tìm ra và điều chỉnh thuận tiện hơn. Những phiên bản cũ thì những tính năng này bị giấu trong các tệp hệ thống hay trong bảng điều khiển (Control Panel), một bảng điều chỉnh khả năng truy cập nhanh (Accessibility Wizard) trên phiên bản Windows 98 cho nhiều chọn lựa để mọi người đều có thể dễ dàng sử dụng.

     

    Các yếu tố màn hình chạy trên Windows có thể thay đổi gồm:

    a)  kích cỡ trình bày tiêu đề và trình đơn;

    b)  độ phân giải màn hình: đó là số độ của hình ảnh trên màn hình; độ phân giải thấp thì chấm lớn hơn và ít hơn trên màn hình rộng hơn;

    c)  kích cỡ thanh cuộn và khuôn của cửa sổ;

    d)  kích cỡ các biểu tượng chương trình và các nhãn đính kèm;

    e)  khung màu của tất cả các cửa sổ thì người sử dụng chọn lựa hay thiết kế trước.

     

    Mặc dù tính năng chọn lựa của Windows đều được dựng sẵn, vẫn còn nhiều khu vực nơi mà gam màu và kích cỡ chữ có thể tùy biến nhưng khi chọn thì không được đáp ứng. Nhiều hộp thoại tin nhắn bị lỗi nên khi điều chỉnh sẽ không thể làm phóng to kích cỡ chữ lên được. Nhiều ứng dụng tự thiết lập khung màu theo cách riêng mà không dùng màu mặc nhiên của Windows cho. Một số ứng dụng có thêm tính năng như khả năng trình bày các nút lớn trên trình đơn hay điều chỉnh văn bản trình bày ở kích cỡ lớn hơn đến 100% (tính năng này luôn có trên thanh công cụ trên Microsoft Office).

     

    Một nghiên cứu báo cáo gần đây do Ủy ban Thư viện và Thông tin thực hiện kiểm tra khả năng cho phép người khiếm thị chỉnh sửa cài đặt trên máy tính và các phương tiện để họ chuyển sang cài đặt trên toàn hệ thống hay máy trạm. Báo cáo của HumanITy (HumanITy, 2000) chỉ ra việc s dụng Windows NT sẽ hỗ trợ ứng dụng truy cập tốt nhất, mà mạng thư viện có thể hỗ trợ cho cả người sáng lẫn người khiếm thị chỉ cần chỉnh sửa chút ít trong cấu trúc hệ thống của mạng chính. (Xem phần Phụ lục A3).


    Back to Chapter index
    13.5.6. Cải tiến màn hình bằng phần mềm thông thường

    Nhiều phần mềm có các ứng dụng để làm phóng to màn hình lớn như có thể theo nhiều cách khác nhau. Một trong những cách chung nhất là dùng Microsoft Magnifier, đầu tiên xuất hiện trên phiên bản Windows 98, hiện có trên Windows 2000 và XP. Ứng dụng trong các phiên bản mới này này có thể có chức năng phóng to hình ảnh khu vực xung quanh con trỏ tức chỉ chú trọng vào phần quan trọng mà người đọc quan tâm ví dụ khi lướt chuột thì trình đơn được tô sáng lên.

     

    Trong khi chương trình Magnifier có một số tính năng có ích như khả năng theo dấu vết con trỏ hay chuyển đổi màu màn hình. Tính năng phóng đại khu vực nơi con trỏ định vị có thể ít khi được sử dụng trong khi đang đánh văn bản, mặc dù nó có thể có ích trong khi sử dụng Internet. Một số chương trình đồ họa được quảng cáo có tính năng phóng đại thì nên nhớ phải kiểm tra để xem nó có ích gì không cho NKT hay nó chỉ thiết kế nhằm làm cho người bình thường có thể thấy rõ các chi tiết của hình họa mà thôi. 


    Back to Chapter index
    13.5.7. Cải tiến màn hình bằng phần mềm chuyên dụng

    Sản phẩm phóng to màn hình trên thị trường hiện nay hiện rất mạnh và phức tạp dành riêng cho mục đích phục vụ người khiếm thị. Có các sản phẩm như Lunar (Concept Systems, Dolphin, Visionaid, Visualeyes), ZoomText Xtra (Concept Systems, RNIB, PulseData, Sight & Sound, Visionaid, Visualeyes), Magic (Sight & Sound, Professional Vision Services, Blazie), Magnice (Choice Technology) and Argus 3000/I (Visualeyes, Visionaid). Giá thành từ £80 đến £320, trừ Argus vì là sản phẩm phần cứng phóng đại nên giá lên đến  £3.000. Giá cả phụ thuộc vào số giấy phép, hệ điều hành, và dùng cho 1 máy hay dùng toàn mạng. Một số cải tiến màn hình có thể được nối mạng, vì thế nó có thể truy cập từ bất cứ máy trạm nào. RNIB TiLE ấn hành một bản thông tin chi tiết về tất cả sản phẩm phần mềm phóng đại màn hình có mặt trên thị trường Anh quốc.

     

    Những sản phẩm này có tính năng cho phép phần mềm được điều chỉnh cho dù có phức tạp vì các ứng dụng cụ thể, cho dù kiến thức sử dụng của nhân viên thư viện và người sử dụng không cần thiết phải chuyên sâu. Nhà cung cấp phần mềm phóng đại phải bị đòi hỏi thực hiện cam kết là họ phải tập huấn cho thủ thư và cho độc giả. 

     

    Chú ý là hệ thống phóng đại màn hình thay đổi tùy theo gói phần mềm. Một số chỉ phóng đại văn bản mà không xử lý được đồ họa, hay không tương thích giữa phần mềm và phần cứng, hoặc không tương thích với một phần mềm hay phần cứng nào đó. Vì thế quan trọng cố gắng thử hệ thống trước hoặc buộc phải mô tả trước các tính năng yêu cầu cần có. 

     

    Nguyên tắc phần mềm phóng to màn hình là hình ảnh trên màn hình thông thường có thể tự động phóng lớn ra. Điều này có nghĩa là màn hình chỉ trình bày một phần tỷ lệ của nội dung gốc: ¼ hình ảnh lớn có thể nhìn được nếu phóng to gấp 2 lần như việc tăng kích cỡ lên 2 lần là ứng dụng cho cả hai chiều. Phóng to gấp 4 hay 5 lần thì rất khó để ứng dụng, vì chỉ có một phần nhỏ nội dung được trình bày. Ở mức độ phóng lên 5 lần có hai nút nhỏ trên hộp thọai trên màn hình có thể chạy ở độ phân giải 640x480.

     

    Để giúp gỡ rối, một số thiết bị âm thanh được cài đặt để hỗ trợ phần mềm phóng đại được thêm vào gói sản phẩm điển hình như ZoomText Xtra level 2, Lunar Plus, và Magic with Speech, làm giá thành tăng thêm từ 110 bảng đến 160 bảng so với giá gói chỉ có ứng dụng phóng đại. Điều này không cho phép các sản phẩm này được một người mù hoàn tòan sử dụng vì không phải mọi thứ trên màn hình đều có thể đọc lên, mà nó chỉ có thể giúp mức độ phóng đại cao như có thể, hoặc trong trường hợp người sử dụng không thể nhìn màn hình suốt. Hiện chỉ có một phần mềm, Supernova (Dolphin, Concept Systems, Visionaid), tích hợp đầy đủ tính năng đọc với tính năng phóng to màn hình. Và đây là trường hợp duy nhất, cả hai chức năng chạy độc lập hoặc cùng chạy với nhau. Giá thành của Supernova từ 695 bảng đến 995 bảng cho phép đặt hàng dùng một máy tùy theo phiên bản nào mà khách có yêu cầu.

     

    Khi mức độ phóng to tăng lên, đơn giản chỉ làm cho các chấm lớn hơn để lắp ráp bức tranh lại, hình dạng của các ký tự có thể bị kéo giãn, đặc biệt là các chữ W và X. Hầu hết các sản phẩm phóng đại màn hình có thể ứng dụng rất dễ dàng với mục đích làm chữ trông được rõ hơn. Đôi khi tính năng này bị đụng với tính năng kỹ thuật khác như độ phân giả, nét màu hay tăng tốc hình họa, thì cần đề nghị nhà cung ứng giúp đỡ.

     

    Các tính năng hữu ích khác trong hầu hết các gói phóng đại luôn có yếu tố chính cho phép tính năng tắt hay mở, tăng hay giảm một cách dễ dàng. Nút này tắt khi màn hình đọc có tác dụng, khả năng chuyển màu không phụ thuộc vào Hộp điều khiển của Windows, và khả năng thay đổi cửa sổ phóng đại sẽ chỉ chiếm một phần nhỏ trên màn hình, phần còn lại là không phóng lớn ra. Con trỏ chuột hay điểm nháy cũng có thể cải tiến theo một số cách để chúng dễ nhìn thấy hơn.


    Back to Chapter index
    13.6. Dùng máy tính có thiết bị đầu ra là chữ Braille hay giọng đọc

    Hệ thống thiết bị đầu ra là chữ Braille hay phát âm rất phức tạp khi cài đặt và vận hành. Thường cài đặt hay thất bại, hay trở nên không tương thích với cấu hình máy hay bị một số hiệu ứng phụ lỗi kỹ thuật hay hình ảnh ngoài mong đợi.  Tuy nhiên chúng là công cụ tuyệt vời sẽ đầy tiềm lực đối với người khiếm thị vốn không có điều kiện tiếp xúc với thế giới thông tin mà hiện nay đang được lưu trữ nhiều dưới dạng hình thức điện tử .

     

    Để có sản phẩm tốt, nhân viên kỹ thuật của thư viện nên tham gia tìm hiểu, chọn lựa, và thực hiện cài đặt phần mềm và phần cứng. Chi phí dự kiến nên tính vượt ra ngoài giá trần của phần cứng và phần mềm vì có thể cần thêm chuyên gia tư vấn từ phía nhà cung ứng hay một nhà tư vấn độc lập. Cũng nên dự tính khoảng thời gian cần thiết để dành giải quyết các trục trặc kỹ thuật hay tập huấn nhân viên.


    Back to Chapter index
    13.6.1. Đánh máy

    Có một số người có vấn đề về thị lực mà không thể dùng phần mềm phóng đại sẽ làm cho thủ thư phục vụ trong phòng máy tính của thư viện gặp rắc rối hơn.  Họ có thể đánh máy không? Nếu không, thì ít nhất thủ thư có thể cấp một máy xài độc lập và chỉ họ có thêm nơi  tập luyện. Học gõ bàn phím thì cần cho một số người không còn nhìn thấy tốt được, và nên khuyến khích cho người khiếm thị nếu có thể được. Để gõ bàn phím thì cần có bàn phím thông thường.

     

    Nên nhớ là những đợt tập huấn máy tính căn bản thông thường sẽ không thích hợp đối với người bị mất thị lực. Các khóa đánh máy ở các trường đại học trong địa phương, tổ chức tình nguyện, hay các lớp buổi tối có thể kéo dài để hỗ trợ cho việc học của họ. Hoặc các khóa dạy máy tính thu trên băng cũng nên giới thiệu để mua hay cho người học mượn về nhà. RNIB cũng có băng cassette dạy đánh máy và một số sản phẩm chuyên nghiệp khác có cả khóa học trên phần mềm phát âm. Như Iota Touch Type (Iota Software) và Centre Touch Typing Tutor (VICTAR). RNIB TiLE cung cấp thông tin về kỹ năng sử dụng bàn phím cũng có danh mục các sản phẩm và dịch vụ nói trên.


    Back to Chapter index
    13.6.2. Tập huấn sử dụng máy tính căn bản

    Một số người chỉ có thể đánh máy nhưng không có kinh nghiệm sử dụng máy tính thì cần được tập huấn để biết cơ bản biết sử dụng máy tính. Khái niệm nằm dưới nhiều phần thực hành ứng dụng, kể cả Windows, là cái gì đó rất dễ nhìn thấy, biểu tượng, trình đơn, nút, thanh công cụ, hộp chỉnh sửa, nút phát thanh, và nhiều cái khác nữa.  Nên chỉ dẫn họ tìm đến một chuyên gia dạy vi tính trước khi tự cố gắng hỗ trợ họ sử dụng máy tính trong thư viện. 

     

    Tập huấn máy tính cơ bản là vấn đề rất tế nhị vì người cần tập huấn lại là người khiếm thị. Tập huấn CNTT tổng quan nhìn chung rất ít khi thích hợp vì người hướng dẫn thường căn cứ vào những chỉ dẫn của học viên dựa trên những gì họ theo dõi trên màn hình hay dùng chuột. Nhưng các chuyên gia dạy vi tính đặc biệt thì rất khó tìm và phí học rất cao. Dễ hơn là tìm các dịch vụ của các nhóm tình nguyện cho người mù có những người tập huấn đủ kinh nghiệm và kiến thức hỗ trợ cho NKT đầy đủ. Có một số tài liệu đặc biệt biên soạn cho người khiếm thị 'Windows 95 - giải nghĩa' (Morley, 1997) và ‘Windows 98 - giải nghĩa’ (Morley, 2001) và các tài liệu hướng dẫn trên CD hay băng cassette. RNIB TiLE cũng phát hành các thông tin liệt kê các tài liệu hướng dẫn, sản phẩm hay dịch vụ tâp huấn cho NKT ở Anh quốc. 


    Back to Chapter index
    13.6.3. Hệ thống phát âm

    Hệ thống phát âm từ máy tính yêu cầu hai yếu tố:
    a) phương pháp tạo âm thanh, như card âm thanh, hay loa, hay bộ phận giọng đọc nhân tạo;

    b) một phần đọc màn hình đó là phần mềm chuyển nội dung trên màn hình vào hệ thống để phát ra tín hiệu dưới hình thức tiếng nói.

     

    Như thường được trình bày một cách xúc tích “phần mềm đọc là bộ não của màn hình, và hệ thống phát âm sẽ là giọng nói giao tiếp” (Waddell, 1998).

    Máy tính hiện đại luôn gần như luôn được cung cấp một phần cài đặt âm thanh thích hợp đã dựng sẵn, vì thế phần tổng hợp giọng nói đặc biệt hiện nay cũng rất ít khi cần đến. TiLE ấn hành bảng tin chi tiết về hệ thống phát âm hiện có ở Anh quốc như Hal (Concept Systems, Dolphin, Visionaid), JAWS (Sight and Sound, Professional Vision Services, RNIB), OutSpoken (Professional Vision Services), ProTalk (Professional Vision Services), Window Bridge (Techno Vision Services) và Window-Eyes (Force 10, Computer Room Services). Giá cho một đặt hàng đơn là từ 500 đến 900 bảng, mặc dù bắt đầu đã có một số sản phẩm nhắm vào thị trường nội địa chỉ với giá 80 bảng.

     

    Hai sản phẩm phần đầu ra là chữ Braille và phát âm kể cả tính năng mô tả yếu tố đồ họa. JAWS for Windows cũng luôn hỗ trợ phần mềm đọc và Braille, cung cấp mã ngôn ngữ để cải tiến phát âm và công cụ để nhận dạng lỗi phần cứng và phần mềm (Dr JAWS). JAWS for Windows cũng cho phép người sử dụng không chỉ chọn ngôn ngữ ưa thích mà còn cho phép chọn giọng phát âm ví dụ gịong Anh hay Mỹ. Tưởng tượng là máy tính bỏ cả màn hình lẫn chuột và thay vào đó là giọng đọc máy kỳ quái: đó là cách mà bạn phải làm nếu bạn sử dụng máy tính mà không nhìn thấy được gì. Để giúp người sử dụng Braille hay phần phát âm để sử dụng máy tính trong thư viện, vì thế ít nhất bạn phải biết dùng bàn phím để điều khiển ứng dụng, vì con chuột lúc đó đã không còn tác dụng. Hầu hết các phần tập huấn cho người sáng không có thông tin cần thiết này! Chức năng trợ giúp của Windows có phần liệt kê các biểu tượng bàn phím chính cho các ứng dụng chung.

     

    Các gói phần mềm phát âm có chung một vài tính năng. Trước hết là phải có thể dùng một phím dễ thấy để tắt được chương trình đọc. Có thể điều chỉnh được tốc độ, tần số, độ cao, âm lượng của giọng nói và lặp lại những gì vừa mới nói. Người sử dụng phải lướt qua văn bản từng từ một, có lẽ thậm chí từng ký tự nếu nó không hiểu từ đó, và cách phát âm ABC thường được phân biệt giữa hai ký tự giống nhau như p và b.  Sẽ có một máy chủ có một số đặc điểm khác được tận dụng sử dụng bộ phát âm như công cụ hàng ngày để truy cập vào máy của họ. Một trong số những vấn đề chính mà nhân viên thư viện hay gặp là người sử dụng bực mình vì hệ thống phát âm của máy tính trong thư viện không giống cái mà họ biết s dụng. Vì khi nó được cài đặt cách khác nên các phím tắt giống nhau nhưng chức năng của các phím đó không giống nhau.

     

    Hiểu biết về phím tắt sẽ ứng dụng tốt và có thêm một số phím đề điều khiển hệ thống phát âm là một trong số kỹ năng cần thiết nhất cho người sử dụng hệ thống phát âm. Người đó sẽ không thể tự xem các hướng dẫn sử dụng phím tắt trong cẩm nang để tự nhắc mình phím nào có tác dụng gì. Vì thế thủ thư cần nghĩ đến chuyện hỗ trợ mức độ khác nhau để giúp cả đọc giả mù mới biết sử dụng máy tính hay người đã có kinh nghiệm dùng máy tính, người mới đến thư viện hay và ngưi sử dụng thư viện thường xuyên.


    Back to Chapter index
    13.6.4. Hiển thị chữ Braille điện tử

    Chữ Braille là mã nổi gồm 6 chấm, các ký tự Braille đại diện cho 1 số, 1 chữ, 1 nhóm chữ, 1 từ hay dấu. Braille cấp 1 dùng một hay nhiều ký tự Braille cho từng ký tự và số, và cấp 2 dùng rút gọn để đọc nhanh hơn và ít rối hơn. Một số mã đặc biệt cho các loại ngôn ngữ khác nhau, nốt nhạc, toán học tới một phạm vi lớn hơn nữa như thơ.  Chữ Braille máy tính (đôi khi gọi là cấp 0) dùng số để quy ước thêm để các ô chữ Braille điện tử phù hợp với một ký tự trên màn hình.

     

    Bộ chữ Braille điện tử (đôi khi gọi là bảng chữ Braille mềm hay phục hồi) chứa một hộp gồm các số ô của chữ Braille, mỗi ô có 8 lổ kim nhỏ trên lưới 2x4 tương ứng với ký tự Braille thêm 2 chấm dư. Mỗi nốt kim được kết hợp kiểm soát  để có thể phù hợp với cấu hình chữ Braille. Hai chấm dư để thêm thông tin như viết in hay cho chữ đậm nét hay nét nghiêng.  RNIB TiLE cho ấn bản chi tiết về tất cả bảng chữ Braille có ở Anh Quốc, gồm Alva (Professional Vison Services, RNIB), Braillex (Papenmeier), HandiTech (Sight and Sound), PowerBraille (Blazie), và Tieman (Concept Systems).

     

    Nơi nào phần mềm tuyên bố hỗ trợ bảng chữ Braille được kết nối với máy tính chạy đúng phần mềm chương trình đọc. Thực tế là 2 phần mềm này dùng cùng một lượt với nhau, vì cả hai đều có thể được sử dụng cùng lúc chứ không phải từng cái một. Điều này cũng đã là rất có ích cho người mù sử dụng máy tính vì đồng thời trong khi đó một  người sáng thì có thể truy cập cùng lúc ít nhất 20 màn hình khác nhau, nếu không bị quá đầy nội dung. Vấn đề tương tự lại xảy ra nếu người sử dụng phần mềm đọc thì thủ thư cần trang bị kiến thức kỹ thuật để có thể hỗ trợ người sử dụng. 

     

    In chữ Braille rất đắt tiền từ 2.000 đến 11.000  bảng (thường là từ 4.000 đến 8.000 bảng), và số người sử dụng chữ  Braille rất ít so với cộng đồng người mù và khiếm thị. Mặc dù thế, sự quan trọng của chữ Braille cũng không thể đánh giá thấp, vì nó là một chọn lựa trong các phương tiện đọc quan trọng cho người khiếm thị và là phương tiện giao tiếp cần thiết cho người câm điếc.


    Back to Chapter index
    13.7.1. Chữ Braille

    Thông tin về các hình thức khác nhau của chữ Braille tham khảo mục 13.6.4

    Sản xuất bản chữ Braille (hay gọi là in chữ Braille) là cách cài đặt sẵn. Khả năng cho một người dùng một bản sao chép từ một bài trích của một nghiên cứu hay một văn bản ngắn họ cần chuyển đổi gấp thì rõ ràng đây quả là một dịch vụ đúng chỗ và không còn nghi ngờ gì nữa về tính hữu ích của nó cho khách hàng.

     

    Để làm được điều này cần có phần mềm chuyển đổi chữ Braille, chuyển văn bản thường từ dạng văn bản hay trên web thành mã Braille và một máy in Braille sử dụng loại giấy Manilla đặc biệt để có bảng chữ Braille. 

     

    Đối với công việc đơn giản, yêu cầu dịch văn bản thành chữ Braille thì Braillemaker (Pia) là một chương trình hiệu quả dễ học, dễ sử dụng và có thể thành thục nhanh chóng.  Nếu có dịch vụ chuyển dạng chuyên dụng nào được cài đặt, thì còn có thể chỉnh sửa hình thức hay chuyển các loại văn bản phức tạp hơn. Trong trường hợp đó, Duxbury Braille Translator (Papenmeier, Professional Vision Services, Sight and Sound, Techno Vision, RNIB) là một trong những cách chọn lựa tốt. Duxbury cũng cho phần mềm hỗ trợ cả ngôn ngữ xứ Wales và các ngôn ngữ Châu Âu khác.

     

    Mã chữ Braille có thể khá phức tạp, đặc biệt là khi văn bản được chuyển là bất cứ thứ gì chứ không chỉ là một đoạn văn bản hay các con số. Mặc dù phần mềm chuyển chữ Braille hiện nay khá phức tạp, nó thường có thể lỗi khi trình bày và khi sản xuất có những ký tự sai mà không đọc nháp lại trước. Trong khi nhiều khách hàng thư viện sẽ chấp nhận sản phẩm chữ Braille không hoàn hảo, dịch vụ chuyên dụng nên có phần đọc nháp để chỉnh sửa và nên thuê một nhân viên rành về chữ Braille để có thể chuyển đổi các loại văn bản phức tạp như bản nhạc, thơ hay toán.  

     

    Có nhiều loại máy in chữ Braille và sự chọn lựa máy nào tùy thuộc vào các yếu tố như tiếng ồn, tốc độ và số lượng ấn phẩm chữ Braille in ra. Bất cứ khi nào kết hợp phần mềm và phần cứng được chọn rồi, cần thiết nên được một chuyên gia cài đặt , đó là người có thể kiểm tra đầu ra sản phẩm chữ Braille để khi in xong có thể kiểm tra để xem có xảy ra trục trặc gì không.

     

    Chi phí cho một phần mềm từ £100 đến £400, và máy in có thể có giá khoảng £1,500. RNIB TiLE có cho thông tin về cả hai loại sản phẩm này.   


    Back to Chapter index
    13.7.2. In ấn

    Hình dạng và kích cỡ chữ in có giá trị khác nhau đối với đối tượng sử dụng là người khiếm thị vì nó có thể làm họ có thể đọc được hay không. Kích cỡ chữ lớn tương đối sẽ giúp người nhược thị đọc rõ hơn khá nhiều. Chữ in được đo bằng kích cỡ điểm ví dụ sách cẩm nang này in bằng kiểu Arial cỡ chữ 14. Cỡ 14 là cỡ trung bình đối với người mù và khiếm thị được khuyến cáo sử dụng. Không khác gì nếu dùng cỡ chữ lớn hơn 20 mặc dù kích cỡ lớn hơn có thể dùng cho tiêu đề. (Xem phần 13.2.5).


    Back to Chapter index
    13.7.3. Chữ nổi

    Một bức tranh tốt thì có giá trị hơn cả 1000 lời diễn đạt. Sách thường có đồ họa, bản đồ, biểu đồ, bản nhạc,.. hay minh họa cho một loại nào khác nữa, và những vật này thì rất khó tiếp cận cho người khiếm thị. Sản xuất dạng hình nổi là một cách để khắc phục được chuyện đó.  Một cách để tạo hình nổi là copy hình đó trên giấy phồng đặc biệt. Giấy này nhạy với nhiệt và phồng lên nơi mà hình ảnh được đánh dấu khi được làm nóng lên sẽ tạo ra bề mặt hình nổi lên. Một máy làm nóng giấy là công cụ cần thiết để làm nóng giấy. Nếu hình đen được chuyển vào giấy (có thể dùng máy photocopy nhiệt độ thấp hay máy khác), và khu vực bôi đen sẽ được phồng lên khi cho giấy chạy qua máy làm nóng. Những chỗ khác thì vẫn bằng phẳng. Nếu sử dụng, ví dụ giấy Zychem, biểu đồ có thể tạo ra bằng cách in trực tiếp vào giấy trước khi đưa nó vào máy, chứ không phải photocopy vào nó.

     

    Bốn loại hiện có trên thị trường để sản xuất hình nổi Pictures in a Flash (Modern World Data), Tactile Image Enhancer (Techno-vision, Queen Alexandra College), Hotspot Fuser Junior (Visualeyes), và Zy-Fuse (Zychem). Giấy phồng cũng có thể tìm từ các nhà cung ứng và RNIB.

    Một cách thay thế cho giấy phồng là phim nhựa nổi, dùng bút bi hoặc công cụ làm nổi đặc biệt. Phim này sẽ nổi lên theo nét vẽ của bút và tạo những đường nổi mà không cần cần lật phim lên. Cũng được khuyến cáo nên dùng một tấm lót đặc biệt. Công cụ làm nổi thường được thiết kế cho những đường dày liên tục khác nhau, chấm hay gạch ngang, đường cong hay vòng tròn. Công cụ và phim loại này có tại RNIB.

     

    Dùng phần mềm đặc biệt, đồ họa cũng có thể làm nổi trên loại giấy nổi đặc biệt dùng máy in chữ Braille. Hình ảnh này sẽ được vẽ theo đường gạch ngang hay chấm hơn là đường thẳng. Picture Braille (Queen Alexandra College) chạy trên máy tính và có thể giúp người sử dụng tạo biểu đồ hay bản đồ. Đồ họa được gửi qua máy quét tay đến máy in cũng được sản xuất.

    Tactile Graphics Designer (Techno-vision) là chương trình thích hợp để tạo đồ họa nổi hay bản đồ âm thanh nổi. Bản đồ âm thanh nổi giúp người dùng nghe được tiếng nói diễn đạt các phần cụ thể của biểu đồ khi chạm tay tới. Ví dụ, trên một bản đồ, tên đường có thể được đọc lên cho nghe được.

     

    Nhiều trung tâm khác nhau cung cấp dịch vụ tạo biểu đồ nổi như Trung tâm Đồ họa nổi quốc gia, Trường Đại học Nữ hoàng Alexandra, và Trung tâm Biểu đồ và Bản đồ RNIB.


    Back to Chapter index
    13.8. Mạng Internet

    Đối với người mù hay người còn sáng chút ít sử dụng Internet thì nó gần như không có giá trị cho họ. Vì lần đầu tiên họ tiếp cận với một khối lượng thông tin khổng lồ ngày càng lớn mạnh các dịch vụ và thông tin thông qua web từ mọi chuyện tìm kiếm cơ bản đến nâng cao như giao dịch ngân hàng, tìm việc làm, mua sắm hay giải trí cũng như tìm sách, báo tạp chí trực tuyến những thông tin thì họ khó lòng có thể đọc được từ tài liệu ở dạng chữ nổi hay băng từ. 

     

    Nhiều người đến thư viện truy cập Internet sẽ xa lạ với web, và sẽ cần sự trợ giúp để tìm được những địa chỉ hữu ích. Thêm vào đó, như trình bày ở phần trên, cần có sự hướng dẫn tìm địa chỉ thích hợp và hữu ích và làm sao có được kết quả tìm kiếm hiệu quả. Thêm vào đó, một số người cần làm quen với công nghệ, trong khi những người đó sẽ cần tập huấn ban đầu để có thể dùng bàn phím, phần mềm đọc màn hình và máy phóng đại 


    Back to Chapter index
    13.8.1. Trình duyệt web nói

    Đây là những chương trình diễn giải trang web bằng cách chuyển đổi nó trực tiếp sang phát âm, mà không cần có phần mềm đọc màn hình như loại đã mô tả trong 13.6.3. Trong thực tế, điều này chỉ có nghĩa là dùng lệnh bàn phím, có thể dễ dàng điều khiển các trang web tương đối phức tạp. Phần mềm đọc màn hình sẽ báo cho bạn biết tên các nối kết, nhận ra nhãn hình ảnh, đoạn, tiêu đề mỗi phần, bảng biểu và biểu mẫu.  Đây là phần quan trọng vì một số cấu trúc nhìn thấy được làm cho phần mềm đọc nhầm lẫn với cấu trúc trình bày phức tạp của trang web.

     

    Có hai loại trình duyệt web nói thường sử dụng: pwWebSpeakIBM Home Page Reader (cả hai đều có ở Soundlinks). pwWebSpeak thì đơn giản hơn và cho các ý tưởng trình bày trang, cấu trúc trang nơi nó đang làm việc rõ nhất, tuy nhiên hiện nay nó không được tiếp tục phát triển nữa, và không hỗ trợ được cho các trang mua bán thương mại mang tính phức tạp cao (ví dụ như ngân hàng hay dịch vụ mua sắm) trong khi đó Home Page Reader cho phép linh động hơn và giải quyết được tính phức tạp hơn trong cấu trúc của một số trang web. Với pwWebSpeak, độc giả có thể học cách sử dụng cơ bản trong vòng ít hơn nửa tiếng đồng hồ, trong khi đối với Home Page Reader, cần phải có thực tập, tự nghiên cứu thì mới làm tốt được.

    Connect Outloud (Sight and Sound) là sản phẩm truy cập web dựa trên sản phẩm JAWS. Nó được thiết kế chủ yếu để truy cập Internet, có nhiều tính năng hơn cả khác với trình duyệt web nói vì nó còn là công cụ để xử lý văn bản.


    Back to Chapter index
    13.8.2. Sử dụng các trình duyệt thông thường

    Như đã giải thích ở phần trên, ứng dụng máy tính thông thường có thể sử dụng được cả phần mềm đọc, mà sản phẩm là tiếng nói hay chữ Braille, hoặc là màn hình được phóng to ra. Vì thế nó có thể dùng một trong hai trình duyệt Internet Explorer hay Netscape Communicator. Tuy nhiên, để có thể hiểu được các trang đơn gỉan nhất thì cũng cần có đủ kiến thức về phần mềm đọc hiện đang sử dụng, và cách tiếp cận này cần phải tập huấn kỹ thêm cho nhân viên và người sử dụng thư viện.


    Back to Chapter index
    13.8.3. Các ứng dụng Internet khác

    Nếu phần mềm đọc hay phóng đại được sử dụng, và bất cứ phần mềm Internet khác, thư điện tử, tán gẫu hay đọc tin tức có thể sử dụng, nhưng việc tập huấn cần được tổ chức nhiều hơn. Vì lý do này mà có thể sẽ hiệu quả hơn để dùng các dịch vụ trên web như HoTMaiL (http://www.hotmail.com/) để email, hay Dejanews (http://www.dejanews.com/) để đọc tin, dùng phương pháp duyệt đã có sẵn.

     

    Thông tin về truy cập Internet dành cho người mù và khiếm thị và các sản phẩm về vấn đề này có thể tìm trên tờ tin của RNIB TiLE.


    Back to Chapter index
    13.9.1. Máy ghi nhớ và ghi âm

    Có một số máy như một máy ghi âm bỏ túi với bộ phận tổ chức theo dạng số hóa khá phức tạp, gọi là “máy ghi chú”,  đặc biệt thiết kế như máy vi tính và có cả phần đầu xuất âm thanh hay chữ Braille cực kỳ hữu ích bất cứ nơi nào lúc nào cần thông tin. Chi tiết về các loại này thì vượt khỏi phạm vi nội dung chương này nhưng cũng cần biết vì tính hữu ích của chúng, và để chỉ cho người sử dụng biết về sự hiện diện của các loại máy trợ giúp này, và cũng để vì có nhu cầu chuyển tệp tin vào các thiết bị này. Thông tin thêm có thể tìm trên tờ tin TiLE.


    Back to Chapter index
    13.9.2. Nhận dạng giọng nói

    Nhận dạng giọng nói trong công nghệ “nghe giọng nói” chỉ đến hệ thống cho phép bạn đọc lệnh hay đọc chính tả cho máy tính. Thường là người ta hay nghĩ là đây là phần mềm vì NKT và người mù. Khó khăn chủ yếu là không nhận ra được thông tin cần chuyển vào máy tính, và biết cái gì đang diễn ra trên màn hình, nên nói cho cùng, thì giải pháp bàn phím là chọn lựa đơn giản hơn.

     

    Tuy nhiên người có tật cử động thì phần mềm này rất đáng khuyến cáo sử dụng, Dragon's Naturally Speaking (T and T Consultancy) lien kết với phần mềm đọc JAWS gọi là Jawbone (T and T Consultancy). Những khó khăn và chi phí của giải pháp này không nên bị đánh giá thấp và có thể tìm tư vấn trên các tờ tin của RNIB hoặc của Abilitynet.


    Back to Chapter index
    13.10. Các địa chỉ liên hệ thư viện

    Gateshead Libraries
    Mr Stephen Walters, Gateshead Central Library,
    Gateshead NE8 4LN
    Tel: 0191 477 3478 Fax: 0191 477 7852
    email: s.walters@gateshead.gov.uk

     

    Glasgow City Libraries
    Ms Ann Hamilton, Resource Unit for the Visually Impaired (RUVI),
    Mitchell Library, North Street, Glasgow G3 7DN
    Tel: 0141 287 2920 Fax: 0141 287 2815
    email: ann.s.hamilton@cls.glasgow.gov.uk

     

    Islington Libraries
    Kassa Tsegaye, Social Inclusion Manager,
    Central Library, 2 Fieldway Crescent, Islington, London N5 1PF
    Tel: 020 7527 6910/1 Fax: 020 7527 6913

     

    Lancashire County Libraries
    Mrs Caron Newman, County Library Headquarters,
    143 Corporation Street, Preston PR1 2UQ
    Tel: 01772 404007(Mon, Thurs, Fri & Sat) 01772 336587 (Tues & Wed) Fax: 01772 264880

     

    Manchester City Libraries
    Mr John Warburton, VI Supervisor, Central Library,
    St Peter's Square, Manchester M2 5PD
    Tel: 0161 234 1904 Fax: 0161 234 1963

     

    Papworth Library, Cambridgeshire County Libraries
    Ms Sarah Derrick
    Pendrill Court, Papworth Everard, Cambridge, CB3 8UY
    Tel: 01480 830940 Fax: 01480 830940

     

    Tameside Libraries
    Ms Karen Eato, Centre for the Visually Impaired,
    Dukinfield Library, Concord Way, Dukinfield SK16 4DB Tel: 0161 330 3257
    email: dukinfield.library@tameside.gov.uk

     

    University of Sunderland
    Prof. Andrew McDonald, Director of Information Services,
    University of Sunderland, The Murray Library, Chester Road, Sunderland SR1 3SD
    Tel: 0191 515 2230
    email: andrew.mcdonald@sunderland.ac.uk

     

    University of Wales, Bangor
    Dr Debbie Sapsed, Information services, The Learning Support Department, University of Wales, Bangor, Gwynedd LL57 1LD
    Tel: 01248 383870
    email: d.sapsed@bangor.ac.uk

     

    University of the West of England
    Ali Taylor, The Library, Frenchay Campus, Coldharbour Lane,
    Bristol BS16 1QY

    Tel: 0117 344 2404 Fax: 0117 344 2407
    email: ali.taylor@uwe.ac.uk


    Back to Chapter index
    13.11. Các nhà cung ứng

    Abilitynet, PO Box 94, Warwick CV34 5WS
    Tel: 0800 269545 Fax: 01926 407425
    email:enquiries@abilitynet.co.uk website: http://www.abilitynet.co.uk/

     

    Action Computer Supplies, Freepost, Wembley,
    Middlesex HA0 1BR Tel: 0800 333333 Fax: 0900 102030
    email: prehelp@action.com website: http://www.action.com/

     

    Blazie Engineering Ltd., Windermere House, Kendal Avenue,
    London, W3 0XA

    Tel: 020 8752 8650 Fax: 020 8752 8658
    email: info@blazie.co.uk website: http://www.blazie.co.uk/

     

    Choice Technology and Training, 7 The Rookery,
    Orton Wistow, Peterborough PE2 6YT
    Tel: 01733 234441 Fax: 01733 370391
    email: mail@screenreader.co.uk website: http://www.screenreader.co.uk/

     

    Computer Room Services, 77 Exeter Close, Stevenage,
    Herts SG1 4PW Tel: 01438 742286 Fax: 01438 759589
    email: Steve@comproom.co.uk website: http://www.comproom.co.uk/

     

    Concept Systems, 143 Derby Road, Stapleford,
    Nottingham NG9 7AS Tel: 0115 939 1391 Fax: 0115 949 0390
    email: info@conceptsystems.net
    website: http://www.conceptsystems.net/

     

    Dolphin Computer Access, Technology House,
    Blackpole Estate West, Worcester WR3 8TU
    Tel: 0845 130 5353 Fax: 01905 754559
    email: info@dolphinuk.co.uk website: http://www.dolphinuk.co.uk/

     

    Force Ten Co. Ltd., 183 Boundary Road, Woking,
    Surrey GU21 5BU
    Tel: 01483 762711 Fax: 01483 756303
    email: enquiries@forcetenco.co.uk website: http://www.forcetenco.co.uk/

     

    Horizon, PO Box 44, Tiverton, Devon EX16 6YF
    Tel: 01884 254172 Fax: 01884 243114
    email: horizon@magnifiers.co.uk website: http://www.magnifiers.co.uk/

     

    Iota Software Ltd., Burleigh Suite, 52 Burleigh Street,
    Cambridge CB1 1DJ
    Tel: 01223 566 789 Fax: 01223 566 788
    email: info@iota.co.uk website: http://www.iota.co.uk/

     

    KidGlove, Berkeley House, Barnet Road, London Colney, Hertfordshire AL2 1DB Tel: 01727 820720 Fax: 01727 821634
    email: info@kidglove.co.uk website: http://www.kidglove.co.uk/

     

    Modern World Data, Arran House, Fro Heulog Terrace,
    Arran Road, Dolgellau, Gwynedd LL40 1HN
    Tel: 01341 422044 Fax: 01341 250051
    email: mike@wdavies.force9.net
    website: http://www.modern-world-data.com/

     

    National Centre for Tactile Diagrams, University of Hertfordshire, College Lane, Hatfield, Herts AL10 9AB
    Tel: 01707 286348 Fax: 01707 285059
    email: info@nctd.org.uk website: http://www.nctd.org.uk/

     

    Optima Low Vision Services, Dartside, Ford Road, Totnes, Devon TQ9 5LQ Tel: 01803 864218 Fax: 01803 840107
    email: optima_low_vision_services@msn.com
    website: http://www.optimalowvision.co.uk/

     

    Papenmeier UK, Aldocks, Fox Road, Mashbury,
    Chelmsford CM1 4TJ Tel: 0870 606 1219 Fax: 01245 231157
    email: Braillex@globalnet.co.uk
    website: http://www.papenmeier.de/reha/rehae.htm

     

    Partially Sighted Society, PO Box 322, Doncaster DN1 2XA
    Tel: 01302 323132 Fax: 01302 368998

     

    Pia Ltd., Victoria Street, Cwmbran, Torfaen NP44 3YT
    Tel: 0870 321 6450 Fax: 0870 321 6451
    email: info@pia.co.uk website: http://www.pia.co.uk/

     

    Professional Vision Services, Wellbury House,
    90 Walsworth Road, Hitchin, Herts SG4 9SX
    Tel: 01462 420751 Fax: 01462 420185
    email: sales@professional-vision-services.co.uk
    website: http://www.professional-vision-services.co.uk/

     

    PulseData UK, 3 Blotts Barn Business Centre, Brooks Road, Raunds, Wellingborough, Northamptonshire NN9 6NS
    Tel: 01933 626000 Fax: 01933 626204
    email: pdiuk@cs.com website: http://www.pulsedata.co.nz/

     

    Queen Alexandra College, 49 Court Oak Road, Harborne,
    Birmingham B17 9TG Tel: 0121 428 5050 Fax: 0121 428 5048
    email: enquiries@qac.ac.uk website: http://www.qac.ac.uk/

     

    RNIB, Customer Services, PO Box 173, Peterborough PE2 6WS
    Tel: 0845 702 3153 Fax: 01733 371555
    email: cservices@rnib.org.uk website: http://www.rnib.org.uk/

     

    RNIB Technology in Learning and Employment (TiLE)
    c/o Exhall Grange School, Wheelwright Lane, Ash Green,
    Coventry CV5 9HP
    Tel: 0870 013 9555
    email: technology@rnib.org.uk
    website: www.rnib.org.uk/technology

    Sight & Sound, Quantel House, Anglia Way, Moulton Park,
    Northampton NN3 6JA
    Tel: 01604 798070 Fax: 01604 798090
    email: sales@sightandsound.co.uk
    website: http://www.sightandsound.co.uk/

     

    Soundlinks Ltd., 43 Broadlands Avenue,
    Chesham, Bucks HP5 1AL
    Tel: 0845 666 2849 Fax: 01494 583146
    email: info@soundlinks.com website: http://www.soundlinks.com/

     

    Techno-Vision Systems, 76 Bunting Road,
    Northampton NN2 6EE
    Tel: 01604 792777 Fax: 01604 792726
    email: info@techno-vision.co.uk website: http://www.techno-vision.co.uk/

     

    Telesensory, 1 Watling Gate, 297-303 Edgware Road,
    London NW9 6NB
    Tel: 020 8205 3002 Fax: 020 8205 1192
    email: uk@telesensory.com website: http://www.telesensory.com/

     

    T&T Consultancy, Unit 9, Imex Business Park, Ormonde Street, Fenton, Stoke-on-Trent ST4 3NP
    Tel: 01782 596000 Fax: 01782 593481
    email: info@tandt-consultancy.co.uk
    website: http://www.tandt-consultancy.co.uk/

     

    VICTAR (Visual Impairment Centre for Teaching and Research), School of Education, University of Birmingham,
    Edgbaston, Birmingham B15 2TT
    Tel: 0121 414 6733 Fax: 0121 414 4865
    email: victar-enquiries@bham.ac.uk website: http://www.bham.ac.uk/

     

    Vis-Ability (FE), 66 Beckwith Crescent, Harrogate HG2 0BH
    Tel: 01423 562613 email: visability@portset.net

     

    Visionaid Technologies, Bridge Lodge, Spalding Common, Lincolnshire PE11 3AU Tel: 01775 711977 Fax: 01775 769043
    email: info@visionaid.co.uk website: http://www.visionaid.co.uk/

     

    Visualeyes, 3 Long Hey Top, Blackshaw Head,
    Hebden Bridge, West Yorkshire HX7 7JT
    Tel: 01422 846051 Fax: 01422 847088
    email: sales@visualeyesonline.co.uk
    website: http://www.visualeyesonline.co.uk/

     

    Zychem Ltd., Deanway Business Park, Wilmslow Road, Handforth, Wilmslow, Cheshire SK9 3HW
    Tel: 01625 528811 Fax: 01625 528833
    email: info@zychem-ltd.co.uk website: http://www.zychem-ltd.co.uk/


    Back to Chapter index
    References. Tham khảo

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999). The integrated accessible library: a model of service development for the 21st century. Final report of the REVIEL (Resources for Visually Impaired users of the Electronic Library) project. British Library Research and Innovation report 168. CERLIM, Manchester Metropolitan University.

     

    Cain, S. ed. (2001). Accessing technology: using technology to support the learning and employment opportunities for visually impaired users. London: RNIB.

     

    HumanITy. (2000). Enhancing access to library based ICT
    services for visually impaired people 3. Library and Information Commission. Research Report 64. STV/LIC Programme Report 3.

     

    Machell, Jean. (1996). Library and Information services for visually impaired people: national guidelines. Library Association.

     

    Morley, Sarah. (1997). Windows 95 explained: a guide for blind and visually impaired users. London: RNIB. Available in print, tape, Braille and disk.

     

    Morley, Sarah. (2001). Windows 98 explained: an overview for blind and visually impaired users. London: RNIB.

     

    Ravenscroft, J. and Carey, K. (2000). Windows '95 modification manual for visually impaired computer users. London: RNIB.

     

    RNIB. ‘See for Yourself’ leaflets. Four leaflets to date.
    a) Sight problems.
    b) Magnifiers: how to get the best magnifier for you.
    c) Lighting: how to use better lighting to make things easier to you.
    d) At home: how to make changes at home to see things more easily.
    Available from RNIB Customer Services.

     

    RNIB. (2001). See it right pack. London: RNIB.

     

    Waddell, L. ed. (1998). Access technology: a guide to educational technology resources for visually impaired users. London: RNIB.

     

    Wright, Michael, Hill, Sarah and Cook, Geoffrey. (1999). Office task lighting: a user study of six task lights by five workers with low vision. British Journal of Visual Impairment (BJVI), 1999. Vol. 17-3 pp117-120.


    Back to Chapter index
    14.1. Thế nào là “thiết kế cho mọi người” ?

    Cơ bản nó có nghĩa là hệ thống và giao diện công nghệ thông tin của thư viện được thiết kế theo một cách mà tất cả người sử dụng thư viện đều có thể truy cập dễ dàng, cho dù họ đến sử dụng thư viện tại chỗ, hay truy cập từ xa và không bị ngăn cản do bất kỳ khuyết tật nào hay có sự chọn lựa để sử dụng.  RNIB mô tả việc thiết kế cho mọi người liên quan đến website như là một thiết kế chung để ai cũng sử dụng theo cách thức tra cứu trên Internet.” (RNIB, 2002).

     

    Người khiếm thị sử dụng nguồn lực thông tin và thư viện là vấn đề chính được quan tâm trong những năm gần đây phải là vấn đề cần được giải quyết nếu muốn việc hòa nhập xã hội trở thành thực tiễn. Tại trung tâm Nghiên cứu quản lý thông tin và thư viện  (CERLIM) có một chương trình nghiên cứu về khả năng truy cập của người khiếm thị, và nguồn lực đầu tư cho dự án Truy cập thư viện số không cần nhìn (Xem địa chỉ website tham khảo) đã khảo sát sự khác biệt giữa các phương pháp của người khếm thị và người sáng khi truy cập các nguồn thông tin điện tử (nhấp chuột và tính tương đương). Dự án kết thúc vào cuối thàng 6 năm 2002. Báo cáo tổng kết đã chuẩn bị và kết quả đánh giá của nó gây thú vị vá hấp dẫn cho chuyên gia thiết kế cho tất cả các loại dịch vụ thư viện điện tử.

     

    Nếu nguyên tắc Thiết kế cho mọi người được thực hiện trong suốt hệ thống công nghệ thông tin của thư viện, kể cả website của họ, tất cả độc giả sẽ có mức độ bằng nhau trong việc sử dụng các dịch vụ thông tin và thư viện. Truy cập thông tin có thể được định nghĩa theo nhiều cách: đầu tiên là sử dụng công nghệ truy cập; kế là ứng dụng các phương pháp thực hành chỉnh sửa thiết kế giao diện. Cả hai đều có tầm quan trọng như nhau: cung cấp trang thiết bị hỗ trợ (công nghệ truy cập, trợ giúp, và thích nghi, xem Chương 13) có thể giúp cho người khiếm thị truy cập được thông tin trên màn hình, theo cách phù hợp lý tưởng nhất  cho nhu cầu của họ. Tuy nhiên bên cạnh vấn đề này thì thông tin trên màn hình phải được thiết kế theo cách mà công nghệ truy cập có thể diễn giải được.  

     

    Chương này sẽ xem xét việc cung cấp website truy cập được và hướng dẫn tư vấn về điều chỉnh kỹ thuật thiết kế truy cập được. Địa chỉ website  hữu ích được trình bày   phần cuối chương này.


    Back to Chapter index
    14.2. Kỹ thuật thiết kế trang web truy cập được

    Nhận thức về tầm quan trọng của việc tạo lập trang web truy cập được đang ngày càng được chú ý trong những năm gần đây. Nhiều lời khuyên hướng dẫn trợ giúp qua sách, báo, các nguồn lực, các khóa tập huấn và dịch vụ trả phí.  Hướng dẫn gần đây đã được thực hiện cho các trang web của chính phủ, và bao gồm cả vấn đề truy cập được. Các vấn đề sẽ chú trọng vào những khuyến cáo rút ra từ 20 luật vàng thiết kế trang web (Brophy và Craven, 1999) sẽ lập đại ý từ một số bài viết xung quanh chủ đề này và tham khảo chính từ Hiệp hội mạng toàn cầu(W3C) và Ban chủ trương thực hiện truy cập web (WAI).


    Back to Chapter index
    14.2.1. Các chuẩn quốc tế

    Đặc trưng HTML của W3C: năm 1997, W3C thiết lập WAI do một số cơ quan chính phủ và cơ quan thuộc bộ công nghiệp. Tập trung chính của WAI là đảm bảo mạng toàn cầu truy cập được cho mọi người. Kết quả là bộ hướng dẫn truy cập nội dung web  (World Wide Web Consortium, 1999) giải thích làm thế nào để nội dung trang web có thể  truy cập được bởi các người khuyết tật. Thực ra, đây là những nguyên tắc thiết kế tốt để làm cho trang web trở nên truy cập được cho mọi người.  Hướng dẫn này bao hàm hầu hết các khía cạnh của việc thiết kế trang web truy cập được. Để có có những khuyến nghị hệ thống hơn, W3C cũng có ấn hành bảng kiểm tra cơ bản về đánh giá trang web truy cập được, có thể mua qua thẻ tín dụng hay đặt hàng từ website của W3C.   


    Back to Chapter index
    14.2.2. Nội dung và cấu trúc

    Phân biệt rõ ràng giữa nội dung và hình thức trình bày, để bạn đọc có thể truy cập nội dung không qua một cấu trúc cứng ngắc. W3C đề cập đến điều này như một sự giao thoa tuyệt vời”, và nhấn mạnh nhu cầu đảm bảo các trang có thể đọc bằng nhiều phần cứng khác nhau, dùng cỡ chữ lớn, ví dụ, thiết bị không chuột, khả năng tương thích với nhiều trinh duyệt web, có cả trình duyệt văn bản như Lynx. Việc sử dụng mẫu trang định dạng sẵn (CSS) trình bày cách thực hành tách nội dung ra khỏi cấu trúc.  

     

    Việc xây dựng và khai thác rộng rãi XML sẽ ngày càng có  cơ hội tăng cường áp dụng rộng rãi để tái cấu trúc nội dung mã hóa diễn giải thích ứng với cấu trúc dữ liệu  (DTDs) nhờ thế mà hệ thống đầu ra xác định cách trình bày dựa vào sở thích người sử dụng.


    Back to Chapter index
    14.2.3. Trình bày

    Trình bày các trang đơn giản như có thể làm và đảm bảo sự thống nhất xuyên suốt trang web, đặc biệt chú ý đến thứ tự xếp đặt các yếu tố. Người khiếm thị sau đó có thể tự tìm ra cách trình bày của một trang và cứ theo cấu trúc đó áp dụng cho các trang tiếp theo sau. Tương tự thế tạo cấu trúc điều khiển đơn giản, rõ ràng và thống nhất. Tuy nhiên, quan trọng đừng lầm lẫn giữa yếu tố đơn giản và tẻ nhạt - sự phát triển của kỹ thuật cho phép những tính năng công nghệ tiến bộ nhất được lồng ghép vào trang web mà không cản phá khả năng truy cập nó.

     

    Để đạt được tính thống nhất, cấu trúc trình bày trang cần được điều khiển tương đối dễ dàng  để người sử dụng không phải nhấp trên quá nhiều đường liên kết rồi mới đến được phần nội dung mà họ muốn tìm. Đây được gọi là quy tắc 3 lần nhấp chuột: có nghĩa là bất kỳ trang nào trên trang web không vượt quá 3 lần nhấp chuột từ trang chủ đến được nó. Tuy nhiên, quy tắc này có thể gặp rắc rối khi cố gắng tạo lập trong 1 trang web nội dung lớn với nhiều mức độ tiếp cận.  Người ta cũng đã phát hiện được (theo Brazier và Jennings, 1999) là người mù và khiếm thị cảm thấy khó khăn khi theo một trang mà có quá nhiều mối liên kết rất mất thời gian. Trường hợp quy tắc 3 lần nhấp chuột thực hiện không được thì tốt hơn hết là dùng nhiều số trang lớn hơn để chứa ít lần số liên kết hơn, và chú trọng nhiều đến việc đảm bảo sự rõ ràng và thống nhất trong trình bày và liên kết định vị.

     

    Cũng rất có ích nếu tạo đường liên kết quay trở về trang trước đó hay trang chủ trên tất cả mọi trang trên trang web. Ngừơi sử dụng khi lạc đường thì cũng có thể đơn giản là quay lại vị trí trước đó và bắt đầu lại. 


    Back to Chapter index
    14.2.4. Sử dụng bản đồ của trang web

    Tạo chỉ mục cho mục lục nội dung trang web bằng văn bản hay họa đồ có liên kết để người sử dụng có thể điều khiển trực tiếp đến các trang hơn là phải tìm kiếm luẩn quẩn vòng quanh trang web. Điều  này giúp tránh được rắc rối của trang web lớn, như đã trình bày ở 14.2.3


    Back to Chapter index
    14.2.5. Sử dụng văn bản thay thế cho hình ảnh

    Mô tả đầy đủ tất cả hình ảnh, đọan phim, tệp âm thanh, v.v. (dùng văn bản thay thế theo mã HTML). Điều này đặc biệt quan trọng ở chỗ có hình ảnh liên kết được cung cấp cho người sáng chọn vị trí đó và nhấp chuột để xem - người khiếm thị có thể được truy cập với một thông báo bằng văn bản đọc tương đương. Ở chỗ các yếu tố không phải là văn bản cần mô tả thêm chỉ bằng một hay hai từ sau đó một liên kết ”d” có thể đặt cạnh bên yêu tố đó, dẫn đến mô tả chi tiết hình ảnh đó, hoặc nên sử dụng đuôi mô tả “LONGDESC”, ví dụ để diễn giải một đoạn phim được lồng vào trang web.

     

    Cố gắng tạo văn bản thay thế bằng ngôn ngữ Java hay JavaScript, và tránh các ứng dụng của chúng cho ác hiệu ứng (như văn bản cuộn) rất kó cho người chỉ còn nhìn được một phần nào theo dõi văn bản trình bày cách đó (Cũng xem phần 14.2.14)

     

    Những chỗ mà hình ảnh chỉ có mục đích trang trí hơn là để cung cấp thêm thông tin, dùng đuôi văn bản thay thế trống (ALT=” “) để giúp người sử dụng bỏ qua hình ảnh đó. Ví dụ, rất hữu ích khi có các đường chia trang tách biệt nhưng  người khiếm thị không nhất thiết cần phải nghe phần mô tả các trình bày này giữa các trang.


    Back to Chapter index
    14.2.6. Tạo kết nối

    Cho mô tả mọi đường liên kết (dùng đuôi văn bản thay thế như đã giới thiệu ở 14.2.5) và nếu có thể chia tách mối liên kết bằng các văn bản không liên kết. Đặt các liên kết từng cái một trên từng hàng một và đánh nhãn rõ ràng. Tránh dùng cụm từ “nhấp chuột ở đây” để chỉ các mối liên hệ khi người sử dụng không biết đây là đâu, nơi nào họ đang đi đến, vì thế nên dùng các cụm từ như “có thông tin trên vị trí X” hoặc “liên kết tới y”. Sử dụng mã HTML để vào nhan đề liên kết thông tin sẽ làm rõ hơn bản chất của thông tin.


    Back to Chapter index
    14.2.7. Màu sắc và nền

    Chỉ sử dụng màu sắc tương phản cho văn bản và nền. Một số người sử dụng cảm thấy khó phân biệt một số màu nào đó; đỏ và xanh lá cây ví dụ thường xuất hiện bóng màu chung chung như màu xám mà một số người mù màu bị mắc phải. Dùng hai màu có cùng một gam màu sẽ làm thông tin rất khó đọc và cũng sẽ thất bại nếu  tạo sự tương phản không đủ mạnh khi dùng màu nền và chữ giống nhau. Sự phối màu không hiệu quả làm giảm đi sự rõ nét trường hợp của việc phối màu giữa hồng và xanh lá đậm, đỏ và tím; vàng trên trắng hay xám nhạt, màu tím nhạt và hồng. Luôn tránh việc dùng các bóng khác nhau trên cùng một màu, như văn bản màu cam đậm trên nền cam nhạt.

     

    Quy tắc chung là đen hay màu nhạt hay trắng hay màu đậm tạo độ tương phản tốt nhất. Rất quan trọng để có bộ màu có thể được tự chọn trình bày trên một thanh cuộn chọn lựa. Vì người sử dụng có “gu” dùng màu sắc khác nhau tùy thuộc vào mức độ và loại khiếm hay nhược thị họ mắc phải. Ví dụ một số dễ đọc văn bản trắng trên nền đen, và ngược lại, cách này có thể giúp cho tự cá nhân họ điều chỉnh sự phối hợp để họ có thể đọc thông tin thoải mái và rõ nhất đối với riêng họ là điều rất cần thiết. Giấy bồi nền (ví dụ dung làm nền trang trí), bóng hay hình ảnh trên nền nên tránh dùng và nếu dùng thì hết sức cẩn trọng vì nó có thể che mất nội dung đối với người khiếm thị


    Back to Chapter index
    14.2.8. Kiểu cỡ chữ

    Dùng kiểu chữ chân phương trừ phi có lý do chính đáng để không làm vậy. RNIB đơn giản chỉ khuyến cáo cách này là tốt nhất để tránh các “kiểu chữ kỳ dị hay không rõ ràng”(Hướng dẫn cách in sách rõ của RNIB). Cùng quan điểm  trên, NLB cũng nói là “những kiểu chữ kiểu cọ khó đọc và tốt nhất là nên tránh dùng” (Hướng dẫn thiết kế web truy cập được của NLB).

     

    Dùng kiểu chữ kích cỡ vừa phải. Cỡ chữ không nhỏ hơn 14, nhưng yêu cầu dùng cỡ chữ của từng cá nhân cũng rất khó xác định, tốt nhất là cho phép người sử dụng tự điều chỉnh co chữ bằng cách tạo thanh cuộn điều chỉnh kích cỡ chữ cho phù hơp với nhu cầu của họ. Cũng nên cài cỡ chữ mặc định dễ đọc nhất để đảm bảo là việc điều chỉnh mặc dù cho phép theo sự lựa chọn của người dùng nhưng vẫn có thể đọc được khi chưa chỉnh.

     

    Việc dùng chữ gạch dưới nên tránh, vì làm rắc rối cho việc đọc hơn, cũng như khi sử dụng quá nhiều chữ in hoa: in đậm thì tốt hơn là in nghiêng nếu muốn nhấn mạnh điểm nào trong văn bản. Nếu dùng chữ in nghiêng, kiểm tra kiểu cỡ chữ để xem chúng có dễ đọc không nếu ở dạng in nghiêng.


    Back to Chapter index
    14.2.9. Sử dụng bảng biểu

    Cẩn thận khi dùng bảng biểu và đừng làm nó quá chằng chịt chi li. Tránh dùng bảng biểu làm hình thức trình bày nội dung. Chỉ dùng khi nào bảng biểu nói lên số liệu (như danh mục các dịch vụ được cung cấp), chú ý dùng các tiêu đề theo mã HTML để mô tả từng ô.


    Back to Chapter index
    14.2.10. Sử dụng khung

    Nên sử dụng dạng thay thế không khung cho các trang chủ dùng khung. Và được ứng dụng trong suốt cách trình bày trang web liên kết với các phiên bản không khung của các trang. Lý tưởng là tạo liên kết từ trang chủ hay chỉ mục văn bản đến từng khung và đảm bảo từng khung có tiêu đề bằng mã HTML. Triêu đề khung trình bày ngắn gọn đủ thông tin. Ví dụ, tiêu đề cho một trang có hai khung : “Khung điều khiển” và “Khung mục lục ”


    Back to Chapter index
    14.2.11. Mẫu trực tuyến

    Nên thiết kế mẫu trực tuyến theo cách mà có thể dùng phần mềm đọc màn hình được. Tất cả các trường phải có cấu trúc hợp lý và dùng đuôi HTML gắn thích hợp.


    Back to Chapter index
    14.2.12. Màn hình làm mới

    Tránh việc làm mới tự động hay màn hình nhấp nháy (một số nhà thiết kế hay gửi đến người sử dụng một trang mới tự động xuất hiện sau một thời gian mặc định). Kiểu mặc định làm mới màn hình sau 5-10 giây làm cho phầm mềm đọc màn hình có cơ hội đọc lại trang đầu tiên nữa đó!


    Back to Chapter index
    14.2.13. Âm thanh

    Tránh chỉ dùng một mình tệp âm thanh cho một nội dung thông tin quan trọng nào đó. Nên kết hợp giữa tệp âm thanh và văn bản theo kiểu mô tả bằng văn bản thay thế (hoặc dùng”ALT”, liên kết “d” hay “LONGDESC”) như 14.2.5 đã nhắc đến.


    Back to Chapter index
    14.2.14. Các yếu tố tương tác

    Luôn tạo văn bản thay thế cho các yếu tố tương tác. Các yếu tố này bao gồm cho cả các chương trình gắn kết hay Java và không thể luôn được dịch bằng công nghệ hỗ trợ được. Văn bản thay thế có thể là đuôi ALT hay mô tả nhiều hơn qua liến kết”d” hoặc “LONGDESC”


    Back to Chapter index
    14.2.15. Trang văn bản thay thế

    Nếu sử dụng trang web có văn bản thay thế thì cần thiết phải cập nhật cùng lúc với trang phi văn bản. Đôi khi các trang này rất thích hợp và cần có, nhưng nó không cho phép đã bị lạc hậu và bỏ quên không nhòm ngó đến. Cũng nên xem đến khả năng sử dụng các sản phẩm khác như BETSIE do RNIB và BBC trực tuyến phối hợp, trang được định dạng lại thành phiên bản chỉ có văn bản lúc phát, nhưng điều này cũng nên không nên sử dụng để đơn giản là tránh làm cho trang chính tiếp cận được.

     

    Khuyến nghị gần đây của RNIB tuy nhiên để thúc đẩy việc thiết kế web dựa vào cách thiết kế chung trên tòan cầu. Nó cho là nên tạo ra một trang web, và thông qua việc sử dụng phương pháp truyền thông thay thế sẽ làm cho tất cả cùng được truy cập sử dụng. Một cách trong phương pháp này là dùng văn bản thay thế theo HTML để diễn tả đồ họa hay âm thanh (ví dụ dành cho người điếc), cũng được trình bày ở phần trước


    Back to Chapter index
    14.2.16. Tạo địa chỉ liên hệ

    Cung cấp địa chỉ email liên lạc trên mỗi trang, hoặc ít nhất là có trên trang chủ, để người sử dụng có thể gửi yêu cầu nếu có điều gì đó làm họ không đọc được hay cần giải thích thêm. Hơn nữa, điều đó làm website có thể thu nhận được những ý kiến đóng góp về khả năng truy cập và đừng quên đọc các nhận xét này!


    Back to Chapter index
    14.2.17. Kiểm tra khả năng truy cập của trang web

      Kiểm tra các trang về khả năng truy cập trước khi tung ra, dùng một công cụ như “Bobby” (xem phần 14.3.2) và cũng để người sử dụng tự họ nhìn ra vấn đề mà công cụ đánh giá đã xem qua.


    Back to Chapter index
    14.3. Chương trình đánh giá khả năng truy cập

    Việc chọn lọc và tính đa dạng của các phương tiện đánh giá khả năng truy cập của trang web hiện nay càng ngày càng phát triển nhiều hơn. Rất nhiều bài báo viết về chủ đề này và có thể nhanh chóng tìm trên Internet với cụm từ “thiết kế web truy cập được” sẽ cho ta hàng lọat các thông tin và ý kiến, lời tư vấn cho vấn đề này. Dễ nhận thấy sự chủ động trong việc cung cấp thông tin cho người thiết kế web khả năng giải quyết rắc rối cho việc trang web của họ không truy cập được và đề ra các gỉai pháp khả thi  như đã được bàn qua ở phần 14.2 Để tránh  quá nhiều thông tin trong khía cạnh này, có thể chỉ tập trung tham khảo một số nguồn chính, thường là chọn miễn phí, để có thể kiểm tra nhanh chóng và dễ dàng tính truy cập được của trang web mình tạo lập. Các chương trình và nguồn chính sẽ vạch ra những hướng dẫn của W3C, Bobby, Lynx View, và sự chọn lựa quản trị web hay dịch vụ kiểm sóat HTML


    Back to Chapter index
    14.3.1. Hướng dẫn của Hiệp hội World Wide Web

    W3C phát hành một tập hướng dẫn Đánh giá khả năng truy cập trang web (W3C, 2001). Hướng dẫn này giải thích làm thế nào bắt đầu đánh giá một website và sau đó đánh giá sâu hơn về khả năng truy cập của nó. Họ cũng cho ra hướng dẫn về Kỹ thuật dùng HTML để truy cập được nội dung trang web (W3C, 2000) cho những ví dụ mẫu về việc sử dụng các đuôi như (văn bản thay thế ALT) trong văn bản HTML


    Back to Chapter index
    14.3.2. Bobby

    Bộ kiểm tra khả năng truy cập web của Bobby được Trung tâm ứng dụng công nghệ (CAST) phát triển. Bobby được sử dụng để đánh giá dựa vào danh mục kiểm tra tính truy cập được và hiện đang được dùng rộng rãi.

     

    Phần mềm này sẽ phân tích từng trang một và cho ra một bản đánh giá bằng văn bản, xác định nơi nào có lỗi truy cập. Có bảng đánh giá xếp thứ tự ưu tiên theo hướng dẫn của WAI. Chỉ tiêu Tán thành của Bobby tương đương với tiêu chuẩn mức độ thích nghi A của Hướng dẫn nội dung Web và một trang web chỉ nhận được biểu tượng chấp thuận của Bobby nếu tất cả trang không có lỗi ưu tiên số 1. Đánh giá ưu tiên 1 chỉ ra vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến khả năng  sử dụng web và được ghi biểu tượng là hình ảnh một chiếc nón của cảnh sát trên xe lăn. Biểu tượng chiếc nón cảnh sát kèm với dấu hỏi trên đó để chỉ rằng có thể là lỗi ưu tiên số 1 nếu chỉ kiểm tra thủ công, mà không dùng công cụ Bobby.

     

    Có hai mức độ ưu tiên nữa mà Bobby dùng để chỉ ra vấn đề. Ưu tiên 2 đề nghị chỉnh sửa nếu có thể và ưu tiên 3 cho biết vấn đề đó cần được cân nhắc xem xét lại. Cả hai mức độ thường khuyến nghị nên kiểm tra thủ công lại cho từng vấn đề. Trang web vượt qua được dưới ưu tiên 2 thì tương đương mức độ thích nghi AA của Hướng dẫn nội dung Web và dưới ưu tiên 3 thì tương đương với mức độ thích nghi AAA.

     

    Vấn đề khác mà Bobby xem xét là khả năng duyệt web và thời gian tải tệp tin xuống, cả hai có thể ảnh hưởng đến khả năng truy cập trang web.

    Báo cáo của Bobby có thể khó đọc, đặc biệt là đối với người không dùng thuật ngữ HTML, và mặc dù có hướng dẫn về đọc được báo cáo của Bobby thì cũng vẫn khó để lôi ra được lỗi nào trong chuỗi HTML. Một khuyến nghị khác là, ở những bước khởi đầu, tập trung vào các lỗi ưu tiên 1 và đảm bảo là chúng sửa được.

     

    Cũng đừng cho là Bobby có thể đảm bảo được toàn bộ khả năng truy cập cho web. Đôi khi nó chỉ ra những lỗi mà thực ra không đến nỗi nghiêm trọng hoặc bỏ qua những lỗi như văn bản thay thế không tương thích hay lỗi về độ tương phản màu sắc. Như là điểm khởi hành, Bobby là công cụ vô cùng hữu ích, nhưng để có kết quả tốt nhất thì nên sử dụng kiểm tra chéo bằng những công cụ đánh giá khác.


    Back to Chapter index
    14.3.3. Lynx View

    Lynx View sẽ trình bày những trang  chỉ có văn bản, vì nó xuất hiện đối với trình duyệt văn bản như Lynx, chỉ ra cách phầm mềm đọc màn hình có thể hiểu được trang đó. Xem xét một trang qua công cụ Lynx View sẽ chỉ ra bất cứ hình ảnh nào cho văn bản ALT chưa được áp dụng và nó cũng sẽ cho biết cấu trúc trình bày trang đã rõ ràng và hợp lý chưa, các mối liên kết có được chia tách rõ không và cấu trúc viết HTML có gọn gàng và rõ không.


    Back to Chapter index
    14.3.4. Dịch vụ quản trị và kiểm soát trang web

    Nhiều công cụ quản trị web hiện nay kể cả câu trả lời nhanh về khả năng truy cập cho trang web. Ví dụ công cụ Microsoft FrontPage cho phép tác giả đưa các tính năng truy cập được vào giao diện chính và cung cấp phần mềm cho nhiều trang khác nhau cho bảng kiểm tra tính năng truy cập theo thứ tự ưu tiên 1 của W3C. SftQuad International cũng đã cho ra một công cụ AdaptAbility Tollkit là một phản hồi tự động có những đề nghị thêm những tính năng nào đó để làm trang web trở nên dễ truy cập hơn. (Murtha, 1997) và Macromedia hiện cho công cụ “Accessibility Kits” trên phần mềm Flash và DreamWeaver. Các cung ứng phần mềm thiết kế web khác cũng đang bắt đầu đưa tính năng truy cập được vào công cụ tạo web của họ. Ví dụ, các nhà tạo phầm mềm học từ xa như Blakbord hay WebCT cũng đang tích cực chú trọng vào việc tăng cường khả năng truy cập phần mềm của họ thông qua đối thọai với các chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực truy cập web.

     

    Một kỹ thuật hữu ích khác để kiểm tra website thông qua dịch vụ kiểm soát HTML. Hầu hết các nhà thiết kế web đã quen thuộc với những dịch vụ kiểm soát này để đánh giá mức độ thống nhất và sử dụng thích hợp mã HTML theo các khuyến nghị như thường thấy trên hướng dẫn của W3C.

     

    Bất kỳ ai còn lạ với mã ngôn ngữ HTML có thể thấy các báo cáo này rất nản lòng, vì nó cần thiết ít nhất phải có sự hiểu biết căn bản về quản trị web. Một trong những dịch vụ kiểm soát tốt hơn được cung cấp là W3C Validator(W3C, 2002) cho các tin báo lỗi hơn là để cho người sử dụng tự đọc mật mã. W3C Validator sẽ kiểm tra mã HTML trên các trang dựa vào phiên bản HTML đã sử dụng, và sẽ đánh dấu bất kỳ lỗi nào làm trang web bị giảm khả năng truy cập như sót mã văn bản thay thế ALT


    Back to Chapter index
    14.4. Một số mẫu trang web truy cập được

    Phần này giới thiệu một số website để cho thấy một trang web truy cập được thì cũng rất thú vị khi thiết kế. Một số mẫu kể cả website đã được RNIB chấp nhận bởi chương trình đánh giá trang web truy cập được và nhận được bảng đánh giá chấp thuận của Bobby.

     

    Cuộc vận động truy cập số hóa của RNIB đã thúc đẩy sự phát triển các trang web đa phương tiện năng động mà từ đó khách hàng có thể lấy thông tin dễ dàng như nhau mà không bị các khuyết tật cản trở gì cả. Điều này có nghĩa là cung cấp phương pháp truyền tải thay thế cho một số nội dung trang web của bạn, nhưng như đã trình bày ở các  phần trên, việc này có thể đạt được nhờ theo các hướng dẫn, lời khuyên và tư vấn. Các địa chỉ của các trang web sau đây sẽ được đưa vào danh mục các địa chỉ tham khảo hữu ích


    Back to Chapter index
    14.4.1. RNIB

    RNIB là một trang web mở rộng với thông tin toàn diện bao phủ hết các vấn đề về người khiếm thị. Địa chỉ này được thiết kế rõ ràng, dễ nhớ để điều khiển, tuy nhiên không có nghĩa địa chỉ này chỉ chứa những văn bản đơn thuần mà nó còn có những hình ảnh cũng như cách trình bày thông tin rất đáng quan tâm.


    Back to Chapter index
    14.4.2. NLB

    Webiste của Thư viện Quốc gia của người mù được trình bày trên một nền vàng và màu chữ đen phân biệt rõ ràng. Như RNIB, website này rất lớn, thông tin trình bày tương đối đơn giản với các danh mục giúp liên kết thông tin sâu hơn hay tới các nguồn lực bên ngòai. Ở nơi liên kết đưa người sử dụng ra ngòai, nhà tạo web NLB đã cho các gợi ý cần thiết như báo động là trang web dùng hình ảnh mà không có văn bản thay thế


    Back to Chapter index
    14.4.3. Standard Life Investment

    RNIB đã trao tặng biểu tượng SeeIt Right cho mẫu trang web này vì khả năng truy cập cũng như tính mới của nó.


    Back to Chapter index
    14.4.4. UK Online

    Các nhà thiết kế UK Online đã làm việc cùng với RNIB để tạo ra trang web sử dụng dễ dàng. Hiện nay trang web cung cấp phiên bản đồ họa và phiên bản dễ truy cập, cả hai đều có thể truy cập được.


    Back to Chapter index
    14.4.5. Trang web của các nhà quản lý thư viện công cộng

    Hội đồng Quận Hampshire là một website phức tạp và lớn đã được thiết kế kỹ lưỡng để mọi người có thể truy cập đầy đủ. Trang web dịch vụ Thư viện và Thông tin của North Linolnshire và Thành phố Leeds là cả hai địa chỉ đề mang tính truy cập được qua ALT.

     

    Hai địa chỉ này được trao giải website được bình chọn tốt nhất của EARL. Giải thưởng này bao gồm cả tiêu chí đánh giá (EARL, 1999), do Ban Thiết kế và độ khả dụng web đánh giá nó “có khả năng truy cập được thông qua việc sử dụng công nghệ hỗ trợ như phần mềm đọc màn hình, và kể cả cho những ai đã dùng các trình duyệt cũ hay giúp điều khiển vượt qua các hình ảnh”


    Back to Chapter index
    14.4.6. Trang web các trường đại học

    Mô hình tốt nhất là trường Đại học Central Lancashire và Đại học Edinburg. Các trang web này biểu hiện kỹ thuật thiết kế tốt giúp trang web truy cập đầy đủ mà vẫn rất cụ thể lại còn dễ điều khiển nữa. Cả hai trang web này được Bobby cấp biểu tượng truy cập được. Một ví dụ khác là trường Đại học West of England, Bristol, và cũng được chấp thuận của Bobby và nó cung cấp chỉ mục văn bản cho trang web thư viện ở ngay đầu trang chủ của thư viện


    Back to Chapter index
    14.5. Nghiên cứu khả năng di động

    Trong tương lai có thể làm người mù và khiếm thị cài đặt máy trạm thích hợp với nhu cầu cụ thể của họ, và sau đó di chuyển để cài các máy khác. Để đạt được điều này sẽ cần thiết để thư viện chấp nhận một số trang thiết bị thông thường tối thiểu nhất phải có, mặc dù có thể không dễ và trở nên nặng nề hơn yêu cầu kết nối với dịch vụ mạng quốc gia. Một vấn đề lớn hơn nảy sinh ra là độ tương thích của phần mềm và vấn đề bảo mật an tòan, đôi khi sẽ gây ra những hạn chế đáng kể về việc chỉnh sửa bổ sung tạm thời đợi cho đến khi chuẩn đựơc thiết lập. Một số thư viện có thể sẵn lòng cho phép người sử dụng lưu hồ sơ, mặc dù vào lúc viết cho cho tác giả, họ cũng không thể nhận ra được yêu cầu của các mẫu này thế nào. Vào năm 2000, Hội đồng Lưu trữ, Thư viện và Bảo tàng đã tài trợ cho các nghiên cứu để khám phá thêm các tính năng để giúp cho người mù và khiếm thị thiết lập các màn hình máy trạm để phù hợp nhu cầu riêng của họ, và sau đó chuyển sang thiết kế bất kỳ máy trạm  nào.

    Những khuyến nghị trích từ báo cáo (HumanITy, báo cáo số 3, 2000) được đính kèm ở Phụ lục A3


    Back to Chapter index
    15.1. Truy cập công bằng

    Việc đảm bảo nguyên tắc sử dụng dịch vụ thông tin và thư viện một cách bình đẳng cho mọi người phải được bắt đầu bằng chiến lược quảng cáo và phải có kế hoạch tăng cường hướng vào người khiếm thị. Mục đích chủ yếu của chiến lược quảng cáo như thế là để vượt qua định kiến cũ rích cho là thư viện không phải là nơi dành cho người mù.


    Back to Chapter index
    15.2. Quảng cáo là gì ?

    Quảng bá dịch vụ thư viện có nhiều ý nghĩa to lớn hơn nhiều so với mục đích chỉ để thông báo các dịch vụ hiện có. Nó phải là quá trình chủ động:

    a.  thông tin ;

    b.  vận động;

    c.  tham gia;

    d.   và theo dõi giám sát.

     

    Công tác quảng cáo phải thúc đẩy được sự phát triển, cải tiến dịch vụ và vì thế sẽ tạo được và cải thiện sức thu hút. Quá trình này cần diễn ra liên tục và là một phần trong toàn bộ chiến lược quảng bá dịch vụ chung của thư viện.


    Back to Chapter index
    15.3. Vận dụng ý tưởng

    Mỗi người đều có thể là một khách hàng tương lai của mọi dịch vụ thư viện cho dù họ là người khiếm thị hay sáng mắt. Vì vậy quảng cáo không phải chỉ đơn độc tập trung vào thông tin về dịch vụ đặc biệt dành riêng cho người khiếm thị.

    Mục đích chung của chiến lược quảng cáo dịch vụ có thể truy cập được là hòa nhập chung những gì trước đây vốn đã bị loại trừ. Điều này chỉ sẽ đạt được nếu tất cả tài liệu quảng cáo đều theo chu kỳ phát hành dưới dạng truy cập được và luôn gồm cả nhu cầu của người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    15.4. Mật độ dân cư người khiếm thị

    Điều này được trình bày chi tiết ở Chương 5. Tuy nhiên, có một số điểm chính để nhấn mạnh khi lập kế hoạch chiến lược quảng cáo:

    a.  Số người đăng ký là mù hay khiếm thị chỉ phản ánh một phần ba số người có đủ điều kiện để đăng ký. Trong đó có 75% người già hơn 70 tuổi;

    b.  Khả năng di chuyển là vấn đề cần thiết đối với người khiếm thị và chất lượng giao thông sẽ thay đổi vì thế điều kiện đi lại luôn luôn phải được đưa vào trong nội dung thông tin quảng cáo;

    c.  Thư viện lưu động, phân phối tài liệu về nhà, và gửi qua đường bưu điện là các công cụ quan trọng để quảng cáo dịch vụ;

    d.  Việc liên hệ trực tiếp với cá nhân là điều cần thiết được trình bày ở các phần sau trong chương này.


    Back to Chapter index
    15.5. Thông báo cho các nơi

    Cổ động và quảng cáo nên được phát hành rộng rãi:

    a.  trực tiếp đến với người khiếm thị;

    b.  đến các trợ giảng và cán bộ tiếp khách hàng của các tổ chức giáo dục;

    c.  với độc giả của các dịch vụ khác/những người chưa sử dụng thư viện khác là bạn bè, bà con, người chăm sóc, người sống chung với người khiếm thị;

    d.  với độc giả của các dịch vụ khác/những người chưa sử dụng thư viện khác luôn là khách hàng tương lai của các dịch vụ truy cập được sau này khi họ trở thành người khiếm thị do tuổi cao hay vì một hoàn cảnh nào đó;

    e.  với người cung cấp dịch vụ, hay làm việc với người  khiếm thị.

    Có nhiều kênh truyền thông khác nhau có thể giúp công tác quảng cáo thành công.

     


    Back to Chapter index
    15.5.1. Các nhóm trong địa phương

    Tổ chức của người khuyết tật tại địa phương có thể rất có giá trị trong việc thông tin trực tiếp đến và nhận thông tin từ người khiếm thị. Họ cũng có thể có các dịch vụ nhận chuyển dạng tài liệu in sang băng và chữ Braille với giá cả cạnh tranh nhau. Các tổ chức này có thể cho người khuyết tật chung và/hoặc người khiếm thị. Có khoảng 200 tổ chức tình nguyện được biết là bộ phận liên kết với RNIB phục vụ  người khuyết tật.

    Các tổ chức văn hoá xã hội khác cũng nên được nhắm đến như các hội cho thuê nhà, các hội trong cộng đồng, trung tâm nuôi dưỡng trẻ cơ nhỡ hay trung tâm dưỡng lão.


    Back to Chapter index
    15.5.2. Dịch vụ xã hội

    Đối với thư viện công cộng, thật cần thiết để thúc đẩy quan hệ công tác với Phòng Dịch vụ xã hội như là một phần trong chiến lược quảng cáo. Phòng Dịch vụ xã hội có nhiệm vụ theo luật định là nhằm giữ gìn và duy trì việc đăng ký vào hội người mù và khiếm thị tại địa phương – phiếu đăng ký chứng nhận BD8

    Điều này đòi hỏi Dịch vụ xã hội tiếp cận và ủng hộ người khiếm thị khi họ đến đăng ký gia nhập hội. Số lượng và chất lượng hỗ trợ được cung cấp sẽ thay đổi rất lớn  

     

    Tên của những người đăng ký BD8 không được tiết lộ theo yêu cầu tôn trọng hồ sơ sức khỏe và Đạo luật Bảo vệ thông tin. Tuy nhiên Phòng Dịch vụ xã hội thường sẵn sàng cung cấp thông tin về dịch vụ cho những người đến đăng ký. Để tiếp cận với nhóm công tác xã hội và đội dịch vụ đặc biệt về việc sử dụng phiếu đăng ký BD8 có thể hiệu quả nhất nếu có lệnh giải quyết của Giám đốc. 


    Back to Chapter index
    15.5.3. Dịch vụ y tế

    Người khiếm thị cần dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ cả tổng quát và đặc biệt vì thế nếu chúng ta thông tin về dịch vụ thư viện cho các bác sĩ giải phẫu, bác sĩ nhãn khoa, người bán kính dường như là chuyện hiển nhiên. Cơ hội để tích cực phối hợp phải được nhận ra rằng có lợi ích vượt ra bên ngoài việc cung cấp thông tin chỉ đơn thuần là sức khoẻ. Uỷ ban người thị lực kém có thể là nơi có cơ hội lý tưởng.


    Back to Chapter index
    15.5.4. Uỷ ban Dịch vụ thị lực kém

    Theo một báo cáo của Nhóm thống kê dịch vụ thị lực kém năm 1999, hiện có sự hình thành các bộ phân tiêu biểu trong tổ chức quan tâm đến vấn đề thị lực do Nghị sĩ Jenkin của quận Roding làm chủ tịch. Mục tiêu chung là giúp đỡ sự phát triển tập trung có hệ thống, đa dạng hơn, bằng cách làm việc với người tại địa phương để đáp ứng được nhu cầu của địa phương đó.

     

    Hiện có 26 ủy ban như thế tại Anh và xứ Wales, và một số khác đang hình thành. Thành viên của uỷ ban có thể gồm có ban kiểm soát y tế địa phương, những nhà chuyên môn chăm sóc sức khoẻ, công tác xã hội, cá nhân người khiếm thị từ nhiều nhóm khác nhau trong cộng đồng, tổ chức tình nguyện của người khiếm thị, người làm công tác giáo dục, dịch vụ việc làm, chăm sóc người già, khiếm thính, người gặp khó khăn trong học tập và người đa khuyết tật.

     

    Những uỷ ban với nhiều mối quan tâm sẽ là những kênh truyền thông hữu ích với người khiếm thị trong địa phương. Thông tin chi tiết về dịch vụ thị lực kém, xin liên hệ Văn phòng điều hành thị lực kém cho cộng đồng hiện có tại RNIB Birmingham (sẽ dời đi vào tháng 6 năm 2002) Tel: 0121 643 7189 hoặc qua RNIB Luân đôn Tel: 020 7391 2347


    Back to Chapter index
    15.5.5. Dịch vụ giáo dục

    Thư viện trong các tổ chức giáo dục có thể hướng trực tiếp đến thông tin đăng ký nhập học để lấy thông tin của học sinh sinh viên khiếm thị. Tất cả học sinh đăng ký trường đại học FE phải có sự đánh giá về nhu cầu hỗ trợ học tập, kể cả việc cần dùng các nguồn lực và hỗ trợ đặc biệt. Ở cấp đại học cũng vậy, sẽ có thủ tục đặt ra để nhận biết nhu cầu hỗ trợ đặc biệt, và các tổ chức giáo dục thường có bộ phận hay nhân viên chuyên trách được phân công giúp đỡ sinh viên bị khuyết tật. Việc phát triển và quảng cáo nguồn lực và dịch vụ thư viện phù hợp với nhu cầu trên sẽ tạo được động lực trong công tác tư vấn cho sinh viên, dịch vụ hỗ trợ sinh viên, văn phòng tiếp sinh viên, và người dạy kèm cho sinh viên, phù hợp cho bất cứ nơi nào cần đến.

    Cộng tác viên giữa các nhà cung cấp dịch vụ thư viện và thông tin tại địa phương rất có ích. Ví dụ là Diễn đàn Người khiếm thị ở Manchester, phối hợp giữa FE, HE, dịch vụ thư viện công cộng, dịch vụ xã hội, RNIB, và dịch vụ việc làm, nhắm vào việc cải thiện khả năng tiếp cận thông tin và các nguồn lực của sinh viên khiếm thị

    Trường đại học Mở thành lập Hiệp hội sinh viên khuyết tật Liên hệ 01908 653273


    Back to Chapter index
    15.5.6. Công tác truyền thông địa phương và quốc gia

    Thường khó để thu hút phương tiện truyền thông toàn quốc về những tin tức tốt lành về việc phát triển dịch vụ thư viện. Hội chợ Kinh nghiệm tiếp xúc và Ngày đọc sách toàn quốc do NLB và RNIB tổ chức đã chiếm được các kênh phát thanh, truyền hình, và báo chí cũng như được phủ sóng trên đài BBC, chương trình “Gắn bó” dành riêng cho người khiếm thị. Tham gia trong các cuộc cổ động của khu vực và toàn quốc thường là cách hữu hiệu để nâng cao hình ảnh của dịch vụ thư viện dành cho người khiếm thị nói chung và mặt khác còn kích thích thêm việc xây dựng dịch vụ tại địa phương


    Back to Chapter index
    15.5.7. Đài phát thanh và truyền hình

    Theo khảo sát nhu cầu của RNIB (Bruce và nh. ng. khác, 1991), hơn 90% người khiếm thị có TV và radio, 70% người khiếm thị dưới 55 tuổi có máy băng hình và 49% trên 55 tuổi có máy hát băng hình. Khoảng 205 người khiếm thị nghe đài đều đặn hoặc thỉnh thoảng nghe chương trình “Đến với nhau”. Không có số liệu nào cho biết số người khiếm thị nghe đài địa phương hay cộng đồng, mà những kênh này có thể sẽ là nhưng kênh thông tin bổ ích cho cộng đồng đặc biệt là với cộng đồng dân tộc thiểu số. Phát thanh và truyền hình rõ ràng là công cụ truyền thông có thể chiếm được số lượng khán thính giả trong nhiều cộng đồng khác nhau.


    Back to Chapter index
    15.5.8. Báo nói

    Hội báo nói của Vương quốC ANH (TNAUK) hiện có hơn 17.000 người đăng ký sử dụng dịch vụ chuyển dạng của quốc gia. Có hơn 500 nhan đề báo nói địa phương, và 80% trong số đó là thành viên của TNAUK. Mỗi nhan đề có từ 50 đến 1200 người nghe, và TNAUK ước tính có khoảng 200,000 người nhận tin ở dạng báo nói hay các dạng khác nữa.

    Báo nói địa phương sẽ vui lòng nhận đăng các bài báo vận động việc sử dụng dịch vụ hay thông báo về một chương trình hay sự kiện, vì thế có thể coi đây là nguồn truyền thông rất hiệu quả. TNAUK có thể cung cấp chi tiết liên hệ với tòa soạn báo nói địa phương Tel 01435866102. Cũng nên hỏi thông tin từ Dịch vụ xã hội và hội nhóm địa phương về các tờ báo nói không thuộc mạng lưới TNAUK.


    Back to Chapter index
    15.5.9. Báo chí của người khuyết tật

    Có nhiều tờ báo và tạp chí dành cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thị nói riêng. Địa chỉ webiste  www.tiresias.org/serials liệt kê nhiều loại báo đề cập đến người khiếm thị, có nhiều tờ là chuyên đề đặc biệt.

    Hai tờ có nhiều vấn đề dành cho người khiếm thị nên liên hệ:

    a.   “New Beacon” đăng ký theo cá nhân và trung bình phát hành 5.000 số.  

    b.  “Update”, tờ tin cho các tổ chức, với khoảng 200 tổ chức địa phương, văn phòng dịch vụ xã hội và vài cá nhân đăng ký.

    c.  Chi tiết xin liên hệ Đường dây trợ giúp RNIB 08457 669999


    Back to Chapter index
    15.5.10. Thông tin điện tử và Internet

    Tính đến cuối năm 2000, có khoảng 17 triệu người sử dụng Internet ở Vương quốc Anh (theo Niên giám Công nghệ máy tính) bao gồm sử dụng tại nhà, ở chỗ học và chỗ làm. Việc phát triển sử dụng Internet qua truyền hình số được coi là yếu tố chính của sự tăng trưởng mạnh này. Vì thế, việc xây dựng website truy cập được với các đường liên kết thích hợp và bảng tin thúc đẩy dịch vụ thông tin và thư viện phải là phần chuẩn mực phải đạt được trong bất kỳ kế hoạch  quảng cáo trong tương lai. Chi tiết về website thiết kế truy cập được đọc ở chương 14 .


    Back to Chapter index
    15.5.11. Tổ chức của chính bạn

    Hướng vào người sử dụng là cách quảng cáo tốt cũng như bất kỳ chiến lược phân phối dịch vụ nào. Cách cơ bản thúc đẩy một dịch vụ là khách hàng sử dụng qua dịch vụ cảm thấy hài lòng và đi nói cho người khác có thể là trong sắp tới sẽ là khách hàng tương lai.

    Thành lập nhóm khách hàng người khiếm thị là một phần trong chiến lược quảng cáo, nên cần phải có danh sách khách hàng khiếm thị để tiện liên lạc.

    Nhiều thông tin hướng trực tiếp đến người khiếm thị qua người sáng như bạn bè, đồng nghiệp, các nhà cung cấp dịch vụ khác, phụ huynh và người chăm sóc họ. Những thông điệp này phải luôn tích cực và mạnh mẽ để hạn chế của kiểu thông tin qua trung gian có thể gây phản cảm hay đánh giá sai về sự hữu ích của dịch vụ. Tốt nhất nếu có thể thì nên truyền tải thông điệp trực tiếp đến với người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    15.5.12. Chủ trương của quốc gia

    Luôn tranh thủ những thuận lợi của các chương trình quốc gia thường được ứng dụng một cách dễ dàng tại địa phương, ví dụ chương trình “Bee Aware” do Calibre NLB, RNIB, và TNAUK thực hiện thông qua sự giới thiệu chỉ dẫn của hệ thống thư viện công cộng. Tham gia vào các chương trình này có thể là cách phối hợp hiệu quả giới thiệu các dịch vụ mới và vận động sử dụng các dịch vụ hiện có. Chi tiết biết thêm xin liên hệ “Tin tức của Tổ chức Share The Vision” và thường xuyên lướt xem tin tức trên các webiste của NLB và RNIB.


    Back to Chapter index
    15.5.13. Chương trình cổ động

    Sự kiện đặc biệt, phần chấm duyệt, hay công diễn là những cách hữu hiệu để cổ động chương trình và rất có ích cho thư viện và nhân viên. Tháng 5 năm 1999, NLB và RNIB tổ chức Chương trình Hội chợ Đọc để hiểu nhau và Ngày Đọc sách toàn quốc. Một số các báo cáo đánh giá nói thế này:

    “61 thư viện đầu tư tài trợ cho các chương trình và trên 20 tham gia các sự kiện không có tài trợ và tất cả đều báo cáo là họ gặt hái được nhiều thành công. Mỗi thư viện chỉ được nhận giải thưởng chỉ có 100 bảng mở ra một sự liên kết rộng lớn không thể tưởng giữa các tổ chức công tác xã hội, giáo dục, và cộng đồng. Lòng nhiệt tình, tính sáng tạo, và quyết tâm của họ để lại ấn tượng rất lớn. Đa số thành viên đều báo cáo là họ đã thu hút thêm được độc giả, tăng thêm nhận thức cho nhân viên và kết quả là mở rộng được dịch vụ “

     

    Một yếu tố quan trọng của sự thành công của các chương trình là các thư viện phải làm việc với các tổ chức của người khiếm thị trong địa phương. Những sự hợp tác này có lợi lâu dài và giúp các thư viện thúc đẩy dịch vụ của họ, có nhiều người sử dụng hơn, và xây dựng thêm nhiều mối quan hệ với người khiếm thị tại địa phương. Báo cáo kết luận:

    “Vì thế Ngày hội là chất xúc tác rất có ý nghĩa là cải thiện việc sử dụng dịch vụ và vận động những người trước đây cảm thấy là các dịch vụ này không liên quan gì đến họ - nghĩ đến việc tiếp cận chúng. Ví dụ những dịch vụ của thư viện, bảo tàng, hay các nhà triển lãm trưng bày nghệ thuật”

     

    Bản thân các thư viện và các nhà quản lý có thể tổ chức các chương trình của họ hoặc tiếp xúc các hội chợ để vận động sử dụng dịch vụ và nguồn lực như Cambridgeshire đã thực hiện vào năm 2000 sau thành công của họ khi tham gia vào Hội chợ năm 1999


    Back to Chapter index
    15.6. Tài liệu chuyển dạng

    Điều này đã được trình bày ở Chương 8. Tuy nhiên, có nhiều điểm chính để nhấn mạnh việc lập kế hoạch cho chiến lược quảng bá

    Có rất nhiều hình thức tài liệu được sử dụng khác nhau do mức độ, kiểu dạng khiếm thị khác nhau. Tuy nhiên, tất cả những dạng tài liệu chuyển dạng đều mong tạo thêm điều kiện, và khuyến khích người khiếm thị sử dụng. Vì thế rất quan trọng để cung cấp những thông tin ngắn gọn và chính xác nếu có thể.


    Back to Chapter index
    15.6.1. Chữ lớn

    Chữ lớn là hình thức nhìn sử dụng hứu ích nhất cho phần lớn những người khiếm thị. Theo hướng dẫn của RNIB, ít nhất chữ ở cỡ 14, kiểu chân phương như Arial hay Helvetica.


    Back to Chapter index
    15.6.2. Băng cassette
    Hình thức này thì tất cả người khiếm thị có thể truy cập được, trừ những người bị thêm tật khiếm thính. Quan trọng là thông tin xúc tích và chế độ âm lượng thích hợp, được chỉ mục và dán nhãn bằng chữ Braille ở cỡ chữ 14.

    Back to Chapter index
    15.6.3. Chữ nổi

    Trong khi vấn đề còn đang bị đưa ra tranh cãi về chất lượng, hình thức này cũng đã tạo thêm một số cách để tiếp cận văn bản. Số người dùng chữ Braille và đọc bằng cách sờ vào giấy thật ra chỉ chiếm một phần nhỏ trong cộng đồng người khuyết tật. Văn bản Braille lại rất cồng kềnh, khó làm và chi phí sản xuất rất cao vì thế chỉ có giá trị giới hạn trong chiến lược quảng cáo.


    Back to Chapter index
    15.6.4. Hình thức điện tử

    Hình thức điện tử là cách hữu ích để tiếp cận với người khiếm thị ngày càng có nhiều cơ hội sử dụng máy tính qua các phương tiện hỗ trợ để đọc hay phóng to văn bản.


    Back to Chapter index
    15.6.5. Mục lục truy cập được

    Sử dụng nhiều hình thức truy cập được sẽ giúp người khiếm thị tìm được cái mà họ có thể sử dụng được là một phần cần thiết trong dịch vụ quảng cáo.  Những điều này gồm có:

    a. Mục lục thư viện truy cập được nhờ phần mềm âm thanh hay phóng đại ở chế độ cho dù là trực tuyến hay ngoại tuyến, dùng máy tính cá nhân hay trên web.

    b. Cung cấp mục lục và danh mục trên máy tính xách tay và dạng CD-ROM đặc biệt phục vụ trong các dịch vụ phân phối tận nhà hay lưu động;

    c. Cung cấp danh mục vốn tài liệu loại chữ lớn hay dạng âm thanh dưới hình thức sách chữ lớn và trên băng.

    Chương 13, 14 cho biết chi tiết về Thiết kế và Công nghệ hỗ trợ cho tất cả các nguyên tắc trên.

     


    Back to Chapter index
    15.7. Nhận phản hồi

    Lắng nghe người khác là công cụ quảng cáo có giá trị cũng như một phương tiện xây dựng và giám sát dịch vụ. Dịch vụ thư viện nên có một số các diễn đàn cho phù hợp. Như:

    a. Nhóm tiếp cận độc lập.

    b. Diễn đàn người khuyết tật.

    c.  Tiếp xúc khách hàng.

    d. Uỷ ban thị lực kém.

    e. Thông tin liên lạc với hội người khiếm thị.

    f. Diễn đàn công bằng/ Uỷ ban cơ hội bình đẳng.

    g. Diễn đàn khách hàng với tóm tắt thông tin về người sử dụng dịch vụ.

    Tính khả thi, thời gian và sự hữu ích của các hình thức trên sẽ thay đổi. Tuy nhiên dịch vụ thư viện nên đảm bảo người khiếm thị được thực sự tham gia trong các nhóm tham khảo ý kiến khách hàng.


    Back to Chapter index
    15.7.1. Tham khảo ý kiến của người khiếm thị

    Có nhiều phương pháp có thể dùng để lấy ý kiến của người khiếm thị trong việc phát triển và đánh giá dịch vụ.

    Nhắm vào từng nhóm đối tượng là phương tiện đắc lực khuyến khích người khiếm thị nói lên nhu cầu của họ trong việc phát triển dịch vụ cho phù hợp. Tuy nhiên, để giao tiếp hiệu quả thì yêu cầu cần quan tâm trường hợp của từng nhóm, rất đa dạng và nếu không thể quan sát được ngôn ngữ hình thể thì có thể làm ảnh hưởng đến mức độ tham gia. Quan trọng là chú ý các cuộc họp có sự tham dự của người khuyết tật và tỏ bày sự quan tâm đến họ. Ví dụ, đơn giản là người cử tọa có thể hỏi mọi người trong cuộc họp có thể dùng giọng nói để nhận ra người khác hay vị trí của họ xung quanh bàn họp. 

     

    Hình thức tham khảo ý kiến nữa là khảo sát tổng quan hay theo một chủ đích cụ thể; khảo sát tại chỗ hay thực hiện trong cộng đồng lớn. Công tác này có thể do các tổ chức tình nguyện hay nhân viên thư viên trực tiếp tham gia. Cần thiết để NKT tham gia vào việc thiết kế mậu khảo sát và chú ý kêu gọi sự tham gia của khu vực tư nhân.

     

    Bất cứ ai thực hiện khảo sát cần phải qua tập huấn chi tiết  và phải nhận thức ra vấn đề. Tài liệu hướng dẫn có thể tham khảo Qui tắc hướng dẫn của Hội Nghiên cứu Quảng cáo (MRS, 1999), và các cuộc khảo sát của thư viện công cộng, tiêu chuẩn và hướng dẫn được xây dựng bởi Hội đồng thống kê TVCC và Viện tài chính công (IPF, 1995)


    Back to Chapter index
    15.7.2. Bảng câu hỏi

    Người sử dụng dịch vụ có thể được yêu cầu hoàn thành các câu hỏi về các dịch vụ mà họ được phục vụ. Các mẫu có thể được xây dựng để xem NKT đã truy cập và nhận được việc phân phối dịch vụ tốt như các thông tin mà họ đã nghe nói về dịch vụ. Nhân viên phải được tập huấn để phục vụ hỗ trợ khách hàng khiếm thị điền vào các bảng mẫu câu hỏi như thế.


    Back to Chapter index
    15.7.3. Khảo sát qua điện thoại

    Khảo sát qua điện thoại là cách lý tưởng để tập hợp thông tin từ NKT. Quan trọng phải lấy mẫu đại diện và đầy đủ để thu thập các thông tin có giá trị. Nếu tiến hành cuộc khảo sát tổng quát về nhu cầu hay sự thoả mãn của khách sử dụng, thì cần tranh luận làm rõ khảo sát người khiếm thị qua điện thoại vậy thì có được không. Nhu cầu chăm sóc cụ thể nên được thay cho việc khảo sát qua điện thoại.


    Back to Chapter index
    15.7.4. Khảo sát phỏng vấn

    Cần thiết thì kết hợp tất cả những hình thức trên. Tuy nhiên có một số điểm quan trọng là phải được đưa vào bất cứ phương pháp nào đã được chọn để thực hiện:

    a. Nhân viên điều tra khảo sát cần phải qua tập huấn về cách tiếp cận đúng mực với NKT bằng tiếp xúc trực tiếp cá nhân hay qua điện thoại

    b. Lý do của bất kỳ cuộc khảo sát nào cũng phải được trình bày rõ.

    c. Thiết kế bảng câu hỏi phải cho thông tin rõ và khuyến khích mọi người phê bình để tránh tình tạng người sử dụng chỉ nói lời cám ơn dịch vụ.


    Back to Chapter index
    15.8. Kết luận

    Điều mong mỏi để người khiếm thị có được các dịch vụ cần được nâng cao. Dịch vụ quảng cáo truy cập được thông qua các phương tiện truyền thông vì thế là rất cần thiết. Lập kế hoạch quảng cáo dịch vụ phải được phối hợp, không chỉ do nhu cầu giao tiếp của NKT, mà còn để cập nhật kiến thức về cách thức thông tin truyền tải đến họ thế nào.

    Mục tiêu thích hợp và khả thi nên được hợp tác với các cá nhân và tổ chức người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    16.1. Giới thiệu

    Cẩm nang có mục đích cung cấp những hướng dẫn và thông tin về nhiều yếu tố cần xem xét trong công tác phục vụ người khiếm thị. Không có công thức chung cho loại hình dịch vụ, nhưng từng mảng hoạt động phải cần theo khuôn khổ để có thể đáp ứng được nhu cầu của địa phương. Tuy nhiên, theo cuộc khảo sát của Ủy ban Thông tin thư viện và Hội đồng bảo tàng, lưu trữ và thư viện để đánh giá hiện trạng các cấp độ phát triển của dịch vụ, và để lập ra các tiêu chuẩn đánh giá trong tương lai. Quan trọng là dịch vụ thư viện được nhận thức là cần có tiêu chuẩn quốc gia cũng như quốc tế, vì những chuẩn này tạo ra khuôn rõ ràng cho các thư viện có thể thực hiện việc đánh giá và xem xét, và cũng đề ra những chuẩn mực cần thiết mà một dịch vụ cần phải đạt được.  


    Back to Chapter index
    16.2. Tiêu chuẩn quốc gia

    Hướng dẫn phục vụ bạn đọc khiếm thị được biên soạn bởi tổ chức Share the Vision và do Jean Machell của Hội Thư viện phát hành năm 1996. Tư vấn và cho các lời khuyên hữu ích để phát triển các dịch vụ thông tin thư viện thích hợp. Chúng đặc biệt có giá trị như bảng danh mục các khoản việc cần làm để có thể xét lại các dịch vụ hiện có. Những khuyến nghị sau dựa vào nguyên tắc cơ hội bình đẳng và chỉ ra nhiều yếu tố khác nhau:

     

    a) Nhân sự ;
    b) Dịch vụ;
    c) Phân phối dịch vụ;
    d) Đối tượng khách hàng cụ thể ;
    e) Tòa nhà;
    f) nguồn tài liệu ;
    g) thiết bị và công cụ đọc;
    h) truy cập thông tin;
    i) thúc đẩy và quảng bá.

     

    Tuy nhiên điều quan trọng là nhận ra có sự thay đổi đáng kể kể từ năm 1996 trong lĩnh vực CNTT. Bất cứ đánh giá nào dịch vụ địa phương phải luôn tính đến yếu tố xây dựng trang web truy cập được và việc cung cấp CNTTVT, đã được thảo luận ở Chương 1314.

    Bảng tóm tắt của hướng dẫn phục vụ có ở bảng Phụ lục 2


    Back to Chapter index
    16.3.1. Anh Quốc

    Bộ Văn hóa, thông tin và thể thao xuất bản tiêu chuẩn cho các thư viện công cộng vào tháng 2 năm 2001, để giúp các nhà lãnh đạo TVCC các tiêu chí đánh giá cả về số và chất lượng cho các biểu hiện của công tác phục vụ. Chúng có hiệu lực từ tháng 4 năm 2001, và hỗ trợ Thư viện bang theo đạo luật bảo tàng và TVCC năm  1964 “theo dõi và thúc đẩy cải thiện dịch vụ TVCC ở Anh quốc và xứ Wales và để đảm bảo sự gánh chịu trách nhiệm của địa phương về việc điều hành thư viện.”

     

    Các tiêu chuẩn về giờ phục vụ, vị trí, mục lục trực tuyến và truy cập Internet, phục vụ và sự thỏa mãn của độc giả, vốn tài liệu và bổ sung, và điều phối nhân sự. Tiêu chuẩn để nhận ra các nhu cầu của người khuyết tật, nhưng hầu hết là nằm ở lời tựa, do đó cần có kế hoạch hàng năm của thư viện để báo cáo các dịch vụ dành cho người khuyết tật  và đưa vào chương trình hội nhập xã hội:

    “Khi họ đang xem xét các dịch vụ, sẽ tính đến việc truy cập thích hợp và tiện lợi, giờ phục vụ, truy cập điện tử, khuyến khích sử dụng thư viện, chọn lựa sách và tài liệu, sự thỏa mãn của khách hàng, nhà quản lý thư viện phải tính đến nhu cầu hội nhập xã hội của họ.” (Para 26).

     

    Xét về chuẩn cụ thể, chỉ có 3 điểm nói đến nhu cầu của người khiếm thị. Chuẩn 9, yêu cầu dịch vụ đặt trước ấn phẩm, trình bày:

    “Bên cạnh đó, để đạt được yêu cầu của DDA 1995, ban lãnh đạo phải cho phép bạn đọc yêu cầu các tài liệu dạng thay thế cho những người khuyết tật.”
    Tiêu chuẩn 16 và 17 chỉ ra các chi tiết bổ trợ như cập nhật hàng năm hay chỉ số chất lượng tài liệu và cả hai có thể ở dạng sách băng hay chữ lớn. Tuy nhiên các con số cụ thể thì chưa được xác định, và vấn đề này cần tham khảo Phòng thống kê của ủy ban TVCC.


    Back to Chapter index
    16.3.2. Xứ Wales

    Theo tiến trình tư vấn năm 2001. Quốc hội xứ Wales đã phê chuẩn và ban hành bộ chuẩn của TVCC ở Wales, ‘TVCC hiện đại, hữu hiệu và tòan diện: tiêu chuẩn và giám sát’ (Quốc hội xứ Wales, 2001).

     

    Các lãnh đạo TVCC ở đây được mong mỏi thực hiện theo các chuẩn này tính đến năm 2005; các chuẩn này có một số các yêu cầu quan trọng đối với người khuyết tật, trong đó có cả những điều khoản dành cho người khiếm thị.

     

    Được biên sọan dựa vào DDA 1995 vì liên quan đến các điểm phục vụ thư viện là yếu tố cần thiết trong tiêu chuẩn đầu tiên, nó yêu cầu phải sử dụng thuận tiện và thích hợp cho cả thư viện tại chỗ hay thư viện lưu động. Nhu cầu của người khuyết tật phải đựợc phản ánh ngay từ cách phân bố không gian hợp lý của thư viện. Ban giám đốc TVCC ở Wales phải nộp kế họach sử dụng công nghệ hỗ trợ nào để phục vụ truy cập mục lục và dịch vụ trực tuyến, trong giai đọan 3 năm đến tháng 3 năm 2005. Sự sắp xếp chuẩn bị để có thể cho phép các yêu cầu về tài liệu hình thức chuyển dạng phù hợp với loại hình khuyết tật của người sử dụng; và việc quản lý tài liệu phải được phát triển dựa vào các tiêu chí của địa phương về các loại tài liệu nào có những hình thức cho những nhu cầu hình thức tài liệu cụ thể cho các loại khuyết tật. Hội đồng lập chuẩn TVCC đang được yêu cầu xây dựng công cụ chuẩn thống kê tính ra được nhu cầu của người sử dụng có nhu cầu tài liệu đặc biệt. Chi ngân sách cho tài liệu như sách chữ lớn hay băng sách so với các chuẩn, theo các con số cấp cao, vừa hay thấp nhất. Mục tiêu tối thiểu cũng được đặt ra cho tài liệu ngôn ngữ của Wales ở dạng khác in ấn.

     

    Lãnh đạo TVCC xứ Wales đã xây dựng xong kế hoạch thư viện trong 3 năm từ tháng 4 năm 2002 đến tháng 3 năm 2005, các số liệu cũng như các hướng dẫn cách thức đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra.


    Back to Chapter index
    16.3.3. Xcốt-len

    Tiêu chuẩn TV hiện nay của Xcốt-len là bản ‘Tiêu chuẩn của TVCC ở Xcốt-len 1995’. Những chuẩn này là báo cáo của Ban điều hành được sự ủy nhiệm của Ủy ban giải trí và nghệ thuật COSLA (Hiệp ước của các lãnh đạo địa phương Xcốt-len) để đánh giá các tiêu chuẩn trước đây được phát hành vào năm 1986. Chúng được biết đến như là ‘Tiêu chuẩn COSLA’.

     

    Hội đồng Thông tin thư viện và COSLA đồng ý là không có tiêu chuẩn mới nào cho đến khi danh sách chương trình mạng lưới cộng đồng được ban hành.

     

    Các tiêu chuẩn đề cập đến chính sách, dịch vụ cho mượn, thông tin cộng đồng, học tập, dịch vụ cho thanh thiếu niên, người lớn và giáo dục tiếp tục, thư viện và nghệ thuật, dịch vụ cho đối tượng đặc biệt, thúc đẩy dịch vụ thư viện, hợp tác mượn liên thư viện, phát triển nhân sự và dự trình – xây dựng, đặt địa điểm và đưa vào phục vụ.

     

    Chương trình dịch vụ cho đối tượng đặc biệt trình bày về kiến trúc tòa nhà nên được thiết kế để người khuyết tật có thể sử dụng dễ dàng. Tài liệu có dạng thay thế và phương tiện kỹ thuật phải được cung cấp để giúp người khiếm thị có thể sử dụng được cũng như chuẩn bị cho độc giả trong tương lai và tất cả nhân viên thư viện phải được huấn luyện để phục vụ được đối tượng độc giả nếu họ bị bất kỳ khiếm khuyết nào. Dự án của tổ chức Share the Vision được hoan nghênh ứng dụng triển khai và cho thấy rõ còn nhiều nhu cầu cần làm để thúc đẩy người khiếm thị sử dụng. Các mô hình cải tiến gồm có việc cung cấp các hướng dẫn hoạt động và tạo lập mục lục dạng thay thế.

     

    Phần liên quan đến thông tin cộng đồng đề cập đến “Ở đâu cần đưa thông tin thì phải cung cấp ở nhiều dạng khác nhau như âm thanh, hình ảnh, chữ lớn và chữ Braille”. Cũng phải “truy cập dễ dàng vào thông tin cộng đồng là điều cần thiết cho tất cả thành viên trong cộng đồng. Đặc biệt chú ý đến việc đáp ứng nhu cầu của người khuyết tật”.


    Back to Chapter index
    16.3.4. Bắc Ailen

    Vào tháng 7 năm 2001 Bộ Văn hóa, Nghệ thuật và Giải trí thông báo sự khởi đầu chương trình ” đánh giá dịch vụ TVCC ở Bắc Ailen. Mục tiêu của cuộc đánh giá được mang tên” Thư viện của Tương lai”, để tạo nên hình ảnh tương lai của dịch vụ TVCC và kế hoạch hành động để đạt những mục tiêu đó. Không được là cuối cùng kết quả có bao gồm các tiêu chuẩn cụ thể cho TVCC ở Bắc Ailen trong đó có đề cập rõ “đáp ứng nhu cầu của người chịu thiệt thòi”. Rất thú vị là về mặt công bằng xã hội Bắc Ailen được nghĩ là nghiêm khắc hơn tất cả các nơi khác trong Vương quốc Anh, và đến tháng 3 năm 2001 Bộ Văn hóa, Nghệ thuật và Giải trí công bố tài trợ khoảng £300,000 để cài đặt công nghệ hỗ trợ cho tất cả 124 TVCC ở Bắc Ailen để đảm bảo cho mọi người ai cũng sử dụng được dịch vụ thư viện.


    Back to Chapter index
    16.4. Hướng dẫn của quốc tế

    Liên đoàn hiệp hội thư viện quốc tế (IFLA) xuất bản hướng dẫn vào năm 1983, nền tảng của “khuyến khích xây dựng các chuẩn quốc gia cho dịch vụ của người khiếm thị” (IFLA, 1983). Những đề nghị này có cả những chuẩn dự đoán tối thiểu như ”dịch vụ sẽ…” và cả những đề nghị mang tính buộc ”dịch vụ phải …”. Khuyến nghị nhằm vào tất cả các cơ quan theo luật pháp quy định, và cả những hướng dẫn quản lý dịch vụ cấp quốc gia, phát triển nguồn lực, và dịch vụ cho người sử dụng và thông tin giáo dục cộng đồng.

     

    IFLA thành lập ban để đánh giá lại toàn bộ chuẩn dịch vụ cho người mù; và một bản thảo hiện đang được Tiểu ban thư viện của người mù của IFLA xem xét có trang diễn đàn tại www.smartgroups.com/groups/IFLA_SLB (thành viên được mời tham dự, liên hệ ikrauledat@force.nl hay bất cứ thành viên nào trong danh sách của tiểu ban SLB cũng có thể phát hành một giấy mời).

     

    Bản khuyến nghị là phụ trương của bộ “hướng dẫn dịch vụ cho dịch vụ thư viện của người mù” được Hội đồng chuyên gia IFLA thông qua vào tháng 8 năm 1998. Hướng dẫn thúc đẩy khái niệm chữ Braille là phương tiện mang tính đồng hành với thể loại in ấn phục vụ cho độc giả mù và khiếm thị. Trong đó có 8 nguyên tắc chủ chốt cho mọi loại hình thư viện nơi có dịch vụ phục vụ được đối tượng mù trong cộng đồng độc giả và nêu hướng dẫn xây dựng vốn tài liệu chữ Braille.


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Ủy ban lãnh đạo địa phương Xcốt-len (COSLA). (1995).
    Tiêu chuẩn dịch vụ thư viện ở Xcốt-len năm 1995. Báo cáo của Ban điều hành dưới sự ủy nhiệm của Ủy ban Nghệ thuật và giải trí của COSLA. Edinburgh: COSLA.

     

    Bộ Văn hóa, Thông tin và thể thao . (2001). Tiêu chuẩn và đánh giá TVCC hiện đại, hữu hiệu và toàn diện. www.culture.gov.uk/heritage/index.html

     

    Liên đòan hiệp hội thư viện quốc tế . (1998). Hướng dẫn dịch vụ thư viện cho người sử dụng Braille. www.ifla.org.

     

    Liên đòan hiệp hội thư viện quốc tế International. Ủy ban xây dựng tiêu chuẩn, tiểu ban thư viện của người mù. (1983). Khuyến nghị để xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về dịch vụ thư viện cho người mù. Do Thư ký điều hành, Dịch vụ thư viện quốc gia của người mù và tàn tật, Thư viện Quốc hội Mỹ, National Library Service for the Blind and Physically Handicapped, Library of Congress, U.S.A.

     

    Machell, Jean. (1996). Dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị: hướng dẫn quốc gia. Share the Vision/ Hội Thư viện. London: L.A. xuất bản.

     

    Quốc hội xứ Wales. (2001). Tiêu chuẩn và giám sát thư viện công cộng hiện đại, hữu hiệu và toàn diện. www.wales.gov.uk/subiculture/content/libraries/libstandards-cnts-e.htm


    Back to Chapter index
    17. Giới thiệu

    Trong lúc lập kế hoạch và phát triển dịch vụ cho người khiếm thị nên chuẩn bị kiến thức và kinh nghiệm phải cần dùng đến. Song điều quan trọng cụ thể phải nói đến là phải giúp bản thân người khiếm thị đựơc tự làm và được làm một cách chuyên nghiệp. Sự hiện diện của họ và hoạt động của họ sẽ sẽ có mặt ở khắp các khu vực dịch vụ và có thể sẵn sàng được tính vào. Trong sự quan trọng của tính bình đẳng là nên tham khảo kinh nghiệm của thư viện khác và các mô hình nổi bật được trích dẫn trong cẩm nang.  

     

    Chương này tổng kết lại và bổ sung chi tiết cho nhiều thông tin tham khảo trong cẩm nang và kết hợp chúng với nhiều nguồn thông tin nữa. Lượng thông tin về khiếm thị ngày càng nhiều và phong phú và các nguồn trong đây được sựu tầm chọn lọc lại. Trong phần chính chỉ chọn phần thông tin liên quan đến trực tiếp với người khiếm thị về tổng quan cho người khuyết tật cũng có liên quan phần nào đó.  Bù lại có phần trình bày nhiều về vấn đề Internet cho cả trong nước và quốc tế.


    Back to Chapter index
    17.1. Hiệp hội và nhà cung ứng dịch vụ

    Phần này mô tả các tổ chức dịch vụ chính, dịch vụ và thông tin, tư vấn và hỗ trợ sẽ rất có giá trị cho cán bộ thư viện. Có nhiều tổ chức khu vực và địa phương, các chi tiết này có thể đọc trên “Danh bạ tổ chức ở Anh quốc”, có thể ở dạng tài liệu in ấn hay trên trang web của RNIB (www.rnib.org.uk) dưới dạng một cơ sở dữ liệu có thể tra cứu.


    Back to Chapter index
    17.1.1. Viện hoàng gia cho người mù (RNIB)

    RNIB là tổ chức tình nguyện lớn nhất Anh quốc dành cho người mù và khiếm thị đủ loại đủ kiểu. Cung cấp hơn 60 dịch vụ khác nhau ở đủ các lĩnh vực giáo dục, tập huấn, việc làm, và hỗ trợ cho cá nhân và tổ chức.

     

    Công việc của RNIB chủ yếu có bốn lĩnh vực: thiết bị và thông tin truy cập được, dịch vụ cộng đồng (định nghĩa rộng hơn), giáo dục và việc làm. Trong dịch vụ thư viện, RNIB làm việc chặt chẽ với Thư viện quốc gia dành cho người mù để phối hợp và cải thiện dịch vụ tốt hơn. RNIB khởi xướng tổ chức ‘Share the Vision’ và tiếp tục trở thành một thành viên tích cực.

    Sứ mệnh của nó là “Một thế giới nơi mà người mù và khiếm thị hưởng thụ được quyền lợi, trách nhiệm, cơ hội và chất lượng cuộc sống như những người sáng mắt”.

     

    Các nguồn thông tin
    Mục đích chính cho kế hoạch chiến lược từ năm 2005- 2006 là có thể độc lập truy cập thông tin. Các điểm chính trong truy cập là trang web, thư viện tham khảo, dịch vụ khách hàng và đường dây trợ giúp. Nó cũng xuất bản hàng tháng – ‘New Beacon’, và bản tin hàng tháng – ‘Update’ (chủ yếu cho hội địa phương). Một bản tin nâng cao nhận thức thông tin chung quanh ‘News for You’ được xuất bản dành cho người khiếm thị. Đường dây nóng: 08457 669999 (chỉ dùng cuộc gọi Anh quốc”)

     

    Trang web RNIB
    Là một nguồn lực thông tin, RNIB luôn đảm bảo tính bình đẳng thông tin và cung cấp nhiều cách truy cập thông tin thực tế nhất và linh động nhất. Trang web chứa nhiều thông tin cho biết các dịch vụ và sản phẩm của RNIB và thông tin về người khiếm thị trên các trang web khác.

     

    Trang này được thiết kế để có thể truy cập đến tất cả mọi người sử dụng, kể cả những người sử dụng công nghệ truy cập như giọng đọc hay phóng to màn hình. Trang này được thiết kế theo các hướng dẫn của RNIB về cách lập trang web tốt cho phép người xem điều chỉnh các yếu tố trình bày như cỡ chữ, kiểu hay màu sắc. Trang này hiện thu hút khỏang 70,000 người một tháng, rất được ưa thích trong số các trang web của các tổ chức từ thiện của Anh Quốc.

     

    Thư viện tham khảo RNIB
    Thư viện này là một trong những kho tài liệu toàn diện nhất cho các chủ đề của người khiếm thị  tại Anh Quốc. Vốn tài liệu có hơn 6,000 sách, 6,000 tờ rời, 2,300 thông tin chính phủ, 3,600 báo cáo hàng năm và 175 tạp chí hiện hành. Thành viên có thể đến thư viện hay nhận thông tin qua đường bưu điện.

     

    Trong tất cả mối quan tâm có dịch vụ thông tin tư liệu cung cấp sách báo mới xuất bản trong vòng định kỳ hai tháng, các mục lục xuất bản, tờ tin của RNIB và các thông tin thời sự.

     

    Các thành viên hợp tác cũng có thể đăng ký sử dụng kể cả dịch vụ thông tin mới và các dịch vụ hỗ trợ thư viện và sử dụng không hạn chế Thư viện tham khảo. Thự viện này đặt tại 105 đường Judd, London WC1H 9NE, và thành viên đăng ký với phí £25 một người. Tel: 020 7391 2052 email: library@rnib.org.uk

     

    Trung tâm nguồn lực (Luân độn – các trung tâm khác ở EdinburghBelfast)
    Đây có lẽ là một trong những kho tài liệu trưng bày lớn nhất về nguồn lực, phương tiện và sản phẩm của RNIB và các tổ chức khác hỗ trợ cuộc sống độc lập. Việc sắp xếp theo một chủ đề nào đó: bếp ăn, chung quanh nhà, tự làm, đồ điện, làm vườn, chữ Braille và Moon, đồng hồ đeo tay và treo tường, sản phẩm học tập, trò chơi, hoạt động giải trí. Cũng có thiết bị hỗ trợ vận động, phản màu sắc và đèn chiếu. Trong các sản phẩm đó, thư viện thường quan tâm đến các sản phẩm hỗ trợ đọc, viết và các thiết bị giao tiếp khác và hàng loạt  các tờ thông tin rời khác. Trung tâm được đặt cùng trụ sở ở đường Judd, có lực lượng nhân viên hiểu biết chuyên nghiệp và là nguồn hữu ích cho các lời tư vấn và thông tin.

     

    RNIB TiLE (Công nghệ hỗ trợ học tập và làm việc)
    (Xem mục 17.4)

     

    Thư viện chữ Braille RNIB
    Đây là mối quan tâm lớn nhất của sinh viên nhưng nó cũng có rất có ích nhờ vốn tài liệu khoa học. Có trên 12,000 nhan đề. Sử dụng dịch vụ này thông qua Dịch vụ khách hàng ở Peterborough.

     

    Thư viện băng cassette RNIB
    Cũng bắt đầu từ vốn tài liệu cho sinh viên; hiện có khoảng 20,000 tài liệu, chủ yếu là tài liệu nhà trường nhưng cũng có một số tài liệu hướng dẫn cũng như một số sách khoa học phổ thông. Đây là dịch vụ theo yêu cầu với các băng được chép từ bản gốc ra. Có thể là dạng hai hay bốn rãnh tùy ý chọn lựa. Dịch vụ này được thiết kế để có thể đáp ứng nhanh được yêu cầu và chất lượng sản phẩm thích hợp cho mục đích. Sử dụng dịch vụ này thông qua Dịch vụ khách hàng ở Peterborough và không phải trả phí.

     

    Dịch vụ sách nói RNIB
    Dịch vụ này được sử dụng rộng rãi nhất đối với người có vấn đề về thị lực ở Anh quốc. Chủ yếu là nhờ dịch vụ tiêu khiển giải trí và có vốn tài liệu rất phong phú, kể cả sách văn học hay khoa học và sách thiếu nhi. Sách gần như ở dạng toàn văn và do các chuyên gia đọc ở chất lượng cao. Sách ở dạng đặc biệt và yêu cầu máy chuyên dụng, được phát như là một phần trong dịch vụ và rất dễ sử dụng (dịch vụ này là một chọn lựa tốt cho mọi người cảm thấy khó khăn khi sử dụng băng cassette hay đĩa CD). Cần thiết có dịch vụ thư đặt hàng chọn trước cao lắm là 30 nhan đề và được cung cấp nếu chúng có sẵn hoặc thư viện sẽ chọn theo các sự đánh giá nhu cầu sử dụng trước đây. Mục đích này nhằm đảm bảo việc đọc liên tục thường xuyên tuy nhiên rất khó mà đáp ứng được hết mọi yêu cầu đặc biệt.

     

    Thành viên thì thường là những người có vấn đề thị lực theo điều kiện chấp nhận cho gửi bưu điện miễn phí. Đó là dịch vụ đăng ký sử dụng, nhiều thành viên được trả phí do Phòng dịch vụ xã hội chịu; một số thì thư viện địa phương sẽ trả (ví dụ ở Bắc Ailen) hay do tổ chức từ thiện địa phương chịu chi phí này. Ngân sách của các phòng dịch vụ xã hội trong những năm gần đây bị cắt giảm và ở diện xếp hàng chờ. Tuy nhiên giải pháp hiệu quả đầu tư để có thể cung cấp dịch vụ nhiều người sử dụng và đạt chất lượng cao cho người đọc trong đó phải có cả diện phục vụ tại nhà.

     

    Phí đăng ký cá nhân là £32 một người và £25 cho dịch vụ bưu điện hàng năm. Thỏa thuận mức độ sử dụng có thể thương lượng với thư viện tại địa phương đăng ký sử dụng tập thể. Có thể liên lạc qua Dịch vụ sách nói RNIB, PO Box 173,

    Peterborough PE2 6WS. Tel: 0845 762 6843. Fax: 01733 375555.

     

    Biên mục các tài liệu này bằng dạng chữ Braille, băng hay sách nói có trên cơ sở dữ liệu REVEAL. Vốn tài liệu chữ Braille và băng cassette có trên mục lục liện hợp quốc tế NLS tài liệu chữ Braille và băng cassette của Thư viện Quốc hội.

     

    Liên lạc: Dịch vụ Khách hàng, RNIB, PO Box 173,
    Peterborough PE2 6WS
    . Tel: 0845 702 3153 Minicom: 0345 585691
    Fax: 01733 371555 email: help@rnib.org.uk website: www.rnib.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.2. Thư viện Quốc gia dành cho người mù (NLB)

    Sứ mệnh của NLB là đảm bảo cho người khiếm thị sử dụng dịch vụ thư viện cũng như người sáng. Chú trọng nhiều đến tầm quan trọng của việc chọn lựa độc lập của họ.

     

    Là dịch vụ thông tin thư viện dẫn đầu phục vụ người khiếm thị, NLB làm việc với nhiều thư viện lớn để thúc đẩy các thực hành tốt nhất và tăng thêm giá trị cho dịch vụ dành cho người khiếm thị.

    NLB phối hợp với một số các thành viên ở Anh quốc (kể cả RNIB, ClearVision, Calibre và các dịch vụ thư viện trường đại học và công) và ở nước ngòai.

     

    Dịch vụ thư viện cho mượn tài liệu có vốn tài liệu Châu Âu lớn nhất bằng chữ Braille và Moon và cung cấp dịch vụ miễn phí trên tòan thế giới. Vốn tài liệu bao gồm tài liệu văn học và khoa học, cho người lớn và thiếu nhi và cả cho người đang học chữ Braille, hay cả vốn tài liệu nhạc bằng chữ Braille. Cũng có một vốn tài liệu nhỏ tài liệu khổ lớn và và băng sách nói.

    NLB giúp cá nhân chọn lựa theo nhu cầu đọc và độc lập bất cứ nơi đâu họ muốn. Các yêu cầu có thể liên lạc qua điện thoại hay qua trang web www.nlbuk.org.

     

    Trang web NLB truy cập đầy đủ và kể cả truy cập mục lục trực tuyến để chọn lựa và đặt sách, khu vực sách cho thanh thiếu niên, bảng thảo luận và tạp chí ‘Read On’. Thêm vào đó, trang web này có nhiều dịch vụ trực tuyến bao gồm sách điện tử và tài liệu tham khảo cũng như cổng thông tin cho người khiếm thị truy cập vào các trang web khác. Bao gồm các tính năng:

    a) Mục lục trực tuyến và tìm sách

    b) Thảo luận về nghiệp vụ thư viện  

    c) Hoạt động vận động đọc và viết trong khu dân cư

    d) Cổng thông tin cho người khiếm thị

    e) Góc chọn sách văn học cho thanh thiếu niên

    f) hướng dẫn thiết lập trang web truy cập được 

    g) sách điện tử
    h) dịch vụ tham khảo điện tử.

     

    NLB cung cấp cổng thông tin cho dịch vụ thư viện rộng lớn hơn cho người khiếm thị. Bằng cách phát triển mối quan hệ hợp tác với các cơ quan tổ chức trong và ngoài nước, NLB làm việc nhằm cung cấp cho người khiếm thị thêm nhiều sách và thông tin và dịch vụ theo hình thức tài liệu nào họ thích dùng.

     

    NLB cũng cung cấp Dịch vụ tập huấn và tư vấn truy cập cho thư viện, người cung cấp thông tin và các tổ chức khác mong muốn cải thiện việc truy cập dịch vụ của họ. Dịch vụ được cung cấp có thể bao gồm cả kiểm tra tính truy cập, tập huấn nhân viên, hỗ trợ công nghệ truy cập và giúp đỡ phục vụ tài liệu dạng thay thế.

     

    Xuất bản có cả tạp chí 'Read On', danh mục bổ sung 'New Reading' và bản tin  'Focus' supporters' (theo quý), bản tin 'NLB Research Bulletin' (hàng hai năm) và một 'Annual Review'.

     

    Liên hệ : National Library for the Blind, Far Cromwell Road,
    Stockport SK6 2SG

    Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098 Minicom: 0161 355 2043
    email: enquiries@nlbuk.org website: www.nlbuk.org


    Back to Chapter index
    17.1.3. CALIBRE (Thư viện băng cassette cho người mù và khuyết tật)

    Calibre là thư viện gửi băng sách nói qua đường bưu điện cho các thành viên trên 18,500 độc giả và kệ sách gồm 6,000 nhan đề (gồm khoảng 1000 sách thiếu nhi). Tất cả nhan đề này đều thu đầy đủ.

     

    Dịch vụ của Calibre chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu đọc giải trí. Vốn tài liệu có cả sách khoa học phổ thông như về tiểu sử và du lịch và cả sách văn học. Thành viên có thể chọn sách hoặc thích Calibre sẽ chọn sách cho họ dựa vào các sự chọn lựa trước đây của họ (đặc biệt là cho người khiếm thị cô đơn). Dịch vụ có nhiều tính năng độc nhất có thể truy cập cao:

    a) sách được ghi âm trong băng cassette 2 rãnh;

    b) thành viên là ai không thể đọc tài liệu chữ in và người mù và khiếm thị (trong đó có cả người khó khăn trong việc học và người mắc chứng khó đọc và cả người bị khuyết tật tạm thời);

    c) dịch vụ được cá nhân sử dụng miễn phí, có giấy xác nhận của bác sĩ để đảm bảo đủ điều kiện chấp thuận sử dụng dịch vụ.

     

    Dịch vụ đăng ký được cung cấp cho các tổ chức và cơ quan phục vụ người khuyết tật nhưng họ chỉ có thể mượn sách cho những khách hàng đủ điều kiện sử dụng dịch vụ của Calibre. Mục lục cho cả người lớn và trẻ em có ở dạng chữ lớn hay trên đĩa và toàn bộ mục lục có thể tra cứu trên trang web của Calibre. Người lớn thì có thể bị trả tiền dịch vụ nhưng với trẻ em thì được miễn phí. Calibre cũng hợp tác với tổ chức Share the Vision và đóng góp các biểu ghi cho tài liệu của họ vào cơ sở dữ liệu của REVEAL của những tài liệu dạng thay thế.

     

    Liên lạc: Calibre, Aylesbury, Buckinghamshire HP22 5XQ.
    Tel: 01296 432339 Fax: 01296 392599
    email: enquiries@calibre.org.uk website: www.calibre.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.4. ClearVision

    Thư viện này cho mượn qua bưu điện các sách thiếu nhi hình thức đôi với bản chữ Braille trên các trang nhựa rõ. Sách dành cho thiếu nhi khiếm thị chia sẻ việc đọc với gia đình hay bạn bè sáng mắt hoặc dành cho người lớn khiếm thị đọc cho trẻ sáng hoặc sử dụng trong giờ kể chuyện của thư viện. Có 3,500 nhan đề ở dạng  Braille cấp 1 hoặc cấp 2, và vốn tài liệu gồm có truyện tranh, sách bìa dày, văn học và thơ, sách thông tin đơn giản. Trong quan hệ hợp tác với Thư viện quốc gia của người mù, ClearVision hiện là nguồn chính để trẻ em đọc tài liệu chữ Braille vì các em chưa đến tuổi tự đọc.

     

    Thư viện có thể trao đổi sách đến 6 lần một năm. Phí đăng ký đến £40 một người. Tờ thông tin rơi có thể tư vấn cho việc sử dụng sách ClearVision trong thư viện và đề nghị cách thức sách có thể được tích hợp vào hệ thống

     

    Liên hệ: Marian Ripley, ClearVision, Linden Lodge School,
    61 Princes Way, London SW19 6JB.
    Tel: 020 8789 9575 email: info@clearvisionproject.org


    Back to Chapter index
    17.1.5. Share the Vision (STV)

    STV là một hiệp hội quốc gia hiện hữu để giúp đỡ cải thiện chất lượng và khả năng của dịch vụ thông tin thư viện phục vụ người khiếm thị. Là cộng sự của tổ chức có mặt là Calibre, Thư viện quốc gia dành cho người mù (NLB), Viện Hoàng Gia dành cho người mù (RNIB), Hội báo nói Anh quốc, Hội đồng Thông tin Thư viện Xcốtlen, Hội của Các cán bộ thư viện chủ chốt, Viện nghiên cứu chuyên gia thư viện, Hội đồng dịch vụ Thông tin thư viện Bắc Ai len, Hội đồng dịch vụ Thông tin thư viện Wales, Thư viện quốc gia Anh quốc, và Hội thư viện trường đại học cao đẳng.

     

    Thành lập vào năm 1990, STV hướng dẫn một chương trình rộng gồm các hoạt động thúc đẩy và khởi xướng phối hợp với các thành viên tổ chức. Bao gồm: hội thảo thúc đẩy, triển lãm, điều hành và hội nghị. Nó cũng khởi xướng và đóng góp nhiều chương trình nghiên cứu như  ‘Project Libra’ và ‘Testlab’ và ‘Accessible Library Partnership’;và cũng là nơi tiên phong đề xuất tính khả thi của  REVEAL, cơ sở dữ liệu quốc gia nguồn lực hình thức truy cập được.

    Năm 1999, Ủy ban Thông tin thư viện tiến hành hợp tác với STV để có thể đạt hiệu quả hoạt động từ nguồn quỹ £200,000 do DCMS tài trợ từ 1999/2000 “để đảm bảo là người mù và khiếm thị hưởng nhiều lợi ích hơn khi sử dụng các dịch vụ đọc và thư viện”. Điều này đạt được nhờ vào sự cố gắng không ngừng của Ban hợp tác làm việc LIC/STV để có đủ nguồn lực hình thành tổ chức mới vào năm 2000.

     

    Các xuất bản phẩm: Danh bạ các dịch vụ chuyển dạng (hết xuất bản)
    Dịch vụ thư viện dành cho người khiếm thị: hướng dẫn tòan quốc
    Bản tin STV – bản tin định kỳ và nói về vấn đề nhận thức về dịch vụ (ngừng phát hành kể từ số  39, Đông 2001)

     

    Liên hệ: Share the Vision, c/o National Library for the Blind,
    Far Cromwell Road, Bredbury, Stockport SK6 2SG.
    Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
    email: sharethevision@nlbuk.org.


    Back to Chapter index
    17.1.6. Hội báo nói Anh quốc (TNAUK)

    TNAUK là tổ chức thành viên của hơn 500 tờ báo địa phương. Nó cũng là nhà cung cấp chính các tờ báo địa phương và tạp chí phổ thông quốc gia cho người khiếm thị và những người cảm thấy “phải căng mắt ra mà đọc”. Những tờ này có thể đăng ký gửi bưu điện miễn phí cả bản rút gọn trên băng 2 rãnh và đĩa máy tính thu toàn bộ dạng ASCII, hay thư điện tử hay CD Rom. Chúng cũng có thể tài về từ bản tin của TNAUK. Phiên bản CD Rom cũng có thể chọn từ tiểu thuyết không còn in lại tải về từ Internet – trang web của Dự án Gutenberg – www.promo.net/pg/list.html

     

    Bên cạnh dịch vụ cung cấp trực tiếp đến người sử dụng, cả hai phiên bản sản phẩm âm thanh và tệp tin điện tử cũng được chuyển cho các thư viện bằng cách đăng ký với Dịch vụ Thư viện sách nói được điều hành bởi Công ty trách nhiệm hữu hạn báo nói. TNAUK cũng quan tâm đến việc thực hiện phạm vi nhỏ của các thư viện để khám phá và mở rộng việc phát triển dịch vụ của nó.

     

    Là một tổ chức thành viên, TNAUK cũng là nơi tập trung tư vấn cho các tổ chức tình nguyện địa phương tự lập để sản xuất thông tin địa phương trên băng. Nó cũng hỗ trợ và hợp tác qua tư vấn, tập huấn, hội nghị và hội họp. Nó cũng tiến hành dự án Sightline cung cấp trang thiết bị và tập huấn để làm cho báo nói địa phương cung cấp truy cập trực tuyến đến các dịch vụ văn bản điện tử.

    Xuất bản phẩm:
    Báo nói tòan quốc (hàng quý)
    Tntalk (địa chỉ thảo luận dành cho thư viện)
    Thực hành tốt dành cho báo nói

    Hướng dẫn dịch vụ sản xuất băng cho người tàn tật và khiếm thị (hàng năm)

     

    Liên lạc: Talking Newspaper Association UK, National Recording Centre, Heathfield TN21 8DB. Tel: 01435 866102 Fax: 01435 865422
    email: info@tnauk.org.uk website: www.tnauk.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.7. Hành động vì người mù (AFBP)

    Hành động vì người mù (tiền thân là Hội người mù Luân Đôn) là tổ chức từ thiện quốc gia đã có từ lâu làm việc với người mù và khiếm thị và vì họ đã hơn 145 năm. Tổ chức cung cấp nhiều dịch vụ và hỗ trợ đặc biệt là tạo việc làm cho người mù và khiếm thị. Những điều mà các thư viện nên quan tâm đến:

     

    Dịch vụ tư vấn thông tin của AFBP  
    Cung cấp thông tin về đủ các vấn đề liên quan đến khiếm thị, kể cả tư vấn về quyền lợi phúc lợi xã hội. Thông tin có ở dạng chữ lớn, Braille, chữ in chuẩn hoặc trên băng theo như yêu cầu. AFBP hiện đang làm việc với NLB để phát triển dịch vụ hỗ trợ một trạm– ‘Infolink’.

     

    Dịch vụ tư vấn và thông tin lưu động
    Điều hành qua một xe chuyên dụng cung cấp các nguồn lực di động và trung tâm tư vấn sắp xếp ghé thăm các thư viện, bệnh viện, trung tâm chăm sóc và bảo trợ và các địa điểm dừng chân trên xa lộ khắp nước Anh. Dịch vụ cung cấp thông tin về dịch vụ cho người mù và khiếm thị và các thông tin hỗ trợ, tư vấn và tập huấn. Có cả phần mô tả công nghệ truy cập thông tin. Dịch vụ lưu động được nhắm vào để hỗ trợ các sự kiện có liên quan như hội nghị và triển lãm.

     

    Liên lạc: The Information and Advice Centre, Action for Blind People,
    14-16 Verney Road, London SE16 3DZ.
    Tel: 020 7732 8771 Fax: 020 7639 0948


    Back to Chapter index
    17.1.8. Hiệp hội dịch vụ thông tin chuyển dạng (COTIS)

    Một tổ chức gồm nhiều nhóm đại diện những người khuyết tật và người sản xuất tài liệu chuyển dạng trong các khu vực thương mại, độc lập và có pháp nhân. Nó hỗ trợ và tư vấn cho việc sản xuất các thông tin chuyển dạng, xuất bản các hướng dẫn và bản tin ‘On track’ và tập huấn.

     

    Cũng có chương trình để giám sát và thúc đẩy chất lượng chuyển dạng và khuyến khích thực hành tốt trong đó có lập ra một bảng kiểm tra để giúp đỡ các nhà chuyển dạng căn cứ vào đó để đánh giá chất lượng sản phẩm của họ.  Bảng đánh giá và bản tin cũng có trên trang web của họ.  

     

    Liên hệ: COTIS, 67 High Street, Tarporley, Cheshire CW6 0DP
    Tel: 01829 733351 Fax: 01829 732408 website: www.cotis.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.9. Tiểu ban Thư viện cho người mù của IFLA

    Tồn tại để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển dịch vụ trên toàn cầu. Các lĩnh vực đặc biệt quan tâm là: biên mục và siêu dữ liệu, chia sẻ nguồn lực và xây dựng vốn tài liệu, ứng dụng và sử dụng Internet, phát triển sách nói kỹ thuật số, sản xuất chữ Braille điện tử, công nghệ thông tin và hệ thống thư viện, quản lý quyền lợi và bản quyền, quản lý và lập kế hoạch, quảng cáo và vận động ủng hộ. Các thành viên bao gồm các nhà cung ứng cấp quốc gia ở các nước phát triển. Bản tin một năm ra hai lần. Có các cuộc thảo luận tại một số tiểu ban của hội nghị IFLA hàng năm. Quy trình có tại: www.ifla.org/search/search.htm

     

    Liên hệ: Ms Rosemary Kavanagh, Canadian National Institute for the Blind, 1929 Bayview Avenue, TORONTO, Ontario M4G 3E8 Canada
    Tel: (00) 1 416 480 7521 Fax: (00) 1 416 480 7700
    email: kavanar@lib.cnib.ca


    Back to Chapter index
    17.1.10. Viện chuyên gia thông tin thư viện

    (CILIP) Thành lập vào tháng 4 năm 2002 với sự họp mặt của Hội thư viện và Viện chuyên gia thông tin. Với quan tâm về việc phát triển dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị. Ở Hội thư viện, cơ hội bình đẳng và các vấn đề liên quan có liên quan thông qua Tiểu ban cơ hội bình đẳng của Ủy ban dịch vụ giáo dục. Tư vấn chính sách, tổ chức hội thảo, và sản xuất một số các ấn bản như ‘Mọi người có thể sử dụng thư viện của bạn chưa? Dịch vụ thư viện cho người mù và khiếm thị”.

     

    Trong tổ chức mới, cơ hội bình đẳng được quy về trách nhiệm của Ban điều hành chính, nhưng bất cứ sự hỗ trợ hay tổ chức tư vấn hiện chưa được xác định làm rõ ràng.

     

    Liên hệ: Lindsay Rees-Jones
    Chartered Institute of Library and Information Professionals,
    7 Ridgmount Street, London WC1E 7AE.
    Tel: 020 7255 0635 email: lindsay.rees-jones@cilip.org.uk  website: www.cilip.org.uk

     

    Mạng lưới chăm sóc cộng đồng

    Là nhánh nhỏ của Nhóm Thư viện Sức khỏe, nhưng sẽ trở thành cơ quan độc lập, như là mạng thông tin truy cập, nó sẽ tiếp tục liên lạc với (xem 17.1.17).

     

    Nhóm dịch vụ cộng đồng

    Nhánh nhỏ của CILIP thúc đẩy bình đẳng xã hội khi ứng dụng vào dịch vụ thông tin thư viện. Dịch vụ cho người khiếm thị được đưa vào chương trình hội họp chuyên môn hay xuất bản ấn phẩm.

    Liên lạc: Annie Mauger, York Library, Museum Street, York YO1 2DS.
    Tel: 01904 655631 email: annie.mauger@york.gov.uk


    Back to Chapter index
    17.1.11. Sách nói

    Tổ chức từ thiện quốc gia chuyên gửi sách nói đến người sử dụng trên tòan Anh quốc đối với người không thể cầm sách được, hay không lật trang hay đọc được. Kể cả những người bị chứng khó đọc, ME, ung thư, đau tim, bị đột quỵ, xơ cứng mạch, viên khớp và chứng không kiểm soát được vận động. Có khoảng hơn 3,000 nhan đề về tiểu thuyết, du lịch, khoa học, chính trị và thơ v.v..

     

    Dịch vụ nhắm vào việc bổ sung Dịch vụ sách nói của RNIB phục vụ cho người bị khuyết tật đọc hơn là người khiếm thị. Việc thu băng trên cùng hình thức băng 6 rãnh và dùng cùng loại máy hát được cho người sử dụng mượn. Mục lục có thể tải về từ trang web. Phí đăng ký hàng năm là £50.

     

    Liên hệ: Listening Books, 12 Lant Street, London SE1 1QH
    Tel: 0207 407 9417 Fax: 0207 403 1377
    email: info@listening-books.org.uk website: www.listening-books.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.12. Bộ phận tăng cường khả năng thông tin

    Do Văn phòng trung tâm Thông tin thành lập để thúc đẩy việc truy cập thông tin đến với càng nhiều người sử dụng nếu có. Bộ phận này chỉ ra nhu cầu của người gặp khó khăn trong việc học, điếc hay khó nghe, những người cao tuổi bị mù hay khiếm thị.

     

    Liên lạc: Informability Unit, Central Office of Information, Hercules Road, London SE1 7DU
    Tel: 020 7261 8336 website: www.coi.gov.uk/whatwedo/informability.html


    Back to Chapter index
    17.1.13. Hội quốc gia của các tổ chức người khiếm thị địa phương (NALSVI)

    Hội từ thiện địa phương đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng và thường là nguồn lực cộng đồng quan trọng nhất của người khiếm thị. Nhiều hội lớn có nhiều dịch vụ như chức năng hồi phục, câu lạc bộ, chương trình liên lạc tại nhà, dịch vụ báo và sách nói, bộ sưu tập chữ lớn, phương tiện hỗ trợ nhược thị và trung tâm công nghệ thông tin hỗ trợ. Họ thường được Dịch vụ xã hội hỗ trợ, một số gửi kèm cả người công tác xã hội giúp đỡ. Nhiều thư viện có quan hệ chặt chẽ với hội địa phương, ví dụ Tameside, và có nội dung xem xét để tiến hành thỏa thuận hợp tác. Giá trị cụ thể là liên lạc với người khiếm thị. NALSVI là cơ quan thành viên quốc gia của các tổ chức từ thiện địa phương. Họ tổ chức các hội nghị hàng năm và xuất bản bản tin chữ lớn ‘NALSVI Link’.

     

    Liên hệ: National Association of Local Societies for the Visually Impaired

    593 Hitchin Road, Luton, Beds LU2 7UN Tel: 01525 378327


    Back to Chapter index
    17.1.14. Văn phòng Dịch vụ xã hội địa phương (SSD)

    Là cơ quan chính của phúc lợi xã hội, người khiếm thị được xác định cụ thể trong việc đánh giá nhu cầu và cung cấp dch vụ trực tiếp hay thông qua các hợp đồng. Nhiều phòng thuê nhân sự có kỹ năng và tập huấn đặc biệt. Họ là những nhân viên phục hồi để giúp người ta thích nghi với những thách thức của bệnh mù lòa, nhân viên tập vận động huấn luyện và tập vận động và nhân viên xã hội chịu trách nhiệm đánh giá, cung cấp thông tin về lợi ích và dịch vụ cho đối tượng biết.

     

    Các thư viện cần chú ý:

    Những người đăng ký là người mù và khiếm thị được văn phòng lưu hồ sơ để đánh giá nhu cầu và cải thiện dịch vụ tốt lên. Mặc dù không đủ số người (trung bình chỉ khỏang 1/3 người đăng ký) họ cũng có số người chính thường sử dụng dịch vụ thư viện để phản hồi ý kiến. (Người đăng ký được giữ bí mật hồ sơ và liên hệ qua SSD).

     

    SSDs cũng là nguồn chính của kinh phí địa phương đăng ký dịch vụ sách nói và tương tự. Họ cũng chịu trách nhiệm đánh giá nhu cầu sử dụng dịch vụ và cung cấp thông tin về nhiều dịch vụ hiện có. Trong một số trường hợp, các nhà quản lý thư viện thường được coi là cơ quan thích hợp hơn để làm chuyện này và cùng phối hợp với SSD để nhận lãnh trách nhiệm này. Một vài tổ chức (ví dụ Gloucestershire) đã thành công trong việc thoả thuận việc chuyển giao quỹ trong quá trình này.

     

    Liên lạc chặt chẽ với Phòng dịch vụ xã hội tại địa phương vì thế là cần thiết để khi lập kế họach và phát triển dịch vụ thư viện. Một số thư viện phối hợp công tác cung cấp thúc đẩy và chỉ dẫn thông tin dịch vụ. Các thư viện khác liên lạc với nhân viên SSD với mục đích thành lập các thành viên thư viện trong tương lai và phát triển định hướng chia sẻ.


    Back to Chapter index
    17.1.15. Cơ quan công nghệ và viễn thông giáo dục Anh quốc (BECTa)

    BECTa là cơ quan chính phủ dẫn đầu về công nghệ thông tin và viễn thông trong giáo dục. BECTa hỗ trợ cơ quan Chính phủ Anh và tổ chức quốc gia sử dụng và phát triển công nghệ thông tin viễn thông để nâng cao tiêu chuẩn, mở rộng truy cập, tăng cường kỹ năng và khuyến khích quản lý có hiệu quả. Là một phần trong vấn đề này, BECTa xác định cơ hội công nghệ thông tin viễn thông là để hòa nhập và đáp ứng được nhu cầu học tập của những người học trong điều kiện đặc biệt và đối với những người khuyết tật. BECTa xuất bản chủ yếu là thông tin trực tuyến về lĩnh vực này và cũng quản lý hàng loạt các hộp thư trao đổi, diễn đàn để có thể trao đổi ý kiến, thông tin và tư vấn. BECTa xây dựng trang web Inclusion, đại diện cho DfES, mục lục trực tuyến nguồn lực học tập để đáp ứng nhu cầu học tập của cá nhân (http://inclusion.ngfl.gov.uk).

     

    Một dự án nữa cũng do BECTa chủ trì là tạo trang web Nguồn lực giáo dục tiếp tục (FERL), đáp ứng nhu cầu học tập đặc biệt của học sinh và giáo viên trong chương trình đào tạo tiếp tục. Nó cũng có thông tin cho những người sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai. Có thể tìm thấy thông tin qua http://ferl.becta.org.uk

     

    Liên lạc: BECTa, Milburn Hill Road, Science Park,
    Coventry CV4 7JJ. Tel: 024 7641 6994 Fax: 024 7641 1418
    email: Becta@becta.org.uk website: www.becta.org.uk


    Back to Chapter index
    17.1.16. Ủy ban bảo vệ quyền lợi người khuyết tật (DRC)

    Cơ quan độc lập được thành lập theo Đạo luật của Quốc hội vào tháng 4 năm 2000. DRC có nhiệm vụ trong việc tăng cường thực hiện áp dụng Đạo luật chống phân biệt đối xử đối với người tàn tật (DDA) và giúp người tàn tật bảo vệ quyền của họ. Nó cũng giúp đỡ các tổ chức cơ quan muốn được tư vấn về vấn đề này. Đường dây trợ giúp của DRC Helpline cung cấp dịch vụ thông tin và tư vấn trên tòan quốc về vấn đề quyền và bình đẳng cho người khuyết tật. Nó được mở rộng cho cả cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.

     

    Liên lạc: Tel: 08457 622 633 Textphone: 08457 622 644
    email: enquiry@drc-gb.org website: www.drc-gb.org


    Back to Chapter index
    17.1.17. Mạng lưới truy cập

    Nhóm cải tổ cho nghiệp vụ thông tin thư viện cùng với khu vực chăm sóc cộng đồng và người khuyết tật. Trước đây là một nhóm chuyên đề trong Nhóm thư viện sức khỏe của Hội thư viện, hiện giờ trong mạng của CILIP. Nhắm vào việc “tăng cao khả năng truy cập dịch vụ vào công tác thông tin thư viện và thúc đẩy việc trao đổi thông tin và quan điểm”. Chủ động thúc đẩy dịch vụ cho người khiếm thị thông qua các chuyên đề hội thảo, hội nghị và xuất bản phẩm. Bản tin ‘Network news’ là nguồn thông tin hữu ích hiện nay tham khảo về người khuyết tật.

     

    Liên hệ: Linda Butler, Head of Performance Management, Birmingham Public Libraries, Central Library, Chamberlain Square, Birmingham B3 3HQ
    Tel: 0121 303 4402 Fax: 0121 233 9702
    email: linda.butler@birmingham.gov.uk


    Back to Chapter index
    17.2. Đọc và nghiên cứu

    Phần này cho các chi tiết dự án nghiên cứu liên quan cả về quá trình tiến hành và có cả các ấn bản liên quan đến dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị.

    Phần đầu tiên của liệt kê các báo cáo từ các dự án do LIC and Resource tài trợ trong chương trình hợp tác làm việc của LIC/Resource/STV. Những dự án này báo cáo thông tin chính trong các nghiên cứu gần đây có ảnh hưởng đến việc phát triển tốt hơn cơ sở hạ tầng cho dịch vụ của người khiếm thị.


    Back to Chapter index
    17.2.1. Báo cáo dự án hợp tác của LIC/STV

    Capital Planning Information. (March 2000). Chọn nhan đề tài liệu hợp tác chuyển dạng. CPI £19.95.

     

    Chapman, Ann. (December 1999). Tương lai của NUCAF và tính năng kỹ thuật của các yêu cầu siêu dữ liệu. UKOLN, University of Bath. www.ukoln.ac.uk/services/lic/sharethevision

     

    Chapman, Ann. (January 2000). REVEAL: cơ sở dữ liệu quốc gia về nguồn lực tài liệu chuyển dạng: báo cáo tóm lược. UKOLN, University of Bath.

     

    Davies, J Eric, Wisdom, Stella, Creaser, Claire. (2001). Mất ánh sáng nhưng không mất trí tuệ: viễn cảnh của người khuyết tật trong dịch vụ thông tin thư viện. LISU Occasional paper no.29. Library and Information Statistics Unit (LISU), Loughborough University. www.lboro.ac.uk/departments/dis/lisu/lisuhp.html

    Đây là tài liệu nói về kết quả của dự án nguồn lực trong đó có cuộc khảo sát toàn quốc về quan điểm và mong muốn hoạt động của người khiếm thị liên quan đến dịch vụ thông tin thư viện có thể đáp ứng được. Dựa vào kết quả phỏng vấn mở rộng, kết quả xác định nhu cầu dịch vụ thông tin và sự chọn lựa cái họ ưa thích cùng với các dữ kiện hiện đang cản trở tính công bằng truy cập. Thông tin có đăng trên trang web.

     

    HumanITy (directed by Kevin Carey). (March 2000). Củng cố việc truy cập dịch vụ cho người khiếm thị dựa vào công nghệ thông tin viễn thông. HumanITy. Dự án cho hàng loạt các báo cáo như sau:

    a) Nghiên cứu về khả năng truy cập của người mù và khiếm thị vào công nghệ thông tin và viễn thông, có những nguyên tắc chung và sự tham khảo chính dùng công nghệ cụ thể nào đó như máy tính cá nhân và các thiết bị khác như chuột/ bàn phím, hệ điều hành và các phần mềm  - Giáo sư Helen Petrie, Giám đốc Bộ phận Nghiên cứu người khuyết tật  (SDRU), Đại học Hertfordshire và Anne-Marie O’Neill, chuyên viên nghiên cứu của Bộ phận Nghiên cứu người khuyết tật  (SDRU), Đại học  Hertfordshire.

     

    b) Điều chỉnh hết mức cho giao diện đồ họa. Cái gì hiện nay đang có và những khuyến cáo đề nghị để thực hiện tốt hơn? – John Ravenscroft, Chuyên gia tư vấn, Khoa giáo dục đặc biệt và giáo dục bình đẳng, University of Edinburgh.

     

    c) Quy định” điều chỉnh hết mức có thể” và theo tiêu chí của Deliverable 2, những phần mềm và tính năng truy cập đặc biệt nào được yêu cầu để chuyển hóa dần khả năng có thể với khả năng truy cập hòan tòan? – Kevin Carey, Giám đốc, HumanITy.

     

    d) Truy cập mục lục trực tuyến trên web theo tiêu chí của WAI – GS. Helen Petrie và Anne-Marie O’Neill.

     

    e) Ứng dụng công nghệ tiên tiến nhất (điện thoại di động, truyền hình số) để giúp các người khiếm thị sử dụng dịch vụ thông tin thư viện thông qua dịch vụ tại chỗ và lưu động– Kevin Carey.

     

    f) Có nhiều lựa chọn để tổ chức các dịch vụ thư viện, xem dự án REVIEL, vai trò của Share the Vision (STV) và các nổ lực sắp xếp chia sẻ trách nhiệm của RNIB và NLB – Kevin Carey và GS. Peter Brophy.

     

    g) Nguyên tắc cơ bản của truy cập thông tin viễn thông cho người điếc và người gặp khó khăn trong khi nghe– Mary Brennan, Giảng viên, Bộ phận dạy đại học, Phòng giáo dục đăc biệt và bình đẳng, Đại học Edinburgh.

     

    h) Nguyên tắc cơ bản của truy cập thông tin viễn thông cho người khuyết tật học và vận động– TS. Geoffrey Busby, Giám đốc , GB Disability Services và Prof. Helen Petrie.

     

    i) Báo cáo tổng kết – Kevin Carey.

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi, and Creaser, Claire. (March 2000). Dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. Bộ phận thống kê thông tin và thư viện (LISU), Đại học Loughborough.

     

    Moore, Nick and Wallis, Margaret. (March 2000). Người khuyết tật và dịch vụ văn hóa: hưởng ứng chương trình Ban hợp tác Ủy ban Thông tin Thư viện/ Share The Vision. Acumen.

     

    Ryan, Deborah and Darter, Pat. (March 2000). Phát triển hệ thống mượn liên thư viện quốc gia tài liệu phục vụ người khiếm thị. Hệ thống thư viện khu vực Tây Bắc.

     

    Các báo cáo này hiện có trên trang web: www.resource.gov.uk hoặc www.lic.gov.uk

    Báo cáo của CPI và LISU (Kinnell và nh.ng.khác) cũng được cung cấp từ nhà xuất bản theo giá bản in ấn.

     

    Báo cáo của Chapman cũng có trên trang web của: www.ukoln.ac.uk/services/lic/sharethevision


    Back to Chapter index
    17.2.2. Nghiên cứu và tham khảo thêm

    Bell, Lorna. (1980). Sách chữ lớn và người sử dụng: một bản báo cáo cho Ban tài liệu của người khuyết tật của Hội thư viện.
    Tài liệu nghiên cứu toàn diện việc cung cấp sách chữ lớn và nhu cầu cũng như thông tin tham khảo về tiêu chuẩn.

     

    British Journal of Visual Impairment and Blindness Editor, 108 High Street, Hurstpierpoint, West Sussex BN6 9PX. Một năm 3 kỳ.
    Diễn đàn thảo luận nghiên cứu, vấn đề giáo dục và phúc lợi. Nguồn thông tin chính đăng các bài nghiên cứu và đánh giá nhận xét các ấn bản và kỹ thuật.

     

    Brophy, Peter and Craven, Jenny. (1999). Thư viện mạng tích hợp: mô hình dịch vụ thế kỷ 21. Báo cáo tổng kết về dự án REVIEL (Nguồn lực thư viện điện tử của người khiếm thị). Báo cáo nghiên cứu và cải thiện dịch vụ thư viện Anh quốc số 168. CERLIM, Manchester Metropolitan University.
    Báo cáo nghiên cứu thực hiện bởi CERLIM (Trung tâm nghiên cứu quản lý thông tin và thư viện) khuyến khích việc phát triển dịch vụ tập trung nguồn lực cả tài liệu điện tử lẫn truyền thống dạng chữ Braille, Moon và tài liệu nói.

     

    Bruce, I., McKennell, A., and Walker, E. (1991). Người khiếm thị và mù ở Anh: khảo sát của RNIB. Tập 1. London: HMSO.

     

    Walker, E., Tobin, M., and McKennell, A. (1992). Trẻ khiếm thị và mù ở Anh: khảo sát của RNIB. Tập 2. London: HMSO.
    Hai cuộc nghiên cứu tòan diện nhất về nhu cầu của người khiếm thị. Chúng có những phần quan trọng liên quan đến nhu cầu thông tin và đọc và vấn đề truy cập thông tin. Các khảo sát này hiện đang được cập nhất và được tái bản vào 2001.

     

    Bruce, Ian and Baker, Mark. (2001). Truy cập thông tin viết: quan điểm của 1.000 người khuyết tật. London: RNIB.
    Nghiên cứu diện rộng d
    ựa vào cuộc phỏng vấn trực tiếp nhân với người tự biết mình gặp khó khăn trong việc đọc chữ in. Báo cáo việc sử dụng chữ in, Braille, âm thanh, máy tính và hỗ trợ việc đọc trực tiếp với các số liệu biểu hiện bề rộng và phạm vi nhu cầu. Những lời đề nghị với các nhà cung ứng xử lý khai thác thông tin.

     

    Burrington, Gill. (2000). Xây dựng môi trường: thiết kế dịch vụ cho người khiếm thị. Phụ trương đặc biệt của STV. Bản tin STV, số 34 Mùa Thu năm 2000 tr. 47-55.

     

    Byrne, Michael and Kenny, Eileen. (1998). Xây dựng vốn tài liệu chữ lớn: báo cáo về dự án hợp tác giữa Thư viện Birmingham và nhóm Ulverscroft để kiểm tra kết quả sau khi cải thiện và tăng cường vốn tài liệu ở thư viện Birmingham. Hội đồng thành phố Birmingham, Phòng dịch vụ cộng đồng và giải trí và CT TNHH sách chữ lớn Ulverscroft.
    Mục đích của cuộc nghiên cứu để kiểm tra lại kết quả ảnh hưởng của việc mở rộng vốn tài liệu dựa vào việc cung cấp miễn phí ấn phẩm của Ulverscroft trong vòng hai năm. Kết quả cho thấy việc tăng đáng kể các nhóm tài liệu nổi trội và có sự tăng đáng kể số người sử dụng là những người không có vấn đề gì về thị lực. Sự thay đổi về chính sách chọn lựa tài liệu được ủng hộ cùng với việc viết lại chính sách luân chuyển tài liệu giữa các thư viện chi nhánh.

     

    Capital Planning Information Ltd. (2000). Hợp tác chọn lựa tài liệu chuyển dạng. Báo cáo tổng kết gửi đến Ủy ban Thông tin và Thư viện và tổ chức Share the Vision. CPI.
    Nghiên cứu toàn quốc về chính sách và thực hành của thư viện, tổ chức từ thiện tình nguyện và các tổ chức thương mại liên quan đến việc chọn lựa, sản xuất và bổ sung tài liệu hình thức chuyển dạng. Mục đích của việc nghiên cứu nhằm thúc đẩy việc hợp tác lâu dài để xây dựng vốn tài liệu dựa vào phân tích và nghiên cứu thị trường, các thực hành tốt nhất ở các thư viện, và nhu cầu của người sử dụng hiện tại và trong tương lai. Có cả lời khuyến nghị về xây dựng cơ chế chung của các tổ chức tình nguyện để tránh những nổ lực bị trùng lặp.

     

    Trung tâm Nghiên cứu quản lý thông tin thư viện -Centre for Research in Library and Information Management. (2001). TRUY CẬP: truy cập điện tử cho mọi người: nhận thức tạo dựng trang web cho thư viện trường đại học. Trung tâm Nghiên cứu quản lý thông tin thư viện (CERLIM), Đại học thủ đô Manchester. Một cuộc nghiên cứu định hình mức độ nhận thức về việc thiết kế một trang web truy cập được và nhận định cách sử dụng các phương pháp hiệu quả nhất ví dụ, các phương pháp các nhà thiết kế thích dùng và tại sao. Các phát hiện từ Thư viện Anh và dự án REVIEL. Báo cáo tổng kết và hướng dẫn thực hành tốt nhất có trên: www.dmag.org.uk/resources/casestudies/cravenfull.asp#1

     

    Trung tâm Nghiên cứu quản lý thông tin thư viện. (2001). NOVA: truy cập không cần nhìn vào thư viện điện tử: giao diện thư viện điện tử cho người mù và khiếm thị. CERLIM, Manchester Metropolitan University.
    Mục đích dự án: để xây dựng việc hiểu biết về cách tra cứu trong môi trường số, tham khảo cụ thể vào việc truy cập thông tin của người mù và khiếm thị. Dự án được tài trợ: Hội đồng Bảo tàng, Lưu trữ và Thư viện.

     

    Chapman, Ann. (1999). Dự án: xây dựng và bảo trì mục lục liên hợp tài liệu chuyển dạng (NUCAF). Phần A: Vai trò tương lai của NUCAF và các đặc tính kỹ thuật với các yêu cầu của siêu dữ liệu. UKOLN, Đại học của Bath, nghiên cứu của Ủy ban Thông tin Thư viện và tổ chức Share the Vision. www.ukoln.ac.uk/services/lic/sharethevision
    Khuyến khích phát triển xây dựng NUCAF như là cơ sở dữ liệu quốc gia và phương pháp truy cập.

     

    Chartres, Stephen. (1998). Nhu cầu đọc giải trí của người khiếm thị từ cộng đồng dân tộc thiểu số. RNIB và EMERGE (Nhóm nguồn lực và giáo dục bình đẳng cho người thiểu số).
    Nghiên cứu về nhu cầu thói quen đọc nhận thức và sử dụng sách nói và các dịch vụ đọc khác. Liên lạc: Thư viện nghiên cứu của RNIB.

     

    Chartres, S. (1999). Dịch vụ sách nói của RNIB: hiện trạng. RNIB.
    Đánh giá dịch vụ dựa vào hàng loạt các tư vấn do RNIB thực hiện từ 1996 đến 98. các phát hiện liên quan đến việc tăng trưởng sách nói thương mại, cải thiện dịch vụ thư viện, sử dụng Calibre, tham gia Dịch vụ xã hội, cắt giảm kinh phí địa phương dành cho dịch vụ, nhu cầu đọc của khách hàng hiện nay.

     

    Ủy ban Cộng đồng Châu Âu. (1993-94). EXLIB – Mở rộng dịch vụ thư viện cho người khiếm thị. www.svb.nl/project/exlib/exlib.htm
    Kết quả từ dự án hợp tác quốc tế do EEC tài trợ cho chương trình thư viện của Ủy ban Cộng đồng Châu Âu. Dự án được Thư viện sinh viên mù (SVB), Amsterdam và có cả khảo sát của thư viện, cán bộ thư viện và người sử dụng. Kết quả là hàng loạt các khuyến nghị về tiêu chuẩn mô hình thực hành dịch vụ. Có một loạt các báo cáo nói về sự đóng góp của các thành viên trong dự án:
    Vol. 1 Công nghệ (University of Bradford, 1993)
    Vol. 2 Thông tin viễn thông (1994)
    Vol. 3 Người sử dụng (SVB, 1994)
    Vol. 4 Thư viện (Danmarks BlindeBibliotek, 1993)
    Vol. 5 Cơ sở hạ tầng và ứng dụng (SVB, 1994)

     

    Ủy ban Cộng đồng Châu Âu. (1997-98). TESTLAB (Hệ thống kiểm tra sử dụng thông tin viễn thông phát triển dịch vụ thư viện cho người mù và khiếm thị). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv. htm
    Dự án do EEC tài trợ dựa vào hàng loạt thực hành thử nghiệm ở các thư viện công cộng và đại học để đánh giá yêu cầu của người mù và khiếm thị để có thể truy cập vào mục lục cũng như tài liệu dưới hình thức mà họ đọc được. Trong đó bao gồm cả việc lắp đặt các máy trạm ở bốn nước và 11 thư viện để cho phép bạn đọc khiếm thị và mù có thể sử dụng được mục lục, mạng thông tin, cơ sở dữ liệu và tài liệu điện tử. Các nước thành viên là: UK, Ai len, Hà Lan, Úc, Hy Lạp và Ý. Sự đóng ghóp về phía Anh là Dự án thử nghiệm mượn liên thư viện (PIP) dựa vào các bộ phận người khiếm thị ở thư viện Manchester và Tameside. Dự án được Thư viện sinh viên đại học dẫn đầu (SVB), Amsterdam và cho ra hơn 40 báo cáo có thể tham khảo trên trang web.

     

    Cooke, Madeleine and Moody, Ron. (1990). Sách chữ lớn bằng tiếng Châu Á: nhu cầu khách hàng những năm 1990s. Báo cáo nghiên cứu kỹ thuật và khảo sát thị trường tài trợ qua chương trình vận động phát triển thư viện công. Hội đồng Quận Leicestershire: Dịch vụ thư viện và thông tin.
    Báo cáo về điều tra kỹ thuật đưa đến việc sản xuất bốn thứ tiếng Bengali, Hindi, Punjabi và Urdu. Có cả việc phân tích dân số cộng đồng Á - Anh phân bố rãi rác trên toàn quốc và các khoản chi tiêu về việc in sách chữ lớn bằng tiếng Châu Á và thị trường tiêu thụ của thư viện trong tương lai.

     

    Corrigan, Linda. (2001). Liên lạc: báo cáo đánh giá dự án vận động đọc. Phụ trương đặc biệt của bản tin STV. STVnews, 38 Autumn 2001 pp.40-63.
    Đánh giá dự án hợp tác giữa e NLB, RNIB, Calibre và hệ thống mạng lưới thư viện công được thiết kế phục vụ cho người khiếm thị cơ hội lướt tìm được các tài liệu ở những hình thức họ thích đọc.

     

    Craddock, Peter. (1996). Dự án Libra: chung cấp và sử dụng thiết bị đọc cho người khiếm thị và khuyết tật đọc khác ở các thư viện công cộng của Anh quốc. Báo cáo nghiên cứu Thông tin thư viện 91. Thư viện Anh quốc.
    Kết quả của một cuộc nghiên cứu các dịch vụ thư viện công qua các cuộc phỏng vấn người mù và khiếm thị qua điện thoại, hai mẫu câu hỏi được gửi đến 130 nhà quản lý thư viện công và một bảng gửi đến các nhà sản xuất và phân phối thiết bị đọc.

     

    Craddock, Peter. (1985). Thư viện công và người mù: khảo sát đánh giá thực hành hiện nay. Báo cáo số 35 của Thông tin và thư viện. Thư viện Anh quốc.
    Khảo sát gần đây nhất về dịch vụ thư viện công ở Anh dành cho người khiếm thị.

     

    Liên đòan người mù Châu Âu. (1997). Tiến đến thế kỷ 21: yêu cầu của người sử dụng đối với thế hệ sách nói. Báo cáo của Ban Hợp tác chuyên gia Liên đoàn người mù Châu Âu về sách nói trong thế hệ sau. Liên đòan người mù Châu Âu

    Các đề nghị của các nhà cung ứng, sản xuất, phát triển thế hệ máy đọc công nghệ mới và dịch vụ theo quan điểm của người sử dụng.

     

    Dịch vụ Thư viện, Mỹ thuật và Bảo tàng Quận Gloucestershire. (1998). Dự án NKThị Gloucestershire: dịch vụ thư viện danh cho người khiếm thị, đánh giá dự án thử nghiệm của Share the Vision, RNIB và Dịch vụ Thư viện, Mỹ thuật và Bảo tàng Quận Gloucestershire. Hội đồng Thư viện Mỹ thuật và Bảo tàng Quận Gloucestershire.
    ISBN 1 899917241. 47pp.
    Ban hợp tác dự án RNIB/ Thư viện Gloucestershire đánh giá tính linh động của các dịch vụ thư viện phục vụ hòa nhập cung cấp sử dụng các tài liệu nói và các nguồn lực khác tại địa phương và quốc gia. Dự án do Phòng Thông tin kế hoạch thủ đô thực hiện đánh giá.

     

    Tạp chí người mù và khiếm thị. AFB Press, Tổ chức người mù Hoa Kỳ, 11 Penn Plaza, Suite 300, New York, NY 10001.
    Định kỳ phát hành hai tháng một số.
    Phản ánh các thông tin mới và điểm sơ qua các nghiên cứu và bài viết chuyên môn. Nghiên cứu trên phạm vi quốc tế nhưng chủ yếu là ở Hoa Kỳ là nguồn tham khảo chính.

     

    King, Angela. (1998). Thúc đẩy dịch vụ thư viện cho trẻ khiếm thị Tháng 1 – Tháng 3 năm 1998. Hội đồng thành phố Birmingham, Phòng dịch vụ cộng đồng và giải trí.
    Báo cáo về sự tham gia của trẻ khiếm thị trong các giờ kể chuyện và các hoạt động vận động khác và các yêu cầu để cải thiện việc truy cập vào dịch vụ.

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi, and Creaser, Claire. (2000). Dịch vụ thư viện công dành cho người khiếm thị: báo cáo cho Ủy ban thông tin Thư viện. Đại học Loughborough, Phòng Thống kê Thông tin Thư viện (LISU).
    Kết quả của việc đánh giá mức độ hiện nay của việc cung cấp dịch vụ trong các thư viện công cộng và cách họ thực hiện để theo đúng các Khuyến nghị hướng dẫn của Hội thư viện và tổ chức Share the Vision xuất bản.

     

    Hội thư viện, Phòng Thực hành nghiệp vụ. (1995). Mọi người có thể liên lạc với bạn không: dịch vụ thư viện cho người mù và khiếm thị. 7tr.
    Một trong những các loạt hướng dẫn để các thư viện nhận ra có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của những người gặp khó khăn khi sử dụng dịch vụ hòa nhập chung do các khuyết tật mà họ mang. Xác định những yếu tố cần thiết của việc phát triển dịch vụ và liệt kê ra các tổ chức và cũng như các ấn bản cần thiết để tham khảo.

     

    Machell, Jean. (1996). Dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị: hướng dẫn quốc gia. Hội thư viện/ Share the Vision.
    Tư vấn cho thư viện đại học và công cộng về cách thành lập dịch vụ thông tin thư viện thích hợp cho những người gặp khó khăn trong việc đọc chữ in. Các hướng dẫn này được Hội thư viện/ Share the Vision chấp thuận.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Infolink. www.nlbuk.org
    Đường đây trợ giúp người khiếm thị có nhu cầu về thông tin và tư vấn về dịch vụ và các lợi ích của thông tin với cuộc sống, giải trí và việc làm. Dự án thử nghiệm thực hiện bởi sự cộng tác của NLB và Hội vì người mù. Mục đích là để cung cấp nơi chuyên cung cấp tin và tư vấn qua sự cộng tác của các nhà cung cấp tin với nhau.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Điều tra dịch vụ thông tin thư viện cho người khiếm thị đang theo học đại học ở Anh. Nghiên cứu báo cáo việc thực hành hệin nay và các mô hình tốt nhất.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Ngày hội sách quốc gia đọc bằng cách sờ vào sách: báo cáo nguyên văn. NLB.
    Báo cáo về hội sách trong hai tuần do NLB và RNIB để xây dựng thúc đẩy hình ảnh chủ động tích cực và cách đọc bằng cách sờ vào sách và khuyến khích người ta học cách đọc bằng cách sờ vào tài liệu.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). NLB và bạn đọc trẻ. NLB.
    Khảo sát nhu cầu của bạn đọc NLB từ 15-16 tuổi. Các phát hiện cho thấy hầu hết các em đi học trường hoà nhập. Hầu hết các việc mượn tài liệu về nhà với sự giúp đỡ của phụ huynh. Chữ Braille bao giờ cũng là hình thức được ưa chuông nhất. Hầu hết các em thích đọc tài liệu điện tử như CD Rom, email, Internet. Nhiều nguồn lực thông tin khác lấy từ NLB – ClearVision, RNIB, trường và thư viện địa phương. Khảo sát nghiên cứu hợp tác giữa NLB/ Đại học Birmingham: Học sinh khiếm thị và sự chọn lựa dạng tài liệu đọc.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. Tạp chí nghiên cứu. Spiral.
    Hai lần một năm cập nhật về các dự án nghiên cứu hiện đang quan tâm đến nhà cung ứng dịch vụ cho người khiếm thị. Xuất bản chủ yếu cho các tổ chức thành viên và nhân viên của NLB.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Liên lạc. Dự án khảo sát cách thức liên lạc với người mù và khiếm thị để có thể giúp họ nói lên nhưng nhu cầu thông tin và đọc của mình. Dự án thực hiện ở Manchester và khu vực địa bàn xung quanh.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (1999). Visugate. Dự án hiện đang tiếp tục để có thể cung cấp nguồn lực tham khảo và thông tin trên Internet toàn diện và miễn phí về tất cả các vấn đề của người khiếm thị từ một điểm truy cập trang web duy nhất. NLB đang phát triển dự án với các nhà cung cấp khác như Hành động vì người mù, Báo Anh của Người khiếm thị, Âm thanh, Trung tâm chăm sóc mắt quốc tế, Khoa Giáo dục của đại học, NALSVI, RNIB, Share the Vision, Scottish Sensory Centre and Talking Eyes.

     

    Thư viện quốc gia cho người mù. (2001).
    Mở rộng phục vụ: dịch vụ thư viện cho người khiếm thị trong cộng đồng thiểu số. Phụ trương đặc biệt của bản tin STV. STVnews, 36 Spring 2001 pp.41-63.

     

    New Beacon. RNIB, 105 Judd Street, London WC1H 9NE
    Hàng tháng (trừ tháng Tám).
    Nguồn thông tin tòan diện nhất về các sự kiện và vấn đề hiện nay về người khiếm thị. Có cả các bài báo chuyên sâu, báo cáo sự kiện, đánh giá công nghệ, liên lạc lẫn cáo phó. Có nhiều nhà cung ứng đăng tin kể cả các phòng ban của RNIB. Cho đăng miễn phí thông báo các sự kiện sắp diễn ra.

     

    Tài liệu mới về người khiếm thị. Thư viện tham khảo RNIB,
    105 Judd Street, London WC1H 9NE. Hai lần trong tháng.
    Chỉ mục, danh mục báo tạp chí được thư viện tham khảo RNIB mua. Hình thức này đang dự định tiến đến việc hình thành dịch vụ đăng ký sử dụng.

     

    Owen, David. (March 2000). Làm sao để có 11.76 xu một năm liên tục. Bản tin nghiên cứu Thông tin và Thư viện. Tháng 3 năm 2000, tr 18-19.
    Mô tả ngắn gọn về chương trình dự án và nghiên cứu của LIC/STV.

     

    Page, Geraldine. (1990). Dịch vụ thư viện công cộng và người khiếm thị chưa đăng ký là người mù: một cuộc nghiên cứu được nộp như bản phụ kèm theo yêu cầu tốt nghiệp của thạc sĩ thư viện. Đại học Sheffield.
    Nghiên cứu so sánh về việc sử dụng thư viện của người mù và khiếm thị ở thư viện Sheffield và Rotherham và việc sử dụng thư viện đã ảnh hưởng đến người khiếm thị ngay từ đầu.

     

    Hội cấp giấy phép xuất bản. (2001). Người khiếm thị sử dụng sách báo và tạp chí. Publishers Licensing Society Ltd.
    5 Dryden Street, London WX2E 9NB. Tel. 020 7829 8486.
    e-mail: info@pls.org.uk website: www.pls.org.uk.
    Chi tiết điều kiện luật pháp cho một người bị khuyết tật đọc hay các cơ quan đại diện cho họ có quyền sao chép và chuyển dạng xuất bản phầm.

     

    Rawsthorne, L. (1990). Sách chữ lớn và thư viện công cộng. Tạp chí thư viện công cộng 5(1) Jan. 1990, pp. 19-24.
    Tóm tắt kết quả khảo sát việc cung cấp sách chữ lớn ở 38 thư viện ở Anh và xứ Wales (1988). Cả người đọc và thư viện nhìn chung là thỏa mãn với những gì được cung cấp, nhưng các thư viện vẫn chưa thể cung cấp đủ sách và không có mục lục thích hợp cũng như tài liệu tham khảo chữ lớn.

     

    Resource. (2001). Tài liệu tham khảo về người tàn tật cho phòng trưng bày và bảo tàng.
    Resource. 183 tr. Tờ rời đóng tập.
    Hướng dẫn phòng trưng bày và bảo tàng cách cải thiện dịch vụ phục vụ cho mọi đối tượng khuyết tật. Nó đề ra các nguyên tắc để hứơng các thực hành tốt nhất đi vào quỹ đạo, cho những lời khuyên thiết thực và địa chỉ cần thiết để liên lạc. Bản sao ở dạng thay thế có thể cung cấp theo yêu cầu.
    Liên lạc: Resource, 16 Queen's Anne's Gate, London SW1H 9AA.
    Tel. 020 7273 1444 website: www.resource.gov.uk

     

    Resource. (2001). Khảo sát việc phục vụ người khuyết tật cho bảo tàng, lưu trữ và thư viện. Resource.
    Báo cáo mẫu điều tra khảo sát mẫu gồm 340 tổ chức ở Anh quốc. Kết quả nghiên cứu góp phần xây dựng chính sách hoà nhập và xây dựng phương pháp đánh giá khả năng sử dụng bảo tàng, lưu trữ và thư viện. Báo cáo khảo sát hiện trạng không đồng đều thực hiện công tác phục vụ tư vấn tập huấn. Trên trang web về nguồn lực có đăng bản báo cáo đầy đủ.

     

    RNIB. (1997). Tổ chức quốc tế cho người mù và khiếm thị. RNIB.
    Niên giám tổ chức và dịch vụ theo danh mục quốc gia, tổ chức đa quốc gia và các nhà sản xuất.

     

    RNIB. (1999). Tri thức cho mọi người? RNIB.
    Chiến lược của RNIB là khuyến khích các trường học đảm bảo trẻ bị vấn đề thị lực nghiêm trọng sẽ được hưởng lợi ích từ chính sách giáo dục của chính phủ. Chiến lược được vạch ra từ việc tư vấn cho các tổ chức giáo dục, dịch vụ cho người khiếm thị và các trường hoà nhập và những trường đặc biệt.

     

    RNIB. (2000). Định hình cho tương lai: khảo sát đối tượng thanh thiếu nhi mù và khiếm thị ở Anh. 6 tập. Có cả bảng báo cáo tóm lược. London: RNIB.
    Báo cáo kết quả khảo sát hơn 1000 trẻ mù và khiếm thị cùng với phụ huynh của trẻ bị đa khuyết. Các đề nghị đưa ra như truy cập bình đẳng thông tin trên sách, bài giảng bằng nhiều hình thức, tập huấn nâng cao nhận thức cho giáo viên, những thay đổi trong luật bản quyền để khắc phục những rào cản của dịch vụ chuyển dạng, có những tiêu chuẩn tốt hơn cho công tác giáo dục hội nhập.

     

    RNIB. (1998). Tổ chức của Anh quốc dành cho người mù và khiếm thị. 6th. edition. RNIB.
    Niên giám Tổ chức của Anh quốc dành cho người mù và khiếm thị. Có các tổ chức từ địa phương đến trung ương kèm theo chi tiết các dịch vụ. Sắp xếp theo bốn khu vực tổ chức Anh quốc, dịch vụ xã hội và chính phủ, nhà sản xuất và phân phối, tổ chức đa quốc gia. Nguồn tài liệu tham khảo cần thiết cho các thư viện, có ở dạng bản in, chữ Braille và đĩa. RNIB cũng bảo trì các CSDL trên web của nước ngoài và ở Anh quốc.

    ‘Tổ chức cho người mù và khiếm thị’ cung cấp thông tin về tổ chức của và cho người mù trên khắp thế giới. Thông tin dựa trên sự phản hồi các bảng câu hỏi và mô tả về các tổ chức. Được cập nhật trước khi phát hành. www.rnib.org.uk/linksite/visimp.htm

     

    Ryan, Deborah and Darter, Pat. (2000). Xây dựng hệ thống mượn liên thư viện cho tài liệu cho người khiếm thị. Ủy ban Thông tin Thư viện, Research report 60.
    Xây dựng hệ thống mượn liên thư viện để đảm bảo người khiếm thị truy cập vào được tất cả các nguồn lực có thể. Có cả sự phối hợp giữa các nhà cung ứng dịch vụ và tổ chức quốc gia: RNIB, Calibre, TNAUK, NLB và các tổ chức liên quan khác.

     

    Diễn đàn thông tin người khuyết tật Xcốt-len. (1999). Tiêu chuẩn cung cấp tư vấn và thông tin người khuyết tật Xcốt-len. Scottish Consumer Council, có dạng chữ lớn, chữ Braille, băng, đĩa và CD Rom.
    Scottish Consumer Council, SAIF, 100 Queen Street, Glasgow G1 3DN.
    Tel. 0141 226 5261 email: SCC@scotconsumer.org.uk
    website: www.connections.gcal.ac.uk/saif

     

    Share the Vision. (1991-2001). Bản tin STV. Hàng quý  dạng in, Braille, băng và đĩa. (Đình bản kể từ số 39, Winter 2001).
    Bản tin và thông tin hiện tại đặc biệt dành cho nhân viên ngành thông tin thư viện. Liệt kê các xuất bản phẩm dành cho người khiếm thị, ở các dạng thích hợp, các dự án nghiên cứu và chủ trương chính sách mới, tập huấn và phát triển nghề nghiệp, các sự kiện sắp diễn ra và các trang web có liên quan.

     

    Shaw, Alison. (1969). Chữ in cho người khiếm thị: báo cáo cho Ban trong Hội thư viện phụ trách sách cho người khiếm thị  Library Association.
    Báo cáo cuộc điều tra những ảnh hưởng tính dễ đọc của kiểu thiết kế, trọng lượng, kích thước và khổ cỡ chữ. Mặc dù đã cũ, nhưng nó vẫn đảm bảo tính chuẩn của các tiêu chí rõ ràng dành cho chữ lớn.

     

    Kỹ năng: Văn phòng thông tin cho sinh viên khuyết tật. www.skill.org.uk.
    Thông tin liên quan đến tất cả các loại khuyết tật trong giáo dục đại học: “cải thiện môi trường vật lý cho tất cả sinh viên khuyết tật”.
    Skill đã biên soạn ‘Danh bạ các nguồn lực: cải thiện phục vụ cho sinh viên khuyết tật”, có đăng trên www.equipservices.hefce.ac.uk/ResDir/Intro.htm
    Danh bạ có nguồn thông tin về trang thiết bị điện tử do các trường đại học và cao đẳng ở Anh cung cấp thông tin. Một ví dụ hữu ích khác là “Sổ tay cho nhân viên phục vụ hỗ trợ người khiếm thị trong thư viện” do Ủy ban truy cập, Trung tâm khuyết tật hợp tác giữa các trường ở Manchester.

     

    White, P.J. editor. (2001). Tài liệu hướng dẫn hỗ trợ người mù và điếc: tư vấn và thông tin thực hành cho người hỗ trợ người điếc và mù.
    Hứơng dẫn thực hành cho đủ các nhu cầu khác nhau của người vừa mù vừa điếc. Đề tài đề cập đến cộng đồng, sức khỏe, vấn đề đi lại, sinh hoạt hàng ngày và truy cập thông tin.
    Hội ng
    ười mù và điếc Anh quốc Deafblind UK, 100, Bridge St., Peterborough PE1 1DY
    Voice/textphone: 01733 358100 Fax: 01733 358356
    email: info@deafblinduk.org.uk website: www.deafblinduk.org.uk
    24 hour helpline: 0800 13 23 20


    Back to Chapter index
    17.3. Tập huấn về phục vụ công bằng và nhận thức về người khuyết tật

    Có nhiều cơ quan tổ chức tập huấn như hội người mù địa phương, các tổ chức địa phương khác, tổ chức trong khu vực và quốc gia và các cơ quan tư vấn độc lập. Nhiều khóa học do những chuyên gia có kinh nghiệm về người khiếm thị. Tập huấn có thể kết hợp với nâng cao nhận thức và phục vụ công bằng cho mọi người nói chung và người khuyết tật nói riêng. Một số cơ quan có chương trình tập huấn tại chỗ tùy theo dịch vụ mà thư viện có. Danh mục sau có cả ấn phẩm liên quan chương trình tập huấn và một số cơ quan có các khóa giới thiệu thư viện.

     

    Burrington Partnership. (1999). Hiểu biết về người khuyết tật: khóa tập huấn hai ngày cho khu vực thông tin thư viện. Burrington Partnership Publishing, 33 Green Courts, Bowdon, Altrincham, Cheshire WA14 2SR. Tel/ Fax: 0161 928 6240 email: BurringtonandCo@aol.com
    Nâng cao nhận thức và hứơng dẫn về Đạo luật chống phân biệt đối xử với người khuyết tật 1995, Phần III (Sử dụng dịch vụ, sản phẩm và trang thiết bị). Burrington Partnership cũng có chương trình  tập huấn thích hợp cho người mù và khiếm thị  và thực hiện các đánh giá kiểm tra khuyết tật về di chuyển cũng như giác quan

     

    Bộ Y tế. (2001).
    Khóa học cho người tập huấn khiếm thính hay người bị khiếm khuyết cả hai giác quan
    Ấn bản in lần thứ 7.
    Social Care Group 6B, Area 228, Department of Health, Wellington House, 133-155 Waterloo Road, London SE1 8UJ. Tel: 020 7972 4121
    Nguồn thông tin chủ yếu về các khóa cho các nhân viên trung tâm phục hồi hay cho những người cần khóa học tổng quan kiến thức về người khiếm thị, khiếm thính và người vừa mù vừa điếc. Danh bạ này có thông tin của người tập huấn. Tải miễn phí từ www.doh.gov.uk/scg/deafblind.htm

     

    Diversity UK. (serial). Danh bạ: hứơng dẫn phục vụ bình đẳng và đa dạng. 17th edition, April 2000. 135pp. ISSN 1358-7978. Diversity UK,
    3 Abbey Square, Turvey, Bedford MK43 8DJ.
    Danh bạ các nhà tư vấn chuyên về vấn đề bình đẳng và đa nhu cầu. Chi tiết cho biết khoảng 104 cơ quan tư vấn, 80 nơi trong số đó tạo cơ hội bình đẳng và 53 tổ chức liên quan đến phục vụ người khuyết tật. Xuất bản hai lần hàng năm. Chữ in rõ cỡ 14.

     

    Hội Julie Ryder
    Tập huấn vấn đề người khuyết tật kể cả đạo luật chống phân biệt. Danh bạ dịch vụ người khuyết tật địa phương, tư vấn về lập kế hoạch dịch vụ và theo dõi giám sát thực hiện công tác. Bộ phận tư vấn có liên kết mạnh với những công việc truy cập ở các thư viện công cộng. Liên hệ: Julie Ryder Associates, Holmbury, Wheeler Lane, Witley, Surrey GU8 5QU. Tel: 01428 683448
    email: julie.ryder@lineone.net

     

    Diễn đàn thông tin quốc gia. (1997). Làm thế nào để cung cấp thông tin được tốt: chương trình tập huấn. Diễn đàn thông tin quốc gia, BT Burne House,
    Post Point 10/11, Bell Street, London NW1 5BZ. Tel. 020 7402 6681
    Fax. 020 7402 1259 email: info@nif.org.uk website: www.nif.org.uk Hướng dẫn tập huấn chương trình khóa học 1 ngày.

     

    Diễn đàn thông tin quốc gia. (1992). Nhu cầu cần biết.
    Chương trình tập huấn bằng băng hình mô tả những khó khăn của người khuyết tật càng bị nặng nề thêm là do sự thiếu hiểu biết về nhu cầu của người khiếm thị rộng hơn người khác thiết tưởng. Sử dụng những bối cảnh trong nhà và trong các trung tâm y tế. Băng hình quay trong 32 phút và được đóng kèm chung với sổ tay hướng dẫn của người tập huấn (được cập nhật vào năm 1998).

     

    Dịch vụ tập huấn và tư vấn truy cập NLB (ACTS)
    Tập huấn cho các thư viện, nhà cung cấp thông tin và các tổ chức khác, những người muốn cải thiện khả năng truy cập của dịch vụ. Dịch vụ có cả phần đánh giá khả năng truy cập, tập huấn nhân viên, hộ trợ công nghệ truy cập và giúp cung cấp tài liệu chuyển dạng.

    Thư viện quốc gia dành cho người mù cũng tập huấn miễn phí cho các thư viện cách sử dụng các dịch vụ trên trang web của NLB.  Chương trình tập huấn được thiết kế để đảm bảo nhân viên thư viện có thể hỗ trợ người đọc khiếm thị sử dụng các trang web và phần mềm, biết chọn sách và sử dụng các dịch vụ của NLB. Tập huấn được phối hợp cùng với 10 tổ chức thư viện là: Bradford, East Riding of Yorkshire, Essex, Gloucestershire, Islington, Kirklees, Lancashire, Manchester, Oxfordshire, Tameside.
    Reader Advice Manager, National Library for the Blind, Far Cromwell Road, Bredbury, Stockport SK6 2SG. Tel: 0161 355 2000 Fax: 0161 355 2098
    email: enquiries@nlbuk.org. website: www.nlbuk.org

     

    Hội Playforth
    Cung cấp các chương trình tập huấn về phục vụ, nghiên cứu và tư vấn cho các khu vực tình nguyện, tư nhân và công cộng bình đẳng. Các khoá học tạo cơ hội cho “các cá nhân cảm thấy được giá trị, khám phá và phát triển tiềm năng của mình”. Tư vấn cho các tổ chức trong việc xây dựng các chiến lược bình đẳng có cả nhận thức về bệnh điếc và mù. Do các chuyên gia bị khuyết tật điều phối và quản lý. Playforth Associates, 3 Marine Parade, Seaford, East Sussex BN25 2PL. Tel: 01323 899615 Fax: 01323 899462 email: splayforth@aol.com

     

    Tập huấn về bình đẳng/nhận thức về khuyết tật RADAR
    RADAR, 12 City Forum, 250 City Road, London EC1V 8AF
    Tel: 020 7250 3222 Fax: 020 7250 0212 website: www.radar.org.uk
    Tờ tin về chương trình Tập huấn về bình đẳng/nhận thức về khuyết tật trong đó là một danh mục chọn lọc những cơ quan đơn vị nào tổ chức tập huấn.

     

    RNIB. Tập huấn nhận thức .
    Chương trình RNIB tập huấn cho các thư viện chăm sóc khách hàng. Khóa học nhằm vào việc bồi dưỡng kỹ năng và xây dựng lòng tự tin để phục vụ người mù và khiếm thị có cả kiến thức hiểu về DDA. Tập huấn người cộng sự- tập huấn nhận thức. Dịch vụ thông tin công cộng, RNIB.

     

    Đại học Surrey, Trường nghiên cứu giáo dục
    Liên kết với Surrey Phab, cung cấp các khoá học về đảm bảo bình đẳng cho người khuyết tật.
    Contact: Surrey Phab, Felbury House, Holmbury St Mary, Nr. Dorking, Surrey. Tel. 01306 730929


    Back to Chapter index
    17.4. Công nghệ hỗ trợ

    AbilityNet
    Tư vấn và tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật cho người khuyết tật sử dụng máy tính ở trường, chỗ làm và ở nhà có những phần mềm và phần cứng thích hợp để điều chỉnh.
    Abilitynet, PO Box 94, Warwick CV34 5WS Helpline (UK) 0800 269545
    Tel: 01926 312847 Fax: 01926 407425 email: enquiries@abilitynet.co.uk

     

    Abledata website: www.abledata.com/Site_2/project.htm
    Cung cấp thông tin về công nghệ hỗ trợ và thiết bị phục hồi từ các nguồn trong và ngoài nước đến các khách hàng, tổ chức, người làm dịch vụ chăm sóc ở Mỹ. Cơ sở dữ liệu có hơn 19,000 sản phẩm công nghệ hỗ trợ có đầy đủ chi tiết về nhà sản xuất, sản phẩm và giá cả. Viện nghiên cứu phục hồi và khuyết tật quốc gia tài trợ.

     

    Hội Máy tính Anh quốc. (2000). DDA truy cập cho tất cả: hướng dẫn thực hành cho các nhà quản lý doanh nghiệp và chuyên gia. Phòng xuất bản, Hội Máy tính Anh quốc, Freepost, Swindon,
    Wiltshire SN1 1BR.
    Tổng quát trình bày về đạo luật được viết thành dạng hỏi đáp rõ ràng và súc tích. Cần quan tâm đến là phần thiết bị công nghệ thông tin chuyên dụng – ‘Khai thác công nghệ thông tin: yêu cầu của khả năng sử dụng thông tin và công nghệ viễn thông đối với người khuyết tật’.

     

    Nhóm máy tính hội khuyết tật Anh quốc

    Thúc đẩy công nghệ thông tin cho các dạng người khuyết tật. Mục đích chính của nhóm là mô tả cho các nhân viên và công chúng biết được là CNTT là công cụ để mang tới bình đẳng trong sở làm.
    BCS Disability Group, GEC Computer Services Ltd, Great Baddow, Chelmsford CM2 8HN. Tel: 01245 473331 Fax: 01245 475244

     

    Trang web đăng bản in điện tử truy cập được: www.e-accessibility.com
    Bản tin có dạng thư điện tử và trên web. Phản ánh tất cả các vấn đề liên quan đến việc sử dụng thông tin và công nghệ viễn thông của những người mù và khiếm thị, kể cả việc phát triển ở Châu âu và trong nước.

     

    HumanITy
    Đăng ký là đơn vị từ thiện tư vấn về công nghệ thông tin viễn thông và hòa nhập xã hội. Tham gia vào các dự án nghiên cứu thư viện, như  ExLib, cố vấn TESTLAB cho Văn phòng nội các chính phủ Anh  , Phòng Thương mại và Công nghiệp (DTI), Phòng Giáo dục và Việc làm (DfEE), và Nguồn lực. HumanITy, 112a High Street, Hurstpierpoint,
    West Sussex BN6 9PX Tel: 01273 834821 Fax: 01273 833744
    email: humanity@atlas.co.uk

     

    Thư viện cho người mù. (1999). Công nghệ truy cập, hướng dẫn thực hành: đến nơi nào và làm được gì. Phụ trương đặc biệt của STV. Bản tin STV, 31 1999, pp.39-50

     

    Trung tâm nghiên cứu giáo dục cho người khiếm thị (RCEVH). Dùng thiết bị trợ thị trong các trường hòa nhập hỗ trợ người khiếm thị.
    Hướng dẫn cho phụ huynh và giáo viên của trẻ bị khiếm thị. RCEVH được biết như là VICTAR (Trung tâm khiếm thị dành cho giảng dạy và nghiên cứu), School of Education, University of Birmingham, Edgbaston, Birmingham B15 2TT Tel: 0121 414 6733.

     

    RNIB. (2001). Công nghệ truy cập: dùng công nghệ hỗ trợ cơ hội học tập và việc làm cho người khiếm thị. RNIB. 148 trang ISBN 1 85878 517 0. Tài liệu dạng in hay đĩa.
    Thông tin và nguồn lực về công nghệ cho người khiếm thị trong tổ chức giáo dục, sở làm, học tập suốt đời và ở nhà.

     

    Trung tâm nguồn lực (London, Belfast, Edinburgh)
    Có lẽ đây là nơi có nguồn thông tin lớn nhất về công nghệ, sản phẩm thiết bị hiện có. Có cả những loại đặc biệt trong công nghệ hỗ trợ, đặc biệt là trung tâm nguồn lực Luân Đôn ở Judd Street (xem mục 17.1.1).

     

    RNIB TiLE: Công nghệ thông tin ứng dụng trong học tập và làm việc. Bộ phận này dựa trên Coventry, cung cấp các dịch vụ sau:

    a) dịch vụ thông tin công nghệ cho công chúng và các chuyên gia, kể cả những ấn phẩm, tờ tin, trang web và đặt hàng yêu cầu thông tin;

    b) tư vấn hỗ trợ cho các cơ quan giáo dục, người thuê lao động, xây dựng phần mềm, chính phủ và các tổ chức khác, để truy cập công nghệ được thích hợp xây dựng và thực hiện để đảm bảo cho người khiếm thị biểu hiện hết năng lực học tập và làm việc của mình;

    c) đóng góp vào việc xây dựng chính sách và chiến lược công nghệ của RNIB, dựa vào việc liên hệ thường xuyên với các tổ chức và cá nhân.

    Văn phòng phát triển CNTTVT của Anh, RNIB Công nghệ thông tin ứng dụng trong học tập và làm việc, c/o Exhall Grange School, Wheelwright Lane, Ash Green, Coventry CV7 9HP Tel: 024 7636 9500 Fax: 024 7636 9501
    email: technology@rnib.org.uk website: www.rnib.org.uk/technology

     

    RNIB. (1999). Trang web hoạt động. Pacifica Films của WAI, RNIB và bộ phận nghiên cứu khuyết tật giác quan (SDRU) ở Đại học Hertfordshire. Tư vấn cho các nhà thiết kế trang web, ban lãnh đạo địa phương và các tổ chức cách thức làm trang web được người mù và khiếm thị truy cập được nhiều hơn.

     

    TechDis website: www.techdis.ac.uk
    nguồn tư vấn và thông tin chính cho cộng đồng đại học và sau đại học. Tập trung vào việc sử dụng CNTTVT và cách thức liên hệ với nhưng khó khăn trong việc học hay do khuyết tật. Nó duy trì ”cơ sở dữ liệu truy cập được” có hơn 2,500 sản phẩm của công nghệ hỗ trợ, công nghệ thích ứng và công nghệ trợ giúp.
    TechDis là Ủy ban hệ thống hợp tác thông tin (JISC) tài trợ dịch vụ và thay thế trang web của DISinHE trước đây. TechDis, Genesis 3, Innovation Way, York Science Park, Heslington, York YO10 5DQ
    email: helpdesk@techdis.ac.uk

     

    Tiresias website: www.tiresias.org
    Nguồn thông tin cho các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực khiếm thị. Phần chủ yếu trên trang web thông tin danh bạ kỹ thuật (kèm cả giá cả) của hơn 1400 thiết bị hỗ trợ hiện có, có cả liên kết đến các nhà cung ứng. Các khu vực khác cung cấp danh bạ của các tổ chức quốc tế, chương trình dự án đang thực hiện, nguồn quỹ cho nghiên cứu và danh bạ báo tạp chí dành cho người khiếm thị.

     

    VISTEL. (1998). Hướng dẫn thiết kế trang màn hình và âm thanh trên web để giúp người khiếm thị truy cập được. (biên tập John Gill), RNIB cho  VISTEL. (cũng có trên: www.rnib.org.uk/wedo/research/sru/sruhome.htm). Tư vấn cho những người gặp khó khăn trong việc thiết kế giao diện màn hình và âm thành cho người mù. Những điểm chính trong các yếu tố thiết kế sẽ cải thiện việc sử dụng cho người mù. Vistel là một dự án EC Telematics (Bộ phận người cao tuổi và khuyết tật).


    Back to Chapter index
    17.5. Thông tin truy cập được

    Phần này bao gồm mục lục danh mục các nhà xuất bản tài liệu thay thế và cơ quan quan phát hành phân phối cùng với các hướng dẫn chuyển dạng.

     

    Dịch vụ thông tin Camden. (2001).
    danh bạ nhà xuất bản tờ rời. Ấn bản lần thứ 13.
    Danh bạ có hơn 360 nhà cung cấp tài liệu dạng rời. tài liệu về quyền của người khuyết tật, nhà cửa, tư vấn khách hàng, quyền lợi xã hội, tiền bạc, luật pháp và sức khỏe.
    Sắp xếp theo thứ tự chữ cái theo chủ đề và chỉ mục ngôn ngữ cộng đồng. Chi tiết về các tổ chức xuất bản ấn phẩm dạng thay thế (Braille, chữ lớn và băng) và cung cấp cả địa chỉ trang web và email.  (Dịch vụ thông tin Camden cũng điều hành tổ chức tờ rời Frills– dịch vụ đăng ký hàng tháng thông tin về tài liệu mới, ấn bản mới và tờ rời, và cũng tư vấn giúp đỡ cách tổ chức vốn tài liệu tờ rời).
    Liên lạc: Frills Leaflet Service, Camden Information Services,
    Crowndale Centre, 218 Eversholt Street, London. NW1 1BD
    Tel: 020 7911 1656 Fax: 020 7911 1566

     

    Confederation of Transcribed Information Services (COTIS). www.cotis.org.uk
    Hướng dẫn (Một tập hướng dẫn sản xuất băng).

    Kỹ thuật thu âm: Thủ thuật lắp đặt và sử dụng thiết bị.

    Trình bày: Thủ thuật đọc văn bản.

    Kỹ năng đọc: Thủ thuật tăng âm cho giọng đọc thu trên băng.

    Phát hành: Thủ thuật phát hành sản phẩm.

    Đọc tài liệu máy tính: đọc tài liệu về máy tính.

    Xử lý bảng biểu, đồ họa, biểu đồ v.v.: Thủ thuật trình bày tài liệu hình ảnh phức tạp.
    Dán nhãn và đóng gói băng cassette: Thủ thuật về việc dán nhãn và đóng gói băng cassette cho người sử dụng và thư viện.

     

    Liên hiệp dịch vụ chuyển dạng thông tin (COTIS). Huấn luyện đọc: hợp tác với Edward Kelsey, “Joe Grundy” của Archers và thông thạo xử lý âm thanh, về bí quyết làm sao để thu âm hay. Băng hướng dẫn 70-phút và bộ sách hướng dẫn đọc thông tin trên băng.

     

    Craddock, Peter, editor. (2000). Thư viện và báo nói. Phụ trương đặc biệt STVnews. STVnews, 35 Winter 2000 pp.45-63.

     

    Frith, Jackie and Home, Sarah. (2001). Chữ Braille và thư viện. Phụ trương đặc biệt STVnews. STVnews, 39 Winter 2001 pp.48-63.

     

    Gregory, Wendy. (1996). Cẩm nang khả năng thông tin: làm thông tin có thể truy cập theo hứơng dẫn của DDA. Văn phòng thông tin trung ương, HMS0. Hướng dẫn thực hành toàn diện.

     

    Thư viện Quốc hội Mỹ, Dịch vụ Thư viện quốc gia. Mục lục liên hợp quốc gia tài liệu chữ Braille và âm thanh.
    Có khỏang250,000 nhan đề tài liệu ở Mỹ, Canada, Úc, New Zealand và Anh (RNIB trừ sách băng 6 rãnh). Có thể tra cứu qua trang web trực tuuyến của TV quốc gia và còn có dạng vi phim và CD. RNIB được coi là cơ quan mượn liên thư viện của Anh.
    Liên hệ: Cán bộ thư viện nước ngòai. Dịch vụ mạng lưới, Dịch vụ thư viện quốc gia cho người mù và khuyết tật, Thư viện Quốc hội Mỹ,
    1291 Taylor Street NW, Washington, DC 20542 USA.
    website: www.loc.gov/nls/web-blnd

     

    McLachlan, Neil. (1997). Hội báo nói Anh quốc: truy cập báo và tạp chí của người khiếm thị. www.ariadne.ac.uk/issue10/tnauk
    Mô tả công tác và sản phẩm điện tử của Hội báo nói Anh quốc (TNAUK).

     

    Thư viện quốc gia của người mù. (1999). Đọc bằng cách sờ vào tài liệu: làm thế nào để bắt đầu. Thông tin và tư vấn về các tờ rời nói về chữ Braille và Moon và hướng dẫn cách học, đọc và viết những dạng này. Hợp tác xuất bản với RNIB để hỗ trợ Ngày hội đọc đặc biệt toàn quốc.

     

    Thu âm cho người mù và chứng loạn chữ.
    Tổ chức của Mỹ có hơn 75,000 tài liệu học và ở dạng băng âm thanh. Liên lạc: RFBD, 20 Roszel Road, Princeton, NJ 08540 USA.
    Tel: (00) 1 800 221 4792 Fax: (00) 1 609 987 8116
    email: custserv@rfbd.org website www.rfbd.org

     

    RNIB. Sách truy cập.
    Sách dạng điện tử (3.5 disk) có các tính năng đọc màn hình và hệ thống tổng hợp giọng đọc. Cũng có dạng chữ lớn (từ cỡ 16pt trở lên). (Mẫu có trên trang web của RNIB).

     

    RNIB. Chương trình mua bán và mượn bằng hình cho độc giả của RNIB. Băng hình mượn có thể mua bán khi so sánh giữa chi phí mượn và giá bán. Mục lục bằng các dạng Braille, chữ lớn, băng cassette).

     

    RNIB. Chương trình mua sách băng, cho người khiếm thị qua RNIB.

     

    RNIB. Băng âm nhạc hay các vở hát. Trang thông tin dạng chữ lớn. Chữ Braille hay băng cassette.

     

    RNIB. Lướt nhanh. Xuất bản hàng tháng thông báo vốn tài liệu của các nhà cung cấp tài liệu nơi nào mà bán hay cho mượn hoặc cả hai. Có cả tài liệu của Calibre, NLB, RNIB, Báo chữ nổi Xcốt-len. Cũng có tài liệu chữ lớn và sách nói của Chivers, Ulverscroft, và Isis Audio.

     

    RNIB. Tin tức dành cho bạn. Hàng qúy đánh giá các lần ra băng thông tin của các tổ chức công cộng, tư nhân và tình nguyện. Chia ra thành nhiều chủ đề: kinh doanh, sức khỏe, nhà ở, v.v. Mô tả vắn tắt nội dung, địa chỉ liên lạc và số điện thọai. Ấn phẩm phát miễn phí, bằng chữ Braille, băng, đĩa hay in ấn.

     

    RNIB. Spotlight. Danh mục chú giải phát hành hàng tháng các tài liệu thay thế cho người khiếm thị. Có nhan đề mới từ khu vực kinh doanh và tình nguyện: NLB, Báo Braille Xcốtlen, Calibre, RNIB, Chivers,
    Ulverscroft và Isis. Liệt kê đủ các loại hình tài liệu thay thế.

     

    RNIB. (1997). Truy cập. Mục lục các danh mục dịch vụ và sản phẩm cho người vừa mù vừa điếc. Có thông tin về ngày lễ, giải trí, lợi ích và dịch vụ chăm sóc hỗ trợ. Tài liệu chữ lớn, chữ Braille, băng hay đĩa.

     

    RNIB. (1999). Để đọc rõ hơn. Tư vấn cho các nhà làm sách thiếu nhi và thiết kế sách về cách thức làm sách rõ và dễ đọc cho trẻ có vấn đề nghiêm trọng về thị lực. Các đặc điểm thiết kế như độ tương phản màu sắc, cỡ chữ và tranh minh họa. Được Vụ giáo dục và việc làm bảo hộ và cho Hội nhà xuất bản tài trợ.

     

    RNIB. (2001). Thông tin đọc được. Hướng dẫn các nhà cung cấp thông tin phương pháp làm cho thông tin truy cập được. Tư vấn giúp họ theo đúng các yêu cầu của DDA.

     

    Sacre, James, biên tập. (2000). Chữ lớn. Phụ trương đặc biệt STVnews. STVnews, 33 Summer 2001 pp.32-46.
    Làm rõ xu hướng hiện nay cũng như các vấn đề và đánh giá sự quan trọng của việc cung cấp tài liệu chữ lớn trong các thư viện.

     

    Speaking volumes (Trung tâm người mù ở Bắc Ai - len).
    Dự án hợp tác của 5 hội đồng thư viện và giáo dục làm chữ viết Ailen chuyển thành dạng băng phục vụ cho người khiếm thị ở các thư viện công cộng. Các nghệ sĩ ở đó được mời để tham gia đọc. Deane Houston, Chief Executive, Blind Centre, 126 Bloomfield Avenue, Belfast BT5 5AE
    Tel: 028 9050 0999 Fax: 028 9050 0999
    email: blindcentre@northernirelandhq.freeserve.co.uk

     

    Hội báo nói Anh quốc. (1996). Thực hành tốt để làm báo nói.
    Hướng dẫn việc thành lập, quản lý và yêu cầu tổ chức của một tờ báo nói địa phương. Nhưng nhiều nội dung rất ích cho các thư viện và các nhà cung ứng dịch vụ khác để sản xuất băng từ cũng như các loại sản phẩm khác. Cũng có kế hoạch và các đặc trưng kỹ thuật cho một phòng thu âm.

     

    Hội báo nói Anh quốc. (hàng năm). Hướng dẫn dịch vụ cung cấp băng cho người mù và khuyết tật. Danh bạ các báo và tạp chí Anh quốc và các nhà sản xuất. Có cả danh mục các thư viện lưu trữ xuất bản phẩm TNAUK.

     

    Công ty TNHH báo nói (TNEL).
    Mục đích kinh doanh của TNAUK là tạo ra nguồn quỹ cung cấp cho hoạt động các tổ chức từ thiện trong nước. Nhưng nó cũng tồn tại để hướng xa hơn mục đích của TNAUK là để tạo ra một thị trường xuất bản phẩm thay thế có thực, bằng không thì có thể sẽ không tồn tại. Sản phẩm chính là chuyển dạng băng cassette cho thông tin về khách hàng và cộng đồng của các tổ chức phát ngôn khác kể cả cơ quan thông tin, công cộng, hay kinh doanh hay người buôn bán lẻ. Những xuất bản phẩm được phân phát miễn phí hay có thể tính tiền cho người khiếm thị thông qua mạng lưới báo nói địa phương, thư viện và các cơ quan tổ chức địa phương khác.
    Liên hệ: Talking Newspaper Association UK, National Recording Centre,
    10 Browning Road, Heathfield, E. Sussex TN21 8DB. Tel: 01435 866102 Fax: 01435 865422 email: info@tnauk.org.uk website: www.tnauk.org.uk

     

    TNAUK. Tntalk. Danh mục địa chỉ liên lạc những người và đơn vị cung cấp báo nói. Chủ trì là TNAUK (Hội báo nói Anh quốc). Liên hệ đăng ký: http://groups.yahoo.com/group/TNTALK


    Back to Chapter index
    17.6. Các thư viện phục vụ tốt nhất

    Khi phát triển các dịch vụ thư viện cách thực hành chung nhất là các thư viện rút ra được bài học kinh nghiệm và kiến thức của các thư viện khác. Đây là giá trị cụ thể trong trong lĩnh vực phục vụ đặc biệt dành cho người khiếm thị và có các thư viện ở Anh thực hành có thể tổng kết lại được nhiều mô hình thực hành thư viện tốt mặc dù không phải là tất cả.

     

    Phần này rút ra những thực hành tốt nhất mà các thư viện hiện có. Một bảng đánh giá ngắn gọn về các trang thiết bị, các loại hình dịch vụ hiệu quả và tòan diện và số thư viện được trích dẫn với những thế mạnh riêng khác nhau. Không thể bao quát hết thấu đáo mọi nơi và cũng xin các nơi khác vui lòng đề nghị bổ sung để đưa thông tin thêm về những địa chỉ mới. Phiên bản web của cẩm nang này có mục bản tin, và ban biên soạn rất vui lòng đón nhận thông tin đóng góp bổ sung của các quý vị.


    Back to Chapter index
    17.6.1. Thư viện trường đại học

    Là một bộ phận của các cơ quan giáo dục đại học, việc hỗ trợ cho sinh viên và nhân viên khiếm thị trong thư viện trường đại học thường được quản lý khác với thư viện công cộng. Thư viện sẽ hình thành một phần nào trong chính sách chung hỗ trợ người khuyết tật để tạo ra môi trường học tập công bằng. Một số dịch vụ liên quan đến việc sử dụng thư viện không nhất thiết nằm trong quyền điều hành của riêng thư viện.

     

    Nhiều viện giáo dục đại học quan tâm đến những điều khoản mà Hội đồng Quỹ giáo dục đại học (HEFC) đề cập về những điều kiện tối thiểu cần có cho sinh viên khuyết tật (HEFC, 1999). Trong đó có tuyên bố chính sách, dịch vụ hỗ trợ và chiến lược phục vụ cho đối tượng sinh viên này. Trong đó có cả hàng loạt các nhu cầu cần phải đưa ra như: chính sách quản trị, định hướng và tư vấn, vấn đề truy cập sử dụng dịch vụ. Được chuyển sang lĩnh vực dịch vụ của thư viện, có thể là:

     

    a) tổ chức đội ngũ người dạy kèm và điều phối nhân sự dạy kèm;
    b)bài giảng và bài tập của dạy kèm ở dạng thay thế;
    c) tư vấn về kỹ thuật học nào thích hơn;
    d) hướng dẫn giảng dạy cho giảng viên về nhu cầu của sinh viên khiếm thị đặc biệt là hướng dẫn học và danh mục đọc, làm cho chúng ở dạng đọc được và chuẩn bị khoản thời gian cần thiết để chờ dịch vụ chuyển dạng xử lý;
    e) hỗ trợ kiểm tra mục lục, định vị và tra cứu tài liệu trên kệ, hay sao chụp tài liệu;
    f) tập huấn nhận thức về người khuyết tật cho nhân viên thư viện kể cả việc đọc chữ Braille;
    g) chuyển dạng tài liệu thành nhiều hình thức: Braille, chữ lớn, băng tiếng, biểu đồ dạng nổi, đĩa máy tính;
    h) chuẩn bị người đọc trực tiếp;
    i) cung cấp thiết bị đọc – máy quét có đầu ra là giọng nói và hệ thống phóng to văn bản;
    j) cung cấp máy trạm có cài các chương trình công nghệ hỗ trợ để truy cập mục lục thư viện;
    k) hình thức truy cập vào mạng lưới trường đại học.


    Back to Chapter index
    17.6.1.1. Trường dạy nghề RNIB, Loughborough

    Đây là trường dành riêng cho học viên mù và khiếm thị có nhiều khoá học dành cho người nghỉ học để học lại tiếp lên cao. Trường cộng tác với một trường đại học hòa nhập đó là đại học, Loughborough; nó cũng chia một giảng đường với Đại học Loughborough. Được coi là thực hành tốt nhất, là một trường chuyên biệt, Loughborough có tiêu chuẩn riêng biệt và theo dõi các thực hành của các trường khác để thi đua nhau làm tốt hơn.

     

    Hỗ trợ cho sinh viên: chương trình giới thiệu, chuơng trình dạy kèm, tập huấn sử dụng máy tính 1-1, dịch vụ hỗ trợ người khiếm thị chung.

     

    Luôn chú trọng đến việc ứng dụng CNTT, tập huấn và cập nhật công nghệ tiên tiến. Sinh viên luôn được hướng vào việc sử dụng máy tính phóng to ký tự, dùng máy đọc màn hình hay chữ Braille cùng với các thiết bị để ghi bài và sử dụng tài liệu in khác. Sinh viên cũng có thể mua máy tính xách tay, máy đọc để dùng bên ngoài lớp học.

     

    Trường cũng có một đội chuyển dạng sản xuất các tài liệu học tập ở dạng được thích dùng. Dịch vụ cũng cung cấp bài kiểm tra hay đề cương bài giảng kèm với bản in thường. Bài ghi chép trên lớp cũng có thể nhận chuyển dạng. Trung tâm học liệu cũng được diễn tả như “khu vực học tập tiện ích” để độc lập nghiên cứu và phát triển hêm một số kỹ năng ngoài giờ học. Nó bao gồm cả việc truy cập máy tính nối CCTV, máy ghi băng, máy quét, CD Rom, Internet và một nhan đề báo nói. Tài liệu chuyển dạng có thể mượn tại Trung tâm tài liệu. Thêm nữa, Trung tâm có dịch vụ phục vụ đọc cho cá nhân và nhóm tình nguyện viên thu băng bài giảng


    Back to Chapter index
    17.6.1.2. Trường Đại học Lancashire (UCLAN)

    Xét về nhiều phương diện, thư viện của UCLAN nhiều năm qua là trung tâm hỗ trợ cho sinh viên và nhân viên khiếm thị. Là trung tâm hỗ trợ cho đối tượng đặc biệt này tại trường. Nhiều hỗ trợ được do Phòng Học liệu đặc biệt (SLRU) đặt tại tầng trệt của trường. Dịch vụ gồm có:

     

    a) chuyển dạng tài liệu thư viện thành một dạng thích hợp (Braille, chữ lớn, biểu đồ nổi, và, đĩa máy tính);
    b) sắp xếp tài liệu để ghi thành băng;
    c) tổ chức nhóm tình nguyện đọc cho cá nhân;
    d) phục vụ thiết bị đọc (máy quét mà đầu ra là tiếng nói) và hệ thống phóng to chữ;
    e) cung cấp máy trạm tra cứu mục lục và mạng máy tính với đầu ra là tiếng nói hay màn hình lớn.


    Back to Chapter index
    17.6.1.3. Đại học Leeds

    Đặc trưng của Leeds là việc phối hợp lâu năm với Dịch vụ chuyển dạng của RNIB để phục vụ chuyển dạng tài liệu của thư viện thành dạng chữ Braille, chữ lớn hay băng cassette. Trung tâm cũng hình thành một phần dây chuyền trong dịch vụ chuyển dạng trong khu vực của RNIB cung cấp dịch vụ chuyển dạng trong nước và khu vực để đáp ứng nhu cầu của sinh viên và người khiếm thị nói chung.


    Back to Chapter index
    17.6.1.4. Đại học Sunderland

    Trường này cam kết cải thiện tăng cường việc truy cập cho người khuyết tật và người gặp khó khăn trong việc học. Có ban tư vấn khuyết tật báo cáo trực tiếp với Ban lãnh đạo nhà trường để được chấp thuận quyết định và hợp tác thực hiện. Ban làm việc cho người khuyết tật chú trọng nhiều đến xây dựng chính sách thảo luận báo cáo cho Phòng Cơ hội học tập bình đẳng của trường. Tạo ra vai trò quan trọng cho trường – tổ chức hỗ trợ dạy kèm và có ban đại diện cho người khuyết tật trong thư viện và một số các dịch vụ chính khác.

     

    Cải thiện việc truy cập cho người khuyết tật là ưu tiên chính trong dịch vụ thông tin thư viện. Tuyên bố của thư viện, hướng dẫn sử dụng nguồn lực và trang web nêu rõ cơ chế hỗ trợ. Thành viên quản lý cao cấp có trách nhiệm cụ thể về dịch vụ của người khuyết tật (phải dành ra một ngày trong tuần để làm việc này), và phân công người chịu trách nhiệm cho từng khu vực. Nhận thức về người khuyết tật là phần tổng hòa chung với chương trình chăm sóc khách hàng cho tòan thể nhân viên, và giao tiếp với người khiếm thị kể cả bằng ký tự của người mù. Công nghệ hỗ trợ (phóng to và làm ra âm thanh) được ưu tiên phục vụ cho người khuyết tật. Cả hai loại ấn phẩm đều được chú ý đến các yếu tố đó kể dạng web hay in ấn. Có chương trình đem sách đến các thư viện truy cập được, hay gửi về nhà hay mượn liên thư viện và chuyển dạng thành chữ Braille hay phóng to, giới thiệu hay đọc cho từng cá nhân. Cải thiện tòa nhà xây dựng như cửa cầu thang, đánh dấu cửa, ánh sáng và đổi chỉnh màu.


    Back to Chapter index
    17.6.1.5. Đại học Swansea

    Swansea cho biết đã đầu tư đáng kể vào việc hỗ trợ dịch vụ cho sinh viên khiếm thị. Như đại học Leeds có Trung tâm ghi âm cho người mù (RFB) với ba phòng thu tiêu chuẩn cao có các máy thu âm và micro chuyên nghiệp. Giống với việc sản xuất băng, Trung tâm cũng có dịch vụ tạo chữ Braille và chữ lớn. Tài liệu có thể làm bằng chữ của xứ Wales và hầu hết là theo một số ngôn ngữ chính của Châu Âu. Thêm vào đó, có trung tâm học đặc biệt cho người khiếm thị với các máy quét văn bản, chế bản chữ Braille và máy đọc sách nói.

     

    Thư viện chính có máy đọc CCTV, sử dụng máy tính co đầu đọc CD Rom và máy tính đặc biệt cho người khuyết tật/ nhu cầu đặc biệt. Có thể cho mượn máy thu âm ghi bài nếu sinh viên có yêu cầu. Cán bộ quản lý thư viện có trách nhiệm để hỗ trợ cho sinh viên đối tượng này.

     

    Các tiện nghi sinh hoạt cho sinh viên đặc biệt được thiết kế cho phù hợp với họ và có chỗ ở cho cả những chú chó dẫn đường của họ. Giảng đường được thiết kế có những đường dẫn nổi và tập huấn đi lại nếu sinh viên cần.


    Back to Chapter index
    17.6.2. Thư viện công cộng

    So với khu vực đại học, thư viện công cộng tự lập hơn cho việc lập kế hoạch phục vụ cho người khiếm thị mặc dù thường thì theo tiêu chí chung của chính sách của địa phương là tạo cơ hội bình đẳng cho mọi công dân.

     

    Cuộc nghiên cứu chỉ ra là nhiều quản lý thư viện thừa nhận là nhu cầu của đối tượng đặc biệt này rất đa dạng (Craddock, 1996), (Kinnell et al, 2000). Các dịch vụ như trung tâm CNTT, chuyển dạng tài liệu, dịch vụ cho mượn tài liệu chữ lớn, băng và dịch vụ gửi sách nói qua đường bưu điện. Có một số thư viện được công nhận là có mô hình hoạt động rất tốt. Những thư viện sau được coi là có những nét đặc trưng và chuẩn dịch vụ tốt. Tuy nhiên cũng thấy rõ là nhu cầu người khiếm thị trong chương trình xây dựng thư viện đang ngày càng phát triển rộng rãi hơn, thúc đẩy việc ứng dụng thực hiện các chính sách hoà nhập xã hội và các điều kiện mà DDA đề ra. Cụ thể là việc phát triển CNTTVT được định hướng bởi một mạng lưới và CNTT ngày càng cải thiện tốt hơn việc truy cập bình đẳng thông tin cho tất cả. Có rất nhiều ví dụ để thấy toàn cảnh việc phân phối dịch vụ ở Bắc Ailen được trình bày ở mục 17.6.2.7.


    Back to Chapter index
    17.6.2.1. Thư viện Quận Essex

    Dịch vụ thư viện Essex cho người khiếm thị được đánh giá là mẫu điển hình cho thư viện quận trong nhiều năm qua đã cung cấp nhiều dịch vụ đa dạng theo cách chủ động và có trách nhiệm. Trong đó có cả dịch vụ gửi băng cassette – cho 2,000 người sử dụng ở Essex, Southend và Thurrock. Cũng có dịch vụ sử dụng miễn phí băng sách, băng hình có thuyết minh hình ảnh và cả CD cho người khiếm thị và có khuyết tật đọc ở các thư viện.

     

    Cải thiện việc truy cập vào CNTTVT bằng cách cài các chương trình phóng to màn hình. Thư viện cũng đi đầu trong việc hướng dẫn và lập chuẩn cho việc cung cấp các tài liệu thay thế trong khu cộng đồng quận nói chung.

     

    Những chương trình gần đây có cả việc lôi kéo người mù và các hoạt động thảo luận nói chuyện sách, như chương trình đọc sách chữ lớn, bản tin liên kết khu dân cư bằng chữ lớn, thu băng hay chia nhóm đọc.


    Back to Chapter index
    17.6.2.2. Thư viện Gateshead

    Chú ý là dịch vụ AIRS (Sử dụng dịch vụ thông tin thư viện) của thư viện này đã có từ nhiều năm nay. Mục đích của AIRS là cung cấp đủ mọi dạng thông tin truy cập được. Có cả nhật báo nói do chính nhân viên tòa soạn thực hiện, sản xuất băng sách nói cho thiếu nhi, dịch vụ chuyển dạng cho việc cung cấp thông tin cá nhân theo dạng thay thế, thiết bị sao chụp nhanh và thu băng theo yêu cầu khách hàng. Như là trung tâm chuyển dạng tập trung, Gateshead được coi là chuyên gia trong lĩnh vực này. Cơ quan này cũng tư vấn và tham vấn về các khía cạnh trong việc chuyển dạng tài liệu kể cả chuyện viết kịch bản, biên tập, thu băng và phân phối.

     

    Thế mạnh đặc biệt của dịch vụ là thuê cả người khuyết tật làm việc, so với lúc mới hình thành số người này đã lên hơn 50%. Kết quả này đã giúp làm rõ thêm chính sách cho người khiếm thị và khuyết tật và nhu cầu của độc giả thư viện.


    Back to Chapter index
    17.6.2.3. Thư viện Quận Gloucestershire

    Là một địa chỉ có những thực hành tốt, Gloucestershire có kinh nghiệm đánh giá việc phục vụ và thành lập dịch vụ sách nói trong khuôn khổ của một dự án nghiên cứu. Bao gồm vấn đề sắp xếp với Phòng dịch vụ xã hội về vấn đề trách nhiệm và tạo vốn để sử dụng các dịch vụ toàn quốc đặc biệt là dịch vụ sách nói của RNIB. Nó cũng bao gồm thực hành tư vấn cho NKT và định ra chính sách chung cho việc phát triển dịch vụ trong tòan quận. Yếu tố chính của dịch vụ mới là việc phát hành dịch vụ bưu điện của thư viện kết hợp nguồn lực băng sách nói của mình với nguồn băng 6 rãnh của RNIB chuyển giao. Tất cả những dịch vụ này hình thành cơ bản dịch vụ thư viện truy cập được rộng rãi tại địa phương ở Gloucestershire.

     

    Về phương diện nghiên cứu, chủ trương này được định ra để khám phá khả năng kết hợp nguồn lực địa phương và trên tòan quốc làm mô hình cho các thư viện khác làm theo. Kinh nghiệm để làm chuyện này và đối phó với những yêu cầu cao cấp hơn theo nhu cầu người sử dụng và theo ghi nhận trong các đề tài nghiên cứu (Thư viện quận Gloucestershire, Dịch vụ mỹ thuật và bảo tàng, 1998).


    Back to Chapter index
    17.6.2.4. Thư viện Islington

    Thư viện này đặc biệt quan tâm đến và khai thác khả năng sử dụng CNTT để mở rộng điểm truy cập của người khiếm thị.

     

    Ví dụ truy cập mục lục qua màn hình được phóng lớn và nghe đọc mục lục từ các máy trạm ở thư viện trung tâm và ba thư viện nhánh hay dịch vụ thư viện tại nhà bằng máy tính xách tay. Thư viện trung tâm cũng có thiết bị quét và nhận dạng chữ để chuyển dạng in thành dạng thay thế cùng với các thiết bị máy tính để hỗ trợ tập huấn người sử dụng.

     

    Gần đây hơn là dịch vụ Internet được giới thiệu. Đây là biện pháp thỏa hiệp dùng các trạm truy cập Internet tại thư viện tham khảo trung tâm có những công nghệ hỗ trợ cải tiến như phóng to văn bản hay phát âm. Hỗ trợ điện thoại trực tiếp khi sử dụng dịch vụ do các nhà chuyên gia CNTTVT dành cho người khiếm thị từ Ban tư vấn chuyên biệt. Islington cũng tham gia dự án thử nghiệm của TNAUK đánh giá việc sử dụng báo và tạp chí điện tử.


    Back to Chapter index
    17.6.2.5. Thư viện Manchester

    Là thư viện có bề dày lịch sử thành tích phục vụ người khiếm thị từ lâu. Đó là thư viện đầu tiên  cài bộ đọc Kurzweil và thành lập “đơn vị VI” của thư viện trung tâm và các thư viện vùng ngọai ô chú trọng đến phục vụ đối tượng này.

     

    Những cơ sở này có văn phòng riêng biệt và cung cấp công nghệ hỗ trợ và nhân viên phục vụ bạn đọc khiếm thị. Chú trọng vào việc phục vụ thông tin cho nhu cầu học tập và làm việc của họ. Thư viện cộng đồng được thiết kế để tạo ra nhiều dịch vụ giải trí và coi thư viện như là trung tâm phục hồi cho người già và những người vừa bị khiếm thị. Qua nhiều năm, Manchester đã đúc kết nhiều kinh nghiệm và kiến thức trong lĩnh vực này. Luôn giữ được mối quan hệ giữa các nhân viên tâm huyết, độc giả và những người làm công tác xã hội. Nó cũng bắt nguồn từ chính sách để thực hành những kinh nghiệm. Manchester cũng là thành viên trong ban dự án Testlab truy cập vào mục lục với sự giúp đỡ của người tình nguyện trong suốt hai năm vừa qua.

    Bên cạnh những dịch vụ này, Manchester cũng phát báo và băng sách nói miễn phi.


    Back to Chapter index
    17.6.2.6. Trung tâm Tameside của người khiếm thị

    Trung tâm này là mô hình độc nhất của thư viện nhánh phục vụ trực tiếp cho người khiếm thị. Nó cũng phục vụ như là nguồn lực trung tâm cho các dịch vụ thư viện còn lại.

     

    Có nhiều dịch vụ chuyển dạng và cho mượn khác nhau được triển khai ở đây. Bao gồm:

    a) cho mượn vốn tài liệu chữ lớn, băng sách, băng nhạc cho người lớn và trẻ em và tạp chí in bằng chữ Braille và băng;
    b) nhiều thiết bị chuyển dạng và đọc kể cả dùng công nghệ cao hay bình thường như thiết bị trợ thị, máy tính điều chỉnh được, máy quét đầu ra là âm thanh, và máy in chữ Braille hay chữ lớn.

     

    Có một phòng cách âm dùng để thu băng.

    Trung tâm được độc giả khiếm thị khai thác nhiều, một phần là nhờ vào sự hợp tác với Hội người mù Tameside. Có dịch vụ xe buýt cho người khiếm thị và còn có trung tâm phục hồi tinh thần cho những người mới bị khiếm thị.


    Back to Chapter index
    17.6.2.7. Thư viện công cộng ở Bắc Ailen

    Khi xét về thực hành tốt nhất, thư viện ở Bắc Ailen có thời gian từng được coi là thư viện đi đầu trong việc nhận thức ra được nhu cầu sử dụng thư viện của người khiếm thị. Nhiều đặc điểm phục vụ thực hành tốt đã được thực hiện kể từ thập niên 70. Gồm có dịch vụ cho mượn thiết bị đọc, cam kết dịch vụ với nhà cung ứng quốc gia và cả phí đăng ký sử dụng các dịch vụ của địa phương. Cũng quan hệ tốt với các báo nói do các nhóm tình nguyện thực hiện sao chép nhiều bản và phân phối băng báo nói hàng tuần qua hệ thống tỉnh thành. Dự án ‘Speaking Volumes’ hợp tác với Trung tâm người mù của Bắc Ailen đang mở rộng phạm vi và khả năng truy cập vào các xuất bản của Ailen dưới dạng băng tiếng.

     

    Chương trình chính hiện nay là đang chuẩn bị sử dụng công nghệ hỗ trợ ở mạng lưới 124 thư viện công cộng với chính sách “truy cập được tất cả” và thể hiện mạnh mẽ  việc thực thi pháp luật theo pháp luật bình đẳng của Bắc Ailen và với các điều khỏan của DDA. Được Bộ Văn hóa, nghệ thuật và giải trí tài trợ như là một phần của chương trình phát triển CNTTVT, tất cả các thư viện trong chương trình sẽ phục vụ màn hình phóng lớn và sờ được, bàn phím cải tiến, hệ thống phát thanh, và hệ thống theo dõi để tiện việc chăm sóc những người khiếm thị lại có thêm những khuyết tật khác. Thư viện lớn hơn sẽ phải có máy đọc và in chữ Braille, và máy CCTV. Công nghệ đã được chọn theo sự tư vấn của RNIB để đảm bảo tính tương thích và đồng nhất và RNIB ký hợp đồng để tập huấn việc sử dụng các thiết bị đó.


    Back to Chapter index
    References. Tài liệu tham khảo

    Commission of the European Communities. (1997-98). TESTLAB
    (Hệ thống thử nghiệm trang thiết bị truy cập dịch vụ thư viện dành cho người mù và khiếm thị). www.svb.nl/project/testlab/test_deliv. htm

     

    Craddock, Peter. (1996). Project Libra: cung cấp thiết bị đọc cho người khiếm thị và có khuyết tật đọc ở các TVCC ở Anh. Báo cáo nghiên cứu Thông tin Thư viện số. British Library.

     

    Gloucestershire County Library, Arts and Museums Service. (1998). Dự án NKT Gloucestershire VIP: dịch vụ thư viện cho NKT và đánh giá dự án thử nghiệm giữa Share the Vision, RNIB và thư viện quận, dịch vụ mỹ thuật và bảo tàng. Gloucestershire County Council, Library Arts and Museums. 1988.
    ISBN 1 899917241. 47pp.

     

    Higher Education Funding Council for England, Higher Education Funding Council for Wales. (1999). Hướng dẫn cung cấp dịch vụ cơ bản cho sinh viên khuyết tật ở các trường đại học, báo cáo của HEFCE 99/04. www.hefce.ac.uk/pubs/hefce/1999/99_04.htm

     

    Công nghệ hỗ trợ– N.I. libraries project. Bản tin Thư viện Ai len số 217, March 2002, p1.

     

    Kinnell, Margaret, Yu, Liangzhi, and Creaser, Claire. (2000). Dịch vụ TVCC dành cho NKT: báo cáo cho Ủy ban thông tin Thư viện. Đại học Loughborough, Phòng Thống kê Thông tin Thư viện (LISU).


    Back to Chapter index
     Thư viện Khoa Học Tổng Hợp thành phố Hồ Chí Minh